Nghiên cứu khả năng sử dụng cỏ vetiver (Vetiveria zizanioides L.) để kiểm soát chất lượng môi trường nước ao nuôi tôm tại xã Tam Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. - Pdf 55

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA SINH – MÔI TRƯỜNG
----------

NGUYỄN VĂN TRƯỜNG

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CỎ
VETIVER (VETIVERIA ZIZANIOIDES L.)
ĐỂ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG MÔI
TRƯỜNG NƯỚC AO NUÔI TÔM TẠI XÃ
TAM GIANG, HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH
QUẢNG NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

1


ĐẶT VẤN ĐỀ
Nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam trong những năm gần đây phát triển mạnh
và trở thành ngành sản xuất hàng hóa chủ lực có vị trí quan trọng đối với nền kinh
tế quốc gia [1], [10]. Sự phát triển mạnh mẽ của nghề nuôi trồng thủy sản đã giải
quyết công việc, giúp xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế nâng cao đời sống
nhân dân nhiều địa phương trong cả nước [12]. Bên cạnh những lợi ích trên, sự phát
triển ồ ạt, thiếu quy hoạch tổng thể và cụ thể, thiếu kỹ thuật trong nuôi trồng, sự dư
thừa của thức ăn và việc sử dụng hóa chất trong nuôi trồng đã gây nên sự suy thoái
rừng ngập mặn, mất cân bằng sinh thái và ô nhiễm môi trường nước [3], [13].
Để khắc phục ô nhiễm môi trường nước do các hoạt động nuôi trồng thủy
sản gây ra đã có nhiều biện pháp vật lý, hóa học được sử dụng như bón vôi, nạo vét
ao, pha loãng nước thải từ ao nuôi tôm. Những biện pháp này gây nên những tác



CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Sự ảnh hưởng của nuôi trồng thủy sản tới môi trường nước
1.1.1. Trên thế giới
Nghề nuôi trồng thủy sản trên thế giới đã được bắt đầu từ khoảng 500 năm
trước công nguyên tại Trung Quốc với loài cá được nuôi đầu tiên là cá chép
(Cyprinus carpio). Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi trồng thủy
sản được bắt đầu từ những năm thập niên 1970 với tốc độ tăng trưởng hàng năm về
sản lượng là 3,9%. Hiện nay, nghề nuôi trồng thủy sản vẫn liên tục tăng trưởng
mạnh và tập trung phần lớn vào các nước trong khu vực Châu Á. Năm 2006, tổng
sản lượng nuôi trồng thủy sản thế giới là 51 triệu tấn và sản lượng khai thác là 92
triệu tấn, đạt tốc độ tăng trưởng hàng năm về sản lượng là 36%. Trong đó, Trung
Quốc chiếm 66,7% tổng sản lượng nuôi, các nước Châu Á khác chiếm 22,8%, và
các nước khác còn lại ở Châu Âu, Châu Mỹ, Úc,… chiếm 10,5% [11], [32].
Bên cạnh những lợi ích kinh tế, nuôi trồng thủy sản còn gây ra những vấn đề
môi trường nghiêm trọng. Trong đó, ô nhiễm môi trường nước và suy thoái rừng
ngập mặn là hai vấn đề được các nước nuôi trồng thủy sản chú ý quan tâm [26].
Mức độ ô nhiễm từ nuôi trồng thủy sản phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm của
hệ thống nuôi trồng, vào loài được nuôi và còn phụ thuộc vào chất lượng thức ăn và
cách quản lý [39]. Các chất ô nhiễm chủ yếu là các chất dinh dưỡng dưới dạng nito
và photpho, các chất rắng lơ lửng, các chất hóa học để trị bệnh cho tôm cá và các
chất hóa học để trừ mầm bệnh [33]. Các chất ô nhiễm này tăng dần theo thời gian
nuôi gây biến đổi các thông số môi trường nước như COD, BOD, DO, TSS, nito,
photpho gây ảnh hưởng tới thủy sinh vật nuôi trong hồ [26].
Trung Quốc là quốc gia xuất khẩu thủy sản hàng đầu thế giới. Tuy nhiên,
hiện nay nhiều khu vực nuôi trồng thủy sản đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Hồ
Taihu là một trong ba hồ nước ngọt lớn nhất ở Trung Quốc, với diện tích khoảng
2338 km2. Khu vực phía đông của hồ Taihu được sử dụng cho nuôi trồng thủy sản
với hình thức chủ yếu là nuôi cá lồng. Khu vực đông nam của hồ có thực vật phát

quanh khu vực quanh biển Bohai và biển Yellow một lượng lớn chất ô nhiễm được
tạo ra do hoạt động nuôi tôm và nuôi cá tại các ao quanh khu vực này. Cui et
al.(2005) xác định trong năm 2002 lượng chất ô nhiễm được tạo bởi các hoạt động
nuôi tôm ở Yellow sea và Bohai sea với tổng diện tích là 180833 hm2 là 141,91x109

5


m3 .Trong đó, có 1334,8 tấn nito, 183,8 tấn photpho, 28847,5 tấn BOD được thải ra.
Cũng tại khu vực này năm 2002, lượng nito, photpho, BOD thải vào môi trường do
hoạt động nuôi cá lần lượt là 2082 tấn, 376 tấn và 5056 tấn [42]. Tovar et al.(2002)
xác định, cứ 1 tấn cá được tạo ra có thể thải xuống biển 34,61 kg BOD, 14,25 kg
nitor, 2,57 kg photpho. Hình thức nuôi thủy sản bằng lồng ở biển khá phổ biển ở
Trung Quốc. Nhưng hệ thông lớn nuôi trồng thủy sản bằng lồng gây gia tăng nhanh
chóng lượng chất hữu cơ và chất dinh dưỡng giải phóng vào trong môi trường nước
khu vực ven bờ. Hàm lượng chất hữu cở trong bùn ở khu vực các lồng nuôi tai
Dapeng’ao Bay (dry weight) tăng từ 1,56% đến 3,05% trung bình là 2,57 % , và rõ
ràng cao hơn giá trị bình thường ở trong bùn dọc theo nước ven bở biển Trung
Quốc (1,0%-1,5% lần) và vượt tiêu chuẩn quốc gia (2,0%) [44], [33].
Chất lượng và khối lượng nước thải ra từ các trang trại nuôi tôm biển đã
được nghiên cứu toàn diện ở Thái Lan. Năm 1993, Bộ Thủy Sản (Songsangjinda
and Tunvilai 1993) đã công bố tải lượng ô nhiễm từ một hoạt động nuôi tôm hùm ở
hệ thống nuôi tôm biển khơi tại một tỉnh phía nam của Thái Lan, gồm có tổng lượng
nitrogen 2,02kg/ha/ngày, tổng lượng chất rắn lơ lửng là 532,2kg/ha/ngày. Những
nghiên cứu ở Chantaburi provin (eastern part of Thailand) được chỉ đạo bởi
Tookwinas et al 1995. Lượng nước thải ra là 67400 tấn/ha/mùa, với tổng lượng
nitrogen là 5,1kg/ha/mùa, tổng lượng cacbon hữu cơ là 89,6 kg/ha/mùa và BOD là
1821 kg/ha/mùa. Với lượng chất thải lớn đã gây ra ô nhiễm nhiều thủy vực trong
tỉnh Chantaburi [44]. Cũng theo báo cáo của Tookvinas et al, (1995), khu vực
Kungkrabaen Bay, tỉnh Chantaburi lượng nước thải từ các trang trại nuôi tôm thả

[36].
Tại một số quốc gia Mỹ Latin, nghiên cứu tác động môi trường của nuôi tôm
công nghiệp đã được chú ý ở Ecuador và Honduras. Tại hai quốc gia này, những
nghiên cứu đã chứng minh hầu hết những vấn đề môi trường quan trọng đều liên
quan tới sự suy giảm của các hệ sinh thái rừng ngập mặn, ô nhiễm môi trường nước,
sự suy giảm của chất lượng nước, sự biến đổi của các hệ sinh thái ven bờ. Nguyên
nhân chính cho các vấn đề trên chủ yếu liên quan tới các hoạt động nuôi trồng thủy
sản [46].
Tại Mexico, những rắc rối về môi trường liên quan với sự phát triển của công
nghiệp là vấn đề nổi cộm ở Sinaloa, Sonora, và Nayarit, nơi mà tập trung cao nhất

7


các trang trại tôm. Sự phát triển nhanh chóng số lượng trang trại tôm đang gây tác
động tới các hệ sinh thái ven bờ và cuộc sống của các cộng đồng nông thôn ở đây
phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên được cung cấp bởi các hệ sinh thái này [37].
Không chỉ có ô nhiễm môi trường nước, nuôi trồng thủy sản còn là nguyên
nhân làm suy thoái nghiêm trọng nhiều hệ sinh thái rừng ngập mặn. Trong lịch sử,
ước tính hơn một nửa diện tích rừng ngập mặn đã bị phá hủy [47]. Các rừng ngập
mặn ban đầu đã được sử dụng cho các trang trại tôm trong các thập kỷ, nhưng với
sự mở rộng việc nuôi tôm thương mại và việc hoàn thành phá hủy các cánh rừng
theo nhu cầu, dẫn đến các hệ sinh thái ngập mặn nhanh chóng bị mất. Theo báo cáo
của Valiela et al. 2001 thì sự chuyển đổi sang nuôi tôm là nguyên nhân cho 38%
tổng diện tích rừng ngập mặn bị mất và việc nuôi tôm thu được lợi nhuận cao là
nguyên nhân số một của sự mất rừng ngập mặn [48]. Tại Thái Lan ước tính 83,7%
diện tích rừng ngập mặn bị mất từ năm 1975 đến 2003 [49].
Những cánh rừng ngập mặn bao phủ vùng Chokoria Sundarbun của
Bangladesh đã bị chặt phá từ 7500 ha vào năm 1976 xuống còn 973 ha vào năm
1988, phần lớn số rừng bị chặt phá được sử dụng để phát triển các trang trại nuôi

ngập mặn trên thế giới. Trước thực trạng đó, việc nghiên cứu sử dụng thực vật cải
tạo môi trường các ao, hồ nuôi trồng thủy sản có ý nghĩa lớn góp phần phát triển
nuôi trồng thủy sản bền vững.
1.1.2. Tại Việt Nam
Việt Nam là quốc gia có sản lượng thủy sản lớn thứ 3 trên thế giới (sau
Trung Quốc và Ấn Độ). Có tốc độ tăng trưởng bình quân về sản lượng thủy sản
nuôi đứng thứ 2 trên thế giới (sau Myanmar). Tổng diện tích nuôi trồng thủy sản cả
nước năm 2007 đạt khoảng 1008 nghìn ha, sản lượng nuôi trồng thủy sản năm 2007
đạt khoảng 2,1 triệu tấn, giá trị xuất khẩu toàn ngành năm 2007 đạt 3,8 tỉ USD trong
đó nuôi trồng thủy sản chiếm 60%. Đối tượng nuôi đa dạng, tôm sú là đối tượng
nuôi chủ đạo đối với các loài nuôi mặn, lợ; cá tra là đối tượng xuất khẩu chính đối
với nhóm loài thủy sản nước ngọt. Nuôi trồng thủy sản chủ yếu tập trung tại khu
vực ĐBSCL (chiếm 62% diện tích nuôi trồng thủy sản toàn quốc, vùng đồng bằng
sông hồng chiếm 10,1%, miền núi phía bắc chiếm 9,1%, bắc trung bộ 5,9%, nam
trung bộ 2,9%, tây nghiên 1,4% và đông nam bộ 8,6% [11].

9


Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nuôi trồng thủy sản thì vấn đề ô nhiễm
môi trường nước và suy thoái các cánh rừng ngập măn ngày càng trở nên nghiêm
trọng hơn.
Quá trình ô nhiễm nước chủ yếu do lượng thức ăn thừa mà các thủy sinh vật
nuôi không thể sử dụng hết [34]. Theo thời gian nuôi, lượng thức ăn dư thừa cũng
tăng theo và càng gần thời điểm thu hoạch mức độ ô nhiễm nước càng cao. Một số
kết quả nghiên cứu cho thấy: chỉ có 17% trọng lượng khô của thức ăn cung cấp cho
ao nuôi được chuyển thành sinh khối, phần còn lại được thải ra môi trường dưới
dạng phân và chất hữu cơ dư thừa thối rữa vào môi trường. Đối với các ao nuôi
công nghiệp chất thải trong ao có thể chứa đến trên 45% nitrogen và 22% là các
chất hữu cơ khác. Các loại chất thải chứa nitơ và photpho ở hàm lượng cao gây nên

ha); Duy Xuyên (22 ha); Hội An (15 ha) và tỉnh Quảng Ngãi do bệnh đỏ lá và bệnh
phân trắng xuất hiện làm thiệt hại với tổng diện tích lên đến 33 ha thuộc vùng nuôi
Đức Phổ và Mộ Đức. Ngoài ra, tại Ninh Thuận bệnh đốm trắng, đỏ lá, đường ruột
làm thiệt hại với tổng diện tích lên đến 94,5 ha thuộc vùng nuôi tôm Đầm Nại, Ninh
Phước và Thuận Nam. Tại Phú Yên một số cơ sở sản xuất giống xuất hiện bệnh
đường ruột và ký sinh trùng [5].
Hoạt động nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam không chỉ gây nên ô nhiễm môi
trường mà còn là nguyên nhân chính làm cho nhiều hệ sinh thái rừng ngập mặn bị
suy thoái nghiêm trọng.
Để phát triển nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm, đã có hơn 80% rừng
ngập mặn tại Việt Nam bị mất trong hơn 50 năm. Hiện nay, nuôi tôm là nguyên
nhân chính đe dọa các cánh rừng ngập mặn còn lại [59].
Do nhu cầu về tôm xuất khẩu rất lớn trong lúc sản lượng đánh bắt giảm sút
vào cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90, hầu hết vùng ven biển, cửa sông nước ta, nhân
dân và các cơ quan đã phá các khu rừng ngập mặn xanh tốt như Cà Mau, Sóc Trăng
và các rừng phòng hộ tự nhiên hoặc trồng (Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh
Bình, Khánh Hòa..) để là đầm nuôi tôm quảng canh thô sơ. Ở nhiều đại phương
rừng ngập mặn đã biến mất chỉ còn lại các đầm nuôi tôm và đất hoang hóa [23].
Tại ĐBSCL rừng ngập mặn tập trung tại các tỉnh Cà Mau, Trà Vinh, Bến
Tre, Bạc Liêu. Năm 1950 tổng diện tích rừng ngập mặn tại ĐBSCL là 250000 ha
đến năm 2002 chỉ còn lại 82369 ha. Chỉ trong vòng hơn 50 năm diện tích rừng ngập
11


mặn tại khu vực này giảm tới 80,4%. Nguyên nhân chính của sự suy giảm đó là do
nghề nuôi tôm nước lợ vùng cửu sông ven biển mang lại lợi nhuận cao nên nghề
này ở ĐBSCL phát triển mạnh, kéo theo diện tích rừng ngập mặn ngày càng bị thu
hẹp [23].
Tỉnh Quảng Nam có hơn 4000 ha diện tích rừng ngập mặn, bãi triều ven biển
và có sự phân bố của các cây đại diện rừng ngập mặn nhiệt đới đó là: dừa nước,

Nước thải từ bãi rác là một vấn đề rất được quan tâm ở các thành phố lớn, vì
nước thải thấm rỉ từ bãi rác thường chứa nhiều kim loại nặng và các chất ô nhiễm
hữu cơ và vô cơ khác với nồng độ rất cao. Ở Ôxtralia và Trung Quốc, người ta đã
giải quyết vấn đề này bằng cách trồng cỏ vetiver trên các bãi rác và lấy luôn nước
thải thấm rỉ để tưới. Kết quả thu được; cỏ vetiver phát triển tốt đến mức thậm chí
trong mùa khô không có đủ nước rỉ rác để tưới. Trồng 3,5ha cỏ vetiver có thể xử lý
4 triệu lít mỗi tháng trong mùa hè và 2 triệu lít mỗi tháng trong mùa đông [63].
Năm 1998, tỉnh Quảng Đông có tới 1600 trại nuôi lợn, trong đó hơn 130 trại
sản xuất hơn 10.000 con lợn thịt mỗi năm. Mỗi trại lợn này xả ra 100-150 tấn nước
thải mỗi ngày, kể cả phân lợn tập trung từ các lò mổ, chứa rất nhiều dưỡng chất.
Người ta đã tiến hành thử nghiệm cỏ vetiver cùng với 11 giống cỏ khác để xem
giống nào thích hợp nhất cho vùng đất ngập nước. Kết quả cho thấy, những giống
cỏ có hiệu quả nhất là vetiver, Cyperus alternifolius và Cyperus exaltatus. Tuy
nhiên, tiếp tục thử nghiệm cho thấy giống Cyperus exaltatus tới mùa thu thì bị tàn
lụi, chuyển sang trạng thái ngủ đông cho tới mùa xuân năm sau mới mọc lại, trong
khi vấn đề xử lý nước thải đòi hỏi phải thực hiện quanh năm. Do vậy, chỉ có cỏ
vetiver và Cyperus alternifolius là thích hợp trồng ở đất ngập nước để xử lý nước
thải từ các trại nuôi lợn [64]. Cũng ở Trung Quốc, nghiên cứu của Liao et al., 2003
cho thấy chất dinh dưỡng và kim loại nặng thải ra từ các trại lợn là những chất chủ
yếu nhất gây ô nhiễm nguồn nước, với nồng độ N, P và cả Cu, Zn vốn rất cao trong
thức ăn tăng trọng. Kết quả thử nghiệm cho thấy, cỏ Vetiver có khả năng làm sạch
nước thải rất cao. Nó có thể hấp thụ và lọc Cu và Zn tới trên 90%; As và N tới trên
75%; Pb trong khoảng 30-71% và P trong khoảng 15-58% [64].
Xử lý nước thải công nghiệp là một vấn đề lớn của nhiều quốc gia. Ở
Ôxtralia, người ta đã xử lý rất hiệu quả khối lượng lớn nước thải công nghiệp bằng

13


cỏ vetiver, tới 1,4 triệu lít nước thải/ngày tại một nhà máy chế biến lương thực và



zizanioides L.): một giải pháp sinh học cho xử lý nước thải” của Đại học Nông Lâm
thành phố Hồ Chí Minh cho thấy khả năng xử lý cao các chất ô nhiễm ở nước thải
trại chăn nuôi Phú Sơn. Thí nghiệm tiến hành trồng cỏ vetiver dạng thủy canh trong
nước thải tại trại heo Phú Sơn, sau 16 ngày thí nghiệm kết quả thu được: Cỏ vetiver
có khả năng xử lý nước thải tốt qua việc làm giảm BOD (159mgO2/l) 79% so với
50% đối chứng không trồng cỏ và hạn chế quá trình phát triển của tảo trong quá
trình xử lý, ngoài ra cỏ vetiver đạt được hiệu suất xử lý khá cao đến 91% đối với
nitrogen và 85% đối với phosphorus trong nước thải nuôi heo [28]. Một đề tài
nghiên cứu khác của Nguyễn Tuấn Phong, Dương Thúy Hoa (2004), “Nghiên cứu
khả năng xử lý nước thải chăn nuôi heo bằng cỏ vetiver và lục bình, xây dựng mô
hình xử lý nước thải ô nhiễm chất hữu cơ từ các trại chăn nuôi”, kết quả cho thấy
cỏ vetiver sống và sinh trưởng tốt trong môi trường nước thải đặc trưng bởi các chỉ
tiêu vể sinh khối của cỏ: Khối lượng tươi (tăng 96%), chiều dài lá (tăng 135%),
chiều dài rễ tăng (85%), số chồi (tăng 263, 84%), khối lượng khô (tăng 92%). Bên
cạnh đó, mô hình cỏ vetiver có hiệu suất xử lý BOD5 là 91,04%, lân tổng là
69,44%, đạm tổng là 69,34%.[17]
Cỏ vetiver không chỉ xử lý hiệu quả các chất ô nhiễm trong nước thải chăn
nuôi heo mà còn xử lý tốt các chất ô nhiễm trong nước thải từ bãi rác. Phương pháp
xử lý nước rỉ rác tại ĐBSCL cũ bằng các loại cây thực vật như dầu mè, cỏ vetiver,
cỏ voi và cỏ signal được TS Ngô Hoàng Văn và cs nghiên cứu thành công, áp dụng
thí điểm để xử lý nước rác BCL Đông Thạnh TP Hồ Chí Minh. Đây là phương pháp
xử lý sinh học, trong môi trường tự nhiên, không gây ô nhiễm môi trường. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, nguồn nước rỉ rác đậm đặc có nồng độ các chất ô nhiễm cao
sau khi được pha loãng với tỷ lệ 10% để tưới cho khu trồng cỏ Vetiver gần 100m2,
khu trồng dầu mè khoảng 150m2, kết quả cho thấy NH3, phosphate và mùi hôi đều
được xử lý rất tốt và đơn giản. Theo đánh giá của các chuyên gia, có thể áp dụng kết
nghiên cứu này, nhân rộng mô hình để xử lý nước rác tại các bãi chôn lấp cũ.[19]
Ứng dụng cỏ vetiver vào xử lý nước thải công nghiệp là vấn đề mới mẻ tại

Phong trào nuôi trồng thủy sản bao gồm nuôi tôm thịt, sản xuất tôm giống và
nuôi cá nước ngọt có xu hướng tăng về giá trị và sản lượng. Tốc độ tăng trưởng sản
lượng thủy sản trong 5 năm (2006-2010) đạt: 9,34% [24].
16


1.3.2. Những tác động của nuôi trồng thủy sản tới môi trường
Bên cạnh những thành tựu quan trọng trên, nghề nuôi trồng thủy sản huyện
Núi Thành vẫn còn một số vấn đề đang đặt ra cần phải giải quyết tạo động lực cho
phát triển ngành Thủy Sản thành một ngành kinh tế mũi nhọn của huyện.
Bất cập về mặt quản lý, quy hoạch: Có rất nhiều vùng nuôi trồng thủy sản tại
Núi Thành phát triển một cách tự phát thiếu quy hoạch tổng thể lẫn cụ thể. Vì vây,
hầu hết các hộ nuôi trồng thủy sản ở đây đều không có hệ thống xử lý môi trường
trong quá trình nuôi và sau khi nuôi dẫn đến rất nhiều nơi xảy ra ô nhiễm môi
trường, dịch bệnh gây thiệt hại lớn cho các hộ nuôi. Việc đào ao lấn sông, phá rừng
ngập mặn gây nên suy thoái nghiêm trọng nhiều hệ sinh thái thủy vực.
Bất cập về môi trường: Do lợi nhuận cao nên hầu hết các hộ nuôi tôm đều
chỉ chú ý vào năng suất mà không có hệ thống xử lý môi trường và việc đào ao, lấn
sống gây nên những vấn đề môi trường như ô nhiễm nước, dịch bệnh và suy thoái
rừng ngập măn.
Bất cập về khoa học kỹ thuật: Do phát triển tự phát và khoa học kỹ thuật còn
kém so với các nước trong khu vực nên việc kiểm soát dịch bệnh, kiểm tra chất
lượng giống, thiết kế ao nuôi, xử lý ô nhiễm môi trường, quy trình kỹ thuật nuôi còn
kém. Các hộ nuôi trồng thủy sản ở đây chủ yếu dựa vào kinh nghiệm nên yếu tố rủi
ro cao. Đây là những bất cập chính mà ngành nuôi trông thủy sản huyện Núi Thành
cần có biện pháp giải quyết để phát triển bền vững các vùng nuôi tôm trong huyện
[24].
1.3.3. Định hướng phát triển nuôi trồng thủy sản 2010-2020
Đối với vùng nước ngọt: Ổ định diện tích nuôi các loại cá truyền thống để
tăng nguồn thực phẩm, tăng nguồn thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống cho

Cỏ vetiver (Vetiveria zizanioides L.) còn gọi là cỏ Hương lau, cỏ Hương bài
có tên khoa học là Vetiveria zizanioides (Linn.) Nash, mới đổi thành Chrysopogon
zizanioides (Linn.) Nash. Cỏ thuộc lớp: Poaceae (Gramineae), phân lớp: Panicoidae,
bộ: Andropogoneae.

Hình 2.1. Cỏ vetiver (Vetiveria zizanioides L.)
Nước trong ao nuôi tôm và nước tại kênh dẫn vào và ra ao nuôi tôm xã Tam
Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, đây là khu vực trong những năm gần
đây thường xuyên xảy ra ô nhiễm và dịch bệnh gây chết tôm hàng loạt.
2.2. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được tiến hành tại một số ao nuôi tôm xã Tam Giang,
huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

19


Hình 2.2. Khu vực nghiên cứu thuộc xã Tam Giang, huyện Núi Thành
2.3. Nội dung nghiên cứu
2.3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu khả năng sử dụng cỏ vetiver cải tạo môi trường nước các ao nuôi
tôm góp phần phát triển bền vững vùng nuôi trồng thủy sản huyện Núi Thành, tỉnh
Quảng Nam
2.3.2. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu khả năng tăng trưởng và xử lý nước nuôi tôm của cỏ vetiver
trong mô hình thí nghiệm
- Nghiên cứu khả năng tăng trưởng của cỏ vetiver ngoài thực địa
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp nghiên cứu ngoài thực địa
Trồng cỏ vetiver tại môi trường nước ao nuôi tôm, kênh dẫn nước vào và ra
ao nuôi tôm, trên bờ ao nuôi tôm.

* Bố trí thí ngiệm xác định sự sinh trưởng, phát triển của cỏ vetiver ngoài
thực đia
Tiến hành trồng cỏ trên giá thể xốp, thả dưới dạng thủy canh tại trong ao
nuôi tôm (T-KV2), kênh dẫn nước vào và ra ao nuôi tôm (T-KV1) và theo dõi sự
tăng trưởng của cỏ trong 1 tháng. Trồng cỏ trên bờ ao nuôi tôm và theo dõi sự tăng
trưởng của cỏ trong 3 tháng.
2.4.1.2. Xác định khả năng sinh trưởng, phát triển của cỏ vetiver
* Xác định khả năng sinh trưởng, phát triển của cỏ vetiver trong mô hình thí
nghiệm
Cứ sau 3 ngày tiến hành tháo hết nước cũ và thay bằng nước mới lấy tại khu
vực tương ứng với các lô ban đầu. Sau 15 ngày, 30 ngày tiến hành đo các chỉ tiêu
tăng trưởng (chiều dài rễ, trọng lượng tươi của lá và rễ, số nhánh).
* Xác định khả năng sinh trưởng, phát triển của cỏ vetiver ngoài thực địa
22


Sau thời gian 15 ngày, 30 ngày đối với cỏ trồng tại T-KV1 và T-KV2; 30
ngày, 60 ngày, 90 ngày đối với cỏ trồng trên bờ ao nuôi tôm tiến hành đo lại các chỉ
tiêu tăng trưởng của cỏ (chiều dài rễ, trọng lượng tươi của lá và rễ, số nhánh) của cỏ
vetiver.
2.4.1.3. Xác định khả năng xử lý của cỏ vetiver
Cỏ trồng được 15 ngày, tháo hết nước ra và tiến hành các thực nghiệm sau:
Thực nghiệm 1: Cho vào mỗi lô 80 lít nước (20lít/ thùng) lấy tại khu vực
tương ứng với dãy thùng, sau khoảng thời gian 1 ngày tháo hết nước
Thực nghiệm 2 và 3 tiến hành giống với thực nghiệm 1 nhưng thời gian lưu
nước là 2 ngày và 3 ngày.
2.4.2. Phân tích trong phòng thí nghiệm
2.4.2.1. Phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước
Tiến hành phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước đầu vào và đầu ra của nước
lấy làm thí nghiệm.

Ban đầu
9,79 ± 4,34a
9,79 ± 4,34
b
15 ngày
17,00 ± 4,38
18,30 ± 3,44
30 ngày
18,21 ± 5,24bc
18,83 ± 4,47
Chiều dài rễ (cm)
Ban đầu
24,50 ± 8.70a
24,50 ± 8.70
15 ngày
30,33 ± 12.15b
32,33 ± 14.56
bc
30 ngày
32,14 ± 5.24
33,83 ± 6.84
Trọng lượng tươi của rễ (g)
Ban đầu
5,27 ± 0,51a
5,27 ± 0,51
b
15 ngày
17,38 ± 12,10
16,73 ± 11,27
30 ngày

tại các khu vực theo giai đoạn nghiên cứu
Hình 3.1 thể hiện, sau 1 tháng tiến hành thí nghiệm, tại T-KV1, T-KV2 trọng
lượng tươi của lá tăng tương ứng là 98,15% và 92,34% so với ban đầu. Cùng với
kết quả phân tích phương sai (ANOVA), với α = 0,05 cho thấy có sự sại khác có ý
nghĩa về trọng lượng tươi của lá giữa các giai đoạn nghiên cứu, điều này chứng tỏ
cỏ vetiver có sự tăng trưởng cao về trọng lượng lá trong các giai đoạn nghiên cứu.
Đây là dấu hiệu tốt thể hiện sự thích nghi và sinh trưởng bình thường của cỏ ngoài
thực địa.
3.1.1.2. Chiều dài rễ
Kết quả xác định chiều dài rễ cỏ vetiver cho thấy chiều dài rễ có sự tăng
trưởng đáng kể so với ban đầu (hình 3.2).

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status