Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại thành phố Đà Nẵng. - Pdf 55

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
KHOA LỊCH SỬ
----------

PHẠM THỊ THỦY

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU
LỊCH TÂM LINH TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

1


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài......................................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ......................................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 3
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................................ 3
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu .............................................................. 4
6. Đóng góp của đề tài .................................................................................................... 4
7. Cấu trúc của đề tài ..................................................................................................... 5

NỘI DUNG ............................................................................................................ 6
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG .................................................................... 6
1.1. Một số khái niệm về du lịch .................................................................................... 6
1.1.1. Du lịch .................................................................................................................... 6
1.1.2. Khách du lịch ......................................................................................................... 6
1.2. Du lịch tâm linh ....................................................................................................... 7

2.2.3.3. Đình làng ............................................................................................................. 31
2.2.4. Hệ thống các di tích lịch sử cách mạng ............................................................... 34
2.2.5.Các lễ hội tôn giáo và lễ hội dân gian ở Đà Nẵng ................................................ 36
2.2.6. Các sản phẩm phi vật chất khác ........................................................................... 41
2.3. Thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại thành phố Đà Nẵng.......................... 44
2.3.1. Việc tổ chức tuyến điểm du lịch tâm linh ............................................................. 44
2.3.2. Lượng khách ......................................................................................................... 45
2.3.3. Doanh thu .............................................................................................................. 47
2.3.4. Thời gian lưu trú ................................................................................................... 48
2.3.5. Cơ sở vật chất du lịch ............................................................................................ 49
2.3.6. Nguồn nhân lực phục vụ du lịch .......................................................................... 50
2.3.7. Tình hình đầu tư, xúc tiến, quảng bá ................................................................... 52
CHƯƠNG III: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TÂM LINH TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ...................................................................... 53
3.1. Định hướng phát triển du lịch tâm linh tại thành phố Đà Nẵng ........................ 53
3.2. Giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại thành phố Đà Nẵng ............................ 55
3.2.1. Tăng cường công tác quản lý, quy hoạch phát triển du lịch tâm linh ................ 55
3.2.2. Về công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ................................................. 56
3.2.3. Đẩy mạnh xúc tiến thị trường, quảng bá hình ảnh ............................................ 57

3


3.2.4. Đầu tư cơ sở vật chất phục vụ du lịch tâm linh .................................................. 59
3.2.5. Giải pháp về phát triển các sản phẩm du lịch tâm linh ....................................... 59
3.2.6. Giải pháp về hợp tác, liên kết ................................................................................ 60

KẾT LUẬN............................................................................................................ 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 63


Nẵng vẫn chưa thực sự phát triển đúng tiềm năng. Vì vậy, việc làm rõ, nghiên cứu thực

5


trạng và gợi ý một số giải pháp nhằm phát triển du lịch tâm linh của thành phố Đà
Nẵng là vấn đề cần thiết và cấp bách hiện nay. Nó giúp chúng ta có cái nhìn đầy đủ và
chính xác về loại hình du lịch này. Điều này có ý nghĩa cả về phương diện lý luận lẫn
thực tiễn. Nó giúp cho du lịch tâm linh TP. Đà Nẵng đạt được những thành tựu mới,
khắc phục những hạn chế, nhanh chóng đưa loại hình du lịch này phát triển đúng với
tiềm năng và trở thành thế mạnh du lịch của địa phương, góp phần vào sự phát triển
chung của toàn ngành.
Xuất phát từ ý nghĩa khoa học và thực tế nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài “ Thực
trạng và giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại thành phố Đà Nẵng” làm khóa luận
tốt nghiệp của mình.
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Trên thế giới, du lịch tâm linh đã phát triển trong khi ở Việt Nam chỉ mới khai thác
trong những năm gần đây. Nên vấn đề nghiên cứu khảo sát về nó còn mang tính sơ
lược, chưa được quan tâm đúng mức. Hiện nay, vấn đề này đang được đưa vào quy
hoạch du lịch ở một số địa phương có những tiềm năng và giá trị để phát triển.
Trong lịch sử, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về du lịch Đà Nẵng được thể hiện qua
những cuốn sách như:
Những cuốn sách “Quảng Nam Đà Nẵng” của Dương Văn Tâm; “Địa lý du lịch”
của Nguyễn Thị Minh Tuệ; “Non nước Việt Nam”, “Việt Nam 63 tỉnh thành và các địa
danh du lịch”…đã giới thiệu khái quát các điểm như Ngũ Hành Sơn, Bà Nà, Sơn Trà
dưới cái nhìn về địa danh du lịch thành phố Đà Nẵng.
Cuốn “Đà Nẵng bước vào thế kỷ 21”, “Lần giở lịch sử - văn hóa miền Thuận Quảng” cũng như đề tài khóa luận “Bước đầu tìm hiểu một số lễ hội dân gian ở Đà
Nẵng” có đề cập đến lễ hội Quán Thế Âm ở chùa Linh Ứng (Ngũ Hành Sơn) và các lễ
hội dân gian, truyền thống ở địa phương.
Đặc biệt, trong “Tuyển tập những công trình nghiên cứu khoa học khoa lịch sử” của

Mục đích nghiên cứu: Từ việc tìm hiểu, phân tích, đánh giá tiềm năng và thực trạng
phát triển du lịch tâm linh ở Đà Nẵng để đưa ra những giải pháp phù hợp, tương xứng
nhằm góp phần vào sự phát triển loại hình du lịch tâm linh cả nước nói chung và của
địa phương nói riêng.

7


Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu về hệ thống tri thức lý luận về du lịch và du lịch tâm linh, từ cơ sở lý
luận chung đó để đi đến tìm hiểu thực tiễn phát triển du lịch tâm linh Đà Nẵng nói
riêng và du lịch tâm linh cả nước nói chung.
- Khai thác các tiềm năng và đánh giá hiện trạng phát triển du lich tâm linh Đà
Nẵng
- Từ thực tế đó định hướng và đưa ra những giải pháp phát triển lọa hình này nhằm
hoàn thiện hơn trong thời gian sắp tới cũng như tương lai
5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn tư liệu
Đề tài của tôi được hoàn thành nhờ việc sử dụng rất nhiều nguồn tài liệu khác nhau.
Cụ thể là:
Tài liệu thành văn: như sách chuyên ngành và tài liệu liên quan; các bài khóa luận
tốt nghiệp; các bài viết trên sách báo, tạp chí, văn bản và những giáo trình…
Tài liệu thực địa: như hỏi ý kiến của khách tại các điểm du lịch, thu thập ý kiến và
thông tin từ người dân địa phương cũng như chính quyền sở tại, các nhà quản lý các
điểm du lịch trên địa bàn thành phố.
Tài liệu điện tử: các bài viết, các bài đánh giá trên các trang thông tin điện tử về vấn
đề liên quan đến du lịch Đà Nẵng; các trang web của các công ty du lịch.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành khóa luận một cách có hiệu quả nhất, các phương pháp mà tôi sử
dụng chủ yếu là:

tiềm năng để khai thác một cách có hiệu quả nhất. Từ đó có thể nhìn nhận du lịch tâm
linh là một loại hình đặc trưng, ưu thế trong việc phát triển ngành du lịch Đà Nẵng.
Thông qua đây, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về du lịch tâm linh, kết quả của đề tài
góp phần giới thiệu, quảng bá hình ảnh loại hình du lịch này Đà Nẵng.
Đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm, nghiên cứu trong học
tập cũng như trong kinh doanh du lịch, tổ chức thiết kế tour.
7. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và đề xuất, mục lục và tài liệu tham khảo thì
phần nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận chung
Chương II: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tâm linh tại TP.Đà Nẵng
Chương III: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tâm linh tại TP.Đà Nẵng

9


NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG
1.1. Một số khái niệm về du lịch
1.1.1. Du lịch
Thuật ngữ du lịch: bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “Tonus” nghĩa là đi một vòng. Thuật
ngữ này được Latinh hóa thành Turnur và sau đó thành Tour (tiếng Pháp) nghĩa là đi
vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn Touriste là người đi dạo chơi. Theo Robert Languar
(1980) từ Tourism (du lịch) lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh vào khoảng năm
1800 và được quốc tế hóa nên nhiều nước sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa.
Du lịch là một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến ở các nước phát triển cũng như
đang phát triển, trong đó có Việt nam.
Theo điều 10, Pháp lệnh du lịch Việt Nam: “Du lịch là hoạt động của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí,
nghỉ dưỡng trong khoảng thời gian nhất định".

Còn bà Huỳnh Long Ngọc Diệp, Giám đốc Công ty Ngọc Việt Travel phát biểu: Du
lịch hành hương tâm linh là những hành trình đến những địa điểm thiêng liêng, nơi ấy
người hành hương không chỉ đạt được sự gia tăng về niềm tin và chất lượng cho cuộc
sống tâm linh của mình mà còn tăng cường sợi dây gắn bó, kết nối mối quan hệ cá
nhân với những người đồng đạo.
Cựu Tổng thống Ấn-độ, tiến sĩ APJ Abdul Kalam đã có phân biệt rạch ròi giữa du
lịch thông thường với du lịch tâm linh:“Du lịch tâm linh hoàn toàn khác với việc tham
quan các địa danh và ngắm nhìn các chiều kích vật lý. Du lịch tâm linh có nghĩa là
thăm viếng trái tim và tâm trí của những bậc hiền triết tại nhiều địa điểm khác nhau và
nhất là những nơi có môi trường văn minh phong phú”.
Hiện nay, du lịch tâm linh đã thực sự là một loại hình du lịch đặc thù. Nó thỏa mãn
các nhu cầu: thưởng ngoạn, thư giãn và tâm linh. Nó giải tỏa mọi căng thẳng, chuyển
hóa mọi phiền não trong thân tâm thông qua chuyến đi thiêng liêng đến những địa
điểm thiêng liêng mà người hành hương mong muốn.
1.2.2. Đặc điểm của du lịch tâm linh
Với mỗi loại hình phát triển đều có những đặc điểm, đặc trung riêng của nó. Với
loại hình du lịch tâm linh vốn xuất phát từ những hoạt động của sinh hoạt đời sống tâm

11


linh kết hợp với du lịch để đạt được những giá trị cao nhất. Đời sống tâm linh ấy chính
là niềm tin tôn giáo, thờ cúng tổ tiên và các vị anh hùng dân tộc.... Đó cũng chính là
một đặc điểm dễ nhận thấy của loại hình này. Du lịch tâm linh là đến những di tích,
thắng tích, Phật tự - nơi các vị Đức Phật, các anh hùng, những vị cứu thế thượng tọa;
những lễ hội mang yếu tố tâm linh tín ngưỡng để hòa mình vào cuộc sống tịnh tâm,
thanh nhàn, giải thoát...
Thêm nữa, Du lịch tâm linh luôn gắn với đức tin. Những người khi đến các điểm,
thắng tích đều thể hiện lòng thành kín, tôn trọng, họ đặt vào đó những lời nguyện ước,
cầu mong cho cuộc sống yên ổn, thanh bình, gặp nhiều may mắn. Và họ tin rằng, có

giống như những người con của đức Phật. Họ giúp nhau tu tập, giúp đỡ lẫn nhau trong
cuộc sống, cả vật chất lẫn tinh thần sau khi trở về đời thường.
Sau mỗi chuyến đi các thành viên thường sống tốt hơn, thâm tâm được thanh lọc
hơn. Cuộc sống của khách hành hương sau đó trở nên an lạc và có ý nghĩa hơn.
Việc du lịch hành hương tâm linh đến những ngôi chùa vừa góp phần bảo vệ văn
hóa truyền thống vừa góp phần hoằng pháp thông qua du lịch hành hương.
Du lịch tâm linh mang ý nghĩa giáo dục khá sâu sắc, bằng những triết lý tôn giáo,
những khóa tu ngồi thiền, tụng kinh, pháp đàm, pháp thoại…khiến cho tâm hồn con
người đạt trạng thái giải thoát, tịnh tâm, thoát khỏi trần tục, loại bỏ cái ác, hướng tới
cái thiện.
Du lịch tâm linh đóng vai trò quan trọng trong việc nuôi lớn sự hiểu biết truyền
thống tâm linh của tôn giáo khác và thiết lập sự hoà hợp liên tôn.
Ngoài ra, du lịch tâm linh có thể ở một chừng mực nào đó giúp cho con người thoát
khỏi bệnh tật, tạo khát vọng sống, vươn lên cuộc sống đói nghèo.
Đối với ngành du lịch và các tổ chức kinh doanh du lịch :
Loại hình du lịch tâm linh được khai thác giúp ngành du lịch, các công ty lữ hành,
các cơ sở lưu trú và các hãng vận chuyển thu được hiệu quả kinh tế cao; phát triển đội
ngũ nhân lực; nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các sản phẩm du lịch; xây dựng
được danh tiếng và thương hiệu. Ngoài ra, loại hình du lịch tâm linh còn giúp ngành du
lịch thu hút được nhiều dự án đầu tư, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng, tăng số lượt
khách du lịch nội địa cũng như khách quốc tế. Đồng thời tạo thêm nhiều công ăn việc
làm cho người dân.

13


Bên cạnh đó, du lịch tâm linh còn mang ý nghĩa trong việc trao đổi quan điểm và
kinh nghiệm, thiết lập tình hữu nghị, hoà hợp, đoàn kết giữa các pháp lữ trên khắp thế
giới. . .
1.2.3.4. Tài nguyên du lịch tâm linh

Đặc biệt, Đà Nẵng còn là trung điểm của bốn di sản thế giới miền Trung: Động Phong
Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình), cố đô Huế (Thừa Thiên Huế), phố cổ Hội An và khu
đền tháp Mỹ Sơn (Quảng Nam).
Đối với khu vực và quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một trong những cửa ngõ quan
trọng hướng ra Thái Bình Dương của Việt Nam (miền Trung và Tây Nguyên) và các
nước Lào, Thái Lan, Myanma thông qua hành lang kinh tế Đông Tây với điểm kết thúc
là cảng biển Tiên Sa.
2.1.1.2. Địa hình:
Địa hình thành phố Đà Nẵng vừa có đồng bằng duyên hải, vừa có đồi núi. Địa hình
đồi núi chiếm diện tích lớn, độ cao khoảng từ 700 - 1.500 m, độ dốc lớn (>400), là nơi
tập trung nhiều rừng đầu nguồn và có ý nghĩa bảo vệ môi trường sinh thái của thành
phố. Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là
vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các
khu chức năng của thành phố.
2.1.1.3. Khí hậu
Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình, nhiệt độ cao và ít
biến động. Khí hậu Đà Nẵng là nơi chuyển tiếp đan xen giữa khí hậu miền Bắc và miền
Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới điển hình ở phía Nam. Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt:
mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7, thỉnh
thoảng có những đợt rét mùa đông do ảnh hưởng của gió mùa đông bắc nhưng không
đậm và không kéo dài. Tuy nhiên, điều kiện khí hậu của thành phố Đà Nẵng hoàn toàn
được ưu đãi với nắng ấm quanh năm, điều kiện thiên nhiên tốt, khí hậu dễ chịu.
Nhìn chung, khí hâụ ở Đà Nẵng khá thích nghi với hoạt động du lịch và phát triển
các loại hình du lịch. Tuy nhiên, cũng phải nói, Đà Nẵng là nơi thường xảy ra thiên tai,
gió mùa đông bắc…gây khó khăn cho việc tổ chức các hoạt động du lịch, phá hủy các
công trình xây dựng.

15



16


hướng đa phương hoá quan hệ kinh tế, tích cực thâm nhập các thị trường truyền thống
và phát triển thị trường mới, đến nay các sản phẩm của Đà Nẵng đã có mặt ở hơn chín
mươi quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
Mạng lưới kết cấu hạ tầng ở Đà Nẵng đa dạng với hệ thống sân bay quốc tế, cảng
biển nước sâu, các tuyến đường bộ, đường sắt Bắc Nam đã phát triển hoàn chỉnh và
thuận lợi, góp phần quan trọng đối với mức tăng trưởng kinh tế của địa phương, cải
thiện đời sống xã hội.
Sân bay Đà Nẵng là một trong ba sân bay ở Việt Nam đạt tiêu chuẩn quốc tế, các
loại máy bay hiện đại như : B747, B767, A320...đều có khả năng cất và hạ cánh. Sân
bay quốc tế Đà Nẵng hiện đang được nâng cấp, mở rộng nhằm đáp ứng nhu cầu vận
chuyển khách và hàng hóa ngày càng tăng.
Hệ thống đường bộ ở thành phố phát triển nhất miền Trung và ngày càng được đầu
tư mở rộng để hoàn chỉnh hơn, trong đó có nhiều công trình quan trọng đã hoàn thành
như cầu Sông Hàn, cầu Cẩm Lệ, đường Nguyễn Tất Thành, Trần Hưng Đạo, Phạm
Văn Đồng…
Đường sắt: Tuyến đường sắt Bắc-Nam chạy ngang qua thành phố; ga Đà Nẵng
được trang bị khá hiện đại, là một trong những ga chính của miền Trung và cả nước.
Đường thủy: Với vị trí cửa sông, cửa biển, nơi có những con sông đổ ra biển, có
vịnh kín gió và hàng chục kilômét bờ biển nên giao thông đường thủy rất thuận lợi.
Đặc biệt, Cảng Đà Nẵng là cảng thương mại lớn thứ ba ở Việt Nam sau cảng Sài Gòn
và cảng Hải Phòng, có thể tiếp nhận các loại tàu hàng có trọng tải lớn. Từ cảng Đà
Nẵng hiện có các tuyến tàu biển quốc tế đi Hồng Kông, Singapore, Nhật Bản, Đài Loan
và Hàn Quốc.
Hệ thống đường giao thông trong và ngoài thành phố không ngừng được mở rộng
và xây mới, không chỉ tạo điều kiện thuận lợi về giao thông và phát triển du lịch mà
còn tạo cảnh quan, làm thay đổi cơ bản diện mạo của một đô thị lớn miền Trung Việt
Nam.

Theo ngôn ngữ Chăm thì Đà Nẵng có nghĩa là “sông lớn” hay cửa sông cái. Năm
1306 là mốc lịch sử đánh dấu vùng đất Đà Nẵng , bắt đầu sáp nhập vào lãnh thổ quốc
gia Đại Việt bằng sự kiện “Theo thể ước của phụ hoàng Trần Nhân Tông trong chuyến
viễn du thăm Chiêm quốc trước đó, vua Trần Anh Tông bèn gả em gái mình là công
chúa Trần Huyền Trân cho Chiêm vương Chế Mân, để đổi lấy hai châu Ô – Lý (vua
Trần đổi là Châu Thuận và Châu Hóa), [1;163]. Như vậy, Đà Nẵng được ghi trên các

18


bản đồ vẽ từ thế kỷ XVII trở đi với địa phận thuộc đạo Hóa Châu( gần Thừa Thiên Huế
và vùng đất từ đèo Hải Vân đến bờ Bắc sông Thu Bồn).
Cuối thế kỷ XVI, khi Hội An (Quảng Nam) đang phát triển rực rỡ như một cảng thị
buôn bán với nước ngoài quan trọng nhất, một trung tâm sầm uất ở phía Nam Việt
Nam thì Đà Nẵng được xem là một “tiền cảng” hay “cảng tạm dừng của các nhà hàng
hải và thương nhân. Với họ, Hội An là cửa ngõ của Đà Nẵng còn Đà Nẵng là cái sân
sau của Hội An.
Đầu thế kỷ XVIII, khi Hội An bắt đầu bắt đầu sa sút thì vị trí tiền cảng của Đà
Nẵng dần dần trở thành thương cảng thay thế cho Hội An, nhất là khi kỹ thuật đóng tàu
ở Châu Âu phát triển với những loại tàu thuyền lớn, đáy sâu, ra vào vịnh Đà Nẵng dễ
dàng. Năm 1793, xứ đoàn của Anh do Macartney dẫn đầu trên đường qua Trung Hoa
đã cập bến Đà Nẵng và một nhân viên trong đoàn đã ghi lại nhận xét của mình khi đặt
chân đến cửa biển này: “Người ta cho thuyền chạy khắp bờ biển mà không gặp tai nạn.
Đáy biển sâu từ 17 – 20 sải. Vịnh Đà Nẵng xứng đáng mang danh hải cảng hơn vịnh,
đó là một trong những cảng lớn và vững chắc nhất được thấy trong khu vực mà xứ
đoàn đã đi qua. Nó rất sâu khi cần thiết phải di chuyển, các tàu bè vẫn yên ổn dù gió to
bão lớn. Đáy biển bùn dày nên neo rất bám” [10; 28].
Từ đó, các tàu thuyền của Nhật Bản, Trung Hoa và Châu Âu chọn Đà Nẵng là nơi
giao dịch hàng hóa chủ yếu và Đà Nẵng trở thành một hải cảng quan trọng bậc nhất ở
miền Trung Việt Nam lúc bấy giờ.

“nhượng địa” của thực dân hoàn toàn trở về với Tổ quốc. Nhân dân địa phương nắm
chính quyền và ra sức củng cố, xây dựng quê hương, bảo vệ chính quyền non trè,
chống thù trong, giặt ngoài.
Thất bại sau 80 năm cai trị, thực dân Pháp vẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược Việt
Nam. Sáng ngày 20 tháng 12 năm 1946, cuộc kháng chiến chống thục dân pháp của
nhân dân Đà Nẵng thực sự bùng nổ. Trong thời gian từ 1946 – 1954, quân và dân Đà
Nẵng đã cùng với nhân dân cả nước tiến hành cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện, kết
hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, phối hợp với chiến trường Điện Biên

20


Phủ làm nên chiến thắng “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Pháp phải ký
hiệp định Giơnevơ (7/1954) đồng thời trao trả Đà Nẵng cho chính quyền Bảo Đại.
Thất bại của Pháp chính là cơ hội can thiệp của Đế quốc Mỹ mà từ lâu đã muốn
dòm ngó mảnh đất này. Chính vì thế, nhân dân Đà Nẵng đã sẵn sàng cho cuộc đương
đầu với kẻ thù hung bạo và tàn ác hơn này. Tháng 3 năm 1965 các đơn vị thủy quân lục
chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng và thiết lập ở đây một căn cứ quân sự hỗn hợp lớn. Năm
1967, Đà Nẵng được chính quyền Việt Nam Cộng hòa ấn định là thành phố trực thuộc
trung ương và xác định mục tiêu xây dựng Đà Nẵng thành trung tâm chính trị, quân sự,
văn hóa cho vùng I và II chiến thuật. Mỹ cho xây dựng ở Đà Nẵng các căn cứ quân sự
và kết cấu hạ tầng: sân bay, cảng, kho bãi, đường sá, công trình công cộng, cơ sở thông
tin liên lạc, lập tín dụng ngân hàng. Khu kỹ nghệ Hòa Khánh sản xuất ôxy, acêtylen,
bột giặt, xay xát, dệt... Ở thời kỳ này công nghiệp được phát triển ở mức độ cao hơn:
các khu kỹ nghệ thay thế cho công trường thủ công. Tuy nhiên, chiến tranh đã để lại
hậu quả nặng nề, hàng trăm nghìn dân quê phải chạy vào các trại tỵ nạn, các khu ổ
chuột đô thị; tệ nạn xã hội tăng nhanh, sản xuất không phát triển.
Năm 1975, hòa bình lập lại, Đà Nẵng (là thành phố thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà
Nẵng) bắt tay vào khôi phục những hậu quả nặng nề của cuộc chiến tranh. Mặc dù còn
lắm khó khăn nhưng công cuộc phục hồi và phát triển thành phố đã đạt nhiều thành

Nẵng.
Với người Đà Nẵng, dẫu chưa hình thành nét đặc trưng rõ rệt như một số nơi nhưng
con người nơi đây vẫn có tính cách riêng và ngày càng được hun đúc cùng tiến trình
phát triển đô thị. Được tôn vinh là mảnh đất "Ngũ phụng tề phi" con người Đà Nẵng
luôn có truyền thống hiếu học và say mê sáng tạo. Người Đà Nẵng có bản tính chất
phác, ngay thẳng, sống đơn giản, thân thiện, yêu sự chân thật và kiên quyết trong hành
động chống lại những điều ác, điều xấu.
Ngày nay, người Đà Nẵng đang có mặt trên các vùng miền của đất nước và cả nước
ngoài. Quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế trong quá khứ cũng như hiện tại chắc chắn
sẽ tạo nên cơ hội để người Đà Nẵng thêm tự tin hướng tới tương lai.
2.1.4.2. Đặc điểm văn hóa
Đà Nẵng là nơi giao lưu và hội tụ những nét văn hóa của nhiều vùng miền trong cả
nước. Trải qua nhiều thời đại, cư dân gốc Bắc chung sống cùng dân bản xứ gốc Chăm

22


cùng với tộc người Cà Tu cộng cư tạo nên một bản sắc khá phong phú. Điều này được
thể hiện qua những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của vùng đất Đà Nẵng vẫn
mang “đậm nguồn gốc bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc Việt, được kết tinh nhuần
nhuyễn thoang thoảng đôi nét văn hóa dân tộc Chăm về tế lễ, lễ hội cùng những sắc
thái riêng của dân tộc Ca Tu” [1; 499]. Nằm trong tổng thể văn hóa Việt Nam, văn hóa
vùng đất Đà Nẵng đa dạng và phong phú, thể hiện qua cấu trúc đình, chùa, lăng, miếu,
nhà thờ tộc (từ đường), thánh đường, thánh thất… phong phú về các thể loại thơ ca, hò
vè như: ca dao, đồng dao, phong giao, hò khoan, hát bài chòi, hát bá trạo, hát bội, kịch,
chuyện, giai thoại…
Văn hóa Đà Nẵng được đặc trưng bởi văn hóa cư trú người Kinh vùng đồng bằng
và tộc người Cơtu ở vùng cao, thể hiện qua các di tích lịch sử - văn hóa như danh thắng
Ngũ Hành Sơn, Bà Nà, Sơn Trà, qua truyền thuyết Tiên Sa, Non Nước. Văn hóa ẩm
thực cũng là một yếu tố tạo nên đặc trưng văn hóa vùng, đó là mì quảng, bánh tráng

Có thể nói giá trị đặc trưng của văn hóa xứ Quảng nói chung, của Đà Nẵng nói
riêng là những nét đặc thù của một vùng văn hóa nằm trong tổng thể của nền văn hóa
Việt Nam. Vô hình chung những đặc điểm văn hoá là yếu tố thuận lợi cho sự phát triển
du lịch mà trong đó có cả du lịch tâm linh.
2.2. Tiềm năng phát triển du lịch tâm linh tại thành phố Đà Nẵng
2.2.1. Khái quát về tình hình hoạt động du lịch tâm linh trên thế giới và Việt
Nam
Thế giới:
Từ lâu, trên thế giới, du lịch tâm linh đã là một loại hình được quan tâm và đầu tư
phát triển ở nhiều quốc gia như Ý, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan,
Myanma…
Với lợi thế là nơi khởi nguồn của Phật giáo, Ấn Độ là nước đã khai thác tốt những
tiềm năng đó để phát triển loại hình du lịch tâm linh Phật giáo đặc trưng và thu hút
lượng khách. Đến với du lịch Ấn Độ là đến với quê hương của các di tích Phật giáo.
Tất cả những di tích nằm rải rác khắp đất nước như đền Taj Mahal, pháo đài Agra,

24


Sikandra, Rambagh và phế tích vương triều ở thành Mughal tại Fatehpur Sikri…đã thu
hút một lượng khách khá lớn hàng năm. Vì vậy, quốc gia này thực sự đã trở thành địa
điểm linh thiêng nhất đối với các du khách và phật tử trong các tour du lịch tâm linh ở
trong nước và thế giới
Người ta thường nói: “Mọi con đường đều dẫn đến thành Rôma”. Nước Ý là nơi
khách du lịch đến đông đến mức có thể so sánh khách du lịch đến nước Ý hàng năm
nhiều hơn số dân nước này và hơn một nửa thu nhập quốc dân là từ du lịch. Nước Ý là
nơi có nhiều điểm du lịch tâm linh hấp dẫn bậc nhất thế giới. Rất nhiều điểm du lịch
tâm linh ở Roma lúc nào cũng đông nghịt khách du lịch từ khắp nơi trên thế giới đổ về.
Tại Hàn Quốc, khi đến một ngôi chùa thiêng nào đó, ai đến đó cũng bỏ ra 5 đô la để
viết họ tên và lời ước nguyện những điều tốt lành cho gia đình mình lên một viên ngói,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status