BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN VĂN TIẾN
NGHIÊN CỨU SỰ KHÁC BIỆT VỀ NĂNG SUẤT
LAO ĐỘNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN
ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI VÀ DOANH NGHIỆP
TRONG NƢỚC Ở CÁC TỈNH MIỀN TRUNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
Đà Nẵng – Năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN VĂN TIẾN
NGHIÊN CỨU SỰ KHÁC BIỆT VỀ NĂNG SUẤT
LAO ĐỘNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP CÓ VỐN
ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI VÀ DOANH NGHIỆP
TRONG NƢỚC Ở CÁC TỈNH MIỀN TRUNG
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60.31.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ PHÁT TRIỂN
1.2. CÁC CHỈ TIÊU TÍNH NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG.......................................... 16
1.2.1. Chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng hiện vật.......................................... 17
1.2.2. Chỉ tiêu năng suất lao động bằng giá trị........................................................ 18
1.2.3. Chỉ tiêu tính năng suất lao động bằng thời gian lao động....................19
1.3. SỰ KHÁC BIỆT NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG....................................................... 21
1.3.1. Các nhân tố ảnh hƣởng đến sự khác biệt năng suất lao động giữa
các loại hình doanh nghiệp......................................................................................................... 21
1.3.2. Bằng chứng thực tiễn về sự khác biệt năng suất lao động giữa
các loại hình doanh nghiệp......................................................................................................... 30
CHƢƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU................................................................................................................ 36
2.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN MIỀN TRUNG VIỆT NAM...................................... 36
2.2. ĐẶC TRƢNG CÁC LOẠI HÌNH DOANH NGHIỆP Ở ĐỊA BÀN
NGHIÊN CỨU – MIỀN TRUNG.......................................................................................... 38
2.2.1. Về lao động trong các loại hình doanh nghiệp.......................................... 38
2.2.2. Về vốn cố định trong các loại hình doanh nghiệp.................................... 41
2.2.3. Về doanh thu trong các loại hình doanh nghiệp........................................ 43
2.3. PHƢƠNG PHÁP PHÂN TÍCH..................................................................................... 45
2.3.1. Phƣơng pháp nghiên cứu...................................................................................... 45
2.3.2. Số liệu.............................................................................................................................. 47
CHƢƠNG 3. PHÂN TÍCH SỰ KHÁC BIỆT VỀ NĂNG SUẤT LAO
ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NƢỚC VÀ CÁC
DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI Ở CÁC TỈNH
MIỀN TRUNG............................................................................................................................... 50
3.1. PHÂN TÍCH SỰ KHÁC BIỆT BẰNG PHƢƠNG PHÁP THỐNG KÊ
MÔ TẢ................................................................................................................................................. 50
3.2. PHÂN TÍCH SỰ KHÁC BIỆT BẰNG MÔ HÌNH KINH TẾ LƢỢNG . 53
Số lao động trong ngành công nghiệp chế biến chế tạo
ở các tỉnh miền Trung phân theo loại hình doanh
39
nghiệp giai đoạn 2011 – 2014
2.2.
Cơ cấu lao động trong ngành công nghiệp chế biến,
chế tạo ở các tỉnh miền Trung phân theo loại hình
40
doanh nghiệp giai đoạn 2011 - 2014
2.3.
Vốn cố định trong ngành công nghiệp chế biến. chế tạo
ở các tỉnh miền Trung phân theo loại hình doanh
41
nghiệp giai đoạn 2011 - 2014
2.4.
Cơ cấu vốn trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
ở các tỉnh miền Trung phân theo loại hình doanh
43
nghiệp giai đoạn 2011 – 2014
Số hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
3.3.
So sánh năng suất lao động giữa các loại hình doanh
nghiệp ở các tỉnh miền Trung
53
3.4.
Tóm tắt một số đặc trƣng cơ bản về các biến của các
doanh nghiệp nhà nƣớc
56
3.5.
Tóm tắt một số đặc trƣng cơ bản về các biến của các
doanh nghiệp tƣ nhân
57
65
3.11.
Bảng giá trị VIF của các biến trong mô hình
66
3.12.
Tóm tắt kết quả về sự chênh lệch năng suất lao động
giữa các loại hình doanh nghiệp
69
3.13.
Bảng giá trị t của các biến trong mô hình
70
3.14.
Bảng giá trị t của các biến trong mô hình
71
3.15.
59
3.2.
Phân bố xác xuất của biến vốn cố định
60
3.3.
Phân bố xác suất của biến giá trị sản lƣợng/1 đơn vị
lao động
60
3.4.
Phân bố xác xuất của Ln(L)
61
3.5.
Phân bố xác suất của Ln(K)
62
3.6.
hân bố xác xuất của biến Ln(Y)
sở quan trọng trong các quyết
2
định ở tầm vi mô và vĩ mô. Xuất phát từ thực tiễn đó, em quyết định chọn đề
tài “Nghiên cứu sự khác biệt về năng suất lao động giữa các doanh
nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài và doanh nghiệp trong nƣớc ở các
tỉnh Miền Trung”
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát là nghiên cứu sự khác biệt về năng suất lao động
giữa các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài và các doanh nghiệp trong
nƣớc ở các tỉnh Miền Trung.
Mục tiêu cụ thể nghiên cứu cần hƣớng tới, gồm:
- Hệ thống cơ sở lý thuyết về năng suất lao động và phân tích các nhân
tố ảnh hƣởng đến sự khác biệt về năng suất lao động giữa các loại hình
doanh nghiệp;
- Phân tích thống kê mô tả về năng suất lao động của các doanh nghiệp
trong nƣớc và các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài ở các tỉnh Miền
Trung;
- Phân tích và kiểm định sự khác biệt về năng suất lao động giữa các
doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài và các doanh nghiệp trong nƣớc ở
các tỉnh Miền Trung;
- Đề xuất các hàm ý chính sách.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Năng suất lao động của các doanh nghiệp
trong nƣớc, năng suất lao động của các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc
ngoài và sự khác biệt giữa năng suất lao động của các doanh nghiệp trong
nƣớc và các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
Phạm vi nghiên cứu: Luận án chỉ nghiên cứu năng suất lao động trong
6. Tổng quan nghiên cứu
Trên thế giới, các nhà kinh tế từ lâu đã tranh luận về sự khác biệt về
4
năng suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp. Tuy nhiên phải đến giữa
thập niên 1990, với sự trỗi dậy của kinh tế học tăng trƣởng và các nguồn số
liệu phong phú về các đặc điểm kinh tế, chính trị - xã hội của các quốc gia,
nhiều nghiên cứu thực nghiệp về sự khác biệt năng suất lao động giữa các
loại hình doanh nghiệp mới đƣợc thực hiện một cách có hệ thống. Kết quả
điều tra về mức độ chênh lệch của năng suất lao động giữa các loại hình
doanh nghiệp chỉ ra sự khác biệt giữa lý thuyết và thực tiễn.
Kết quả điều tra chỉ ra sự khác biệt giữa lý thuyết và thực tiễn về năng
suất lao động giữa các loại hình doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể, trong ngành
công nghiệp chế biến, chế tạo tại Malaisia (Ahmad & Binti, 2010; Oguchi,
Amdzah, Bakar, Zainal Abidin, & Shafii, 2002) và Thailand (Ramstetter,
2004, 2006) cho thấy sự khác biệt về năng suất lao động giữa các công ty đa
quốc gia (MNCs) và các công ty không phải công ty đa quốc gia là tƣơng
đối nhỏ và thƣờng là không đáng kể về mặt thống kê. Trong đó, tại
Indonesia kết quả nghiên cứu cho thấy sự khác biệt về năng suất lao động là
khá lớn và khá đáng kể về mặt thống kê.
Tuy nhiên, sự khác biệt thƣờng trở nên không đáng kể về mặt thống kê
khi các nhà máy đƣợc phân theo ngành (cho thấy những sự khác biệt về độ
dốc của hàm sản xuất, Takii, 2006). Bằng chứng cho thấy tại Trung Quốc có
sự khác biệt đáng kể của cả nguồn vốn lẫn năng suất lao động khi tất cả các
công ty sản xuất đƣợc kết hợp (Jefferson & Su, 2006). Trong khi đó, một
nghiên cứu khác lại cho thấy rằng việc tiếp quản các doanh nghiệp nhà nƣớc
bởi các công ty đa quốc gia đã tạo ra năng suất lao động lớn hơn so với sự
tiếp quản bởi các doanh nghiệp tƣ nhân ở các nƣớc Đông Âu (Brown et al.,
cứu quan tâm đến các yếu tố về nguồn nhân lực cũng tìm thấy mối quan hệ
mật thiết giữa việc giáo dục và đào tạo nhân viên với năng suất của
6
doanh nghiệp (Chapman & Al-Khawadeh, 2002; Chen, Liaw & Lee, 2003;
Bhera, Narag & Singla, 2003; Appelbaum, 2005).
Song song với sự tăng mạnh về tiền lƣơng nói chung, chênh lệch về
lƣơng theo ngành, trình độ giáo dục, giới tính hoặc độ tuổi đã tăng đáng kể
tại các nền kinh tế mới công nghiệp hóa (NIEs), đặc biệt là Hàn Quốc và Đài
Loan (Okunishi 1997). Điều này là nhờ sự thành công trong phát triển nguồn
nhân lực và các chƣơng trình đào tạo nghề, giáo dục của NIEs. Những
chƣơng trình này đã đạt đƣợc hai mục tiêu. Thứ nhất, những chƣơng trình
này đã làm tăng nguồn cung lao động có thay nghề, tránh đƣợc bất bình
đẳng ngày càng tăng về tiền lƣơng do tình trạng khan hiếm lao động có tay
nghề. Thứ hai, những chƣơng trình này đã giúp nâng cao trình độ tay nghề
của công nhân, làm tăng năng suất lao động của họ so với nhân viên văn
phòng. Okunishi (1997) giải thích rằng các nền kinh tế mới công nghiệp hóa
(NIEs) đã trở nên phụ thuộc nhiều hơn vào các sản phẩm có chất lƣợng chứ
không phải là các sản phẩm giá rẻ, những cải thiện về năng suất lao động của
công nhân đã giúp thu hẹp chênh lệch về tiền lƣơng của lao động trong các
loại hình doanh nghiệp.
Đối với Việt Nam, Nguyen, Vu, Tran, và Nguyen (2006) cho thấy các
công ty đa quốc gia có doanh thu khá cao tính theo đầu nhân viên trong ba
ngành sản xuất (cơ khí và điện tử; dệt may, hàng may mặc, giày dép; và chế
biến thực phẩm) trong giai đoạn 2001 – 2003. Athukorala và Tien (2010) chỉ
ra rằng các công ty đa quốc gia có năng suất tƣơng đối cao so với các loại
hình công ty khác trong giai đoạn đoạn 2000 – 2005, nhƣng một lần nữa
(Ramstetter & Phan, 2008) cho thấy rằng có sự khác biệt thƣờng là không
phƣơng. Đặc biệt là tại các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam, các cơ sở cung
cấp tại địa phƣơng thƣờng là tƣơng đối yếu và các công ty đa
8
quốc gia phải chỉ cho các đối tác địa phƣơng bằng cách nào để đảm bảo chất
lƣợng thích hợp, tạo ra một công nghệ lan tỏa đến các công ty địa phƣơng
liên quan. Dịch chuyển lao động là con đƣờng thứ hai của tác động lan tỏa từ
các công ty đa quốc gia tới các công ty. Việc dịch chuyển lao động thƣờng là
khá cao ở các nền kinh tế đang phát triển, chẳng hạn nhƣ ở Đông Nam Á.
Các doanh nghiệp trong nƣớc có thể thu hút những tài năng từ các công ty
đa quốc gia để nâng cao năng suất.
Nhiều nhà kinh tế cho rằng các nhà quản lý của các doanh nghiệp nhà
nƣớc có động cơ yếu hơn để theo đuổi lợi nhuận và hiệu quả so với các nhà
quản lý của các doanh nghiệp tƣ nhân, bao gồm cả các tập đoàn đa quốc gia.
Do đó, các doanh nghiệp nhà nƣớc thƣờng đƣợc mong đợi sự tƣơng đối
hiệu quả so với các doanh nghiệp khác. Hơn nữa, Chính phủ thƣờng thành
lập các doanh nghiệp nhà nƣớc trong ngành công nghiệp cạnh tranh không
hoàn hảo, hoặc ngành công nghiệp có tính ổn định cao, nơi thiếu cạnh tranh,
còn yếu áp lực để đạt đƣợc sự hiệu quả.Tuy nhiên, bằng chứng từ cuộc khảo
sát các ngành công nghiệp ở Việt Nam năm 1998 cho thấy các doanh nghiệp
nhà nƣớc nói chung có năng suất lao động và mức lƣơng cao hơn các doanh
nghiệp tƣ nhân địa phƣơng, nhƣng so với các tập đoàn đa quốc gia thì lại
thấp hơn (Phan và Ramstetter 2004, pp. 390-391). Tuy nhiên bằng chứng này
lại xuất hiện nhiều mâu thuẫn với kỳ vọng rằng doanh nghiệp nhà nƣớc là
hoạt động tƣơng đối không hiệu quả và có nhiều lý do để dẫn đến hủy bỏ kết
luận của bằng chứng này. Đầu tiên, sự so sánh về năng suất lao động và bồi
thƣờng lao động không bị ảnh hƣởng bất kỳ nào khác về sự chênh lệch năng
suất hoặc tiền lƣơng. Thứ hai, năng suất lao động không bị ảnh hƣởng bởi
1.1. KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
1.1.1. Khái niệm năng suất lao động
Năng suất là thƣớc đo mức độ hiệu quả do con ngƣời và các đơn vị sản
xuất (doanh nghiệp) chuyển đổi nguồn lực sản xuất (ví dụ nhƣ lao động và
vốn) để tạo ra sản phẩm là hàng hóa và dịch vụ cho xã hội. Trong số các
phƣơng pháp đo lƣờng năng suất nhƣ năng suất đa yếu tố hoặc năng suất
vốn, năng suất lao động là chỉ tiêu quan trọng trong phân tích kinh tế và
thống kê của một quốc gia.
Năng suất lao động là chỉ tiêu đo lƣờng hiệu quả sử dụng lao động, đặc
trƣng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) với lao
động sẻ sản xuất ra nó. Năng suất lao động là một trong những yếu tố quan
trọng tác động tới sức cạnh tranh, đặc biệt, năng suất lao động lại phản ánh
yếu tố chất lƣợng ngƣời lao động – yếu tố cốt lõi của sự phát triển trong sự
cạnh tranh toàn cầu, sự phát triển của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri
thức hiện nay.
Năng suất lao động phản ánh năng lực tạo ra của cải, hiệu suất của lao
động cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm hay lƣợng giá trị
tạo ra trong một đơn vị thời gian, hay lƣợng thời gian lao động hao phí để
sản xuất ra một đơn vị sản phẩm. Năng suất lao động thể hiện tính chất và
trình độ tiến bộ của một tổ chức, đơn vị sản xuất, hay của một phƣơng thức
sản xuất, là một trong những yếu tố quan trọng quyết định sức cạnh tranh của
doanh nghiệp và của nền kinh tế.
11
Theo Các Mác thì năng suất lao động là “sức sản xuất của lao động cụ thể
có ích”. Năng suất lao động thể hiện kết quả hoạt động sản xuất có ích của con
ngƣời trong một đơn vị thời gian nhất định. Năng suất lao động phản ánh hiệu
quả sử dụng lao động sống trong một đơn vị thời gian lao động hoặc bằng
ra. Mà đầu ra là yếu tố quan trọng quyết định khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế nhƣ hiện nay.
Năng suất lao động do Ủy ban năng suất của Hội đồng năng suất châu
Âu đƣa ra: Năng suất lao động là một trạng thái tƣ duy. Nó là một thái độ
nhằm tìm kiếm để cải thiện những gì đang tồn tại. Có một sự chắc chắn rằng
ngày hôm nay con ngƣời có thể làm việc tốt hơn ngày hôm qua và ngày mai
tốt hơn ngày hôm nay. Hơn nữa nó đòi hỏi những cố gắng không ngừng để
thích ứng với các hoạt động kinh tế trong những điều kiện luôn thay đổi,
luôn ứng dụng những lý thuyết và phƣơng pháp mới. Đó là sự tin tƣởng
chắc chắn trong quá trình tiến triển của con ngƣời.
Theo quan điểm tiếp cận mới thì định nghĩa năng suất theo đúng bản
chất đƣợc hiểu một cách hết sức đơn giản. Nó là mối quan hệ (tỷ số) giữa
đầu ra và đầu vào đƣợc sử dụng để hình thành đầu ra đó. Theo cách định
nghĩa này thì nguyên tắc cơ bản của tăng năng suất là thực hiện phƣơng thức
để tối đa hoá đầu ra và giảm thiểu đầu vào. Thuật ngữ đầu vào, đầu ra đƣợc
diễn giải khác nhau theo sự thay đổi của môi trƣờng kinh tế – xã hội. Đầu ra
thƣờng đƣợc gọi với những cụm từ nhƣ tập hợp các kết quả. Đối với các
doanh nghiệp, đầu ra đƣợc tính bằng tổng giá trị sản xuất – kinh doanh, giá
trị gia tăng hoặc khối lƣợng hàng hoá tính bằng đơn vị hiện vật. Ở cấp vĩ mô
thƣờng sử dụng Tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP) là đầu ra để tính năng
suất. Đầu vào trong khái niệm này đƣợc tính theo các yếu tố tham gia để sản
xuất ra đầu ra nhƣ lao động, nguyên vật liệu, vốn, thiết bị máy móc, năng
lƣợng, kỹ năng quản lý.
13
Nhƣ vậy, nói về năng suất, nhất thiết phải đề cập tới 2 khía cạnh, khía
cạnh đầu vào và đầu ra. Khía cạnh đầu vào thể hiện hiệu quả sử dụng các
nguồn lực. Khía cạnh đầu ra thể hiện giá trị sản phẩm và dịch vụ. Tuy nhiên,
lƣợng sản xuất đồng thời với tăng chất lƣợng đầu ra. Điều này có nghĩa là
sử dụng một lƣợng lao động để sản xuất một khối lƣợng lớn mà còn phụ
thuộc rất lớn vào chất lƣợng, đặc điểm của đầu ra và tính hiệu quả trong sản
xuất. Trong thời kỳ đầu của sự phát triển, khi nền kinh tế còn thấp kém, năng
suất và chất lƣợng đƣợc xem trong mối quan hệ trao đổi bù trừ, để có chất
lƣợng ngƣời ta phải hy sinh chất lƣợng. Nhƣng ngày nay, năng suất và chất
lƣợng đã trở thành đồng hƣớng thống nhất với nhau. Năng suất lao động cao
phải tạo ra những sản phẩm và dịch vụ có các đặc tính kinh tế kỹ thuật và
chức năng sử dụng thỏa mãn nhu cầu của khách hàng và những đòi hỏi của
xã hội, bảo vệ môi trƣờng, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên, ít gây ô
nhiễm và không lãng phí trong quá trình sản xuất.
Từ những quan niệm trên, ta có thể chỉ ra rằng: Năng suất lao động là
hiệu quả sản xuất của lao động có ích trong một đơn vị thời gian. Tăng năng
suất lao động không chỉ đơn thuần là chỉ tiêu phản ánh lƣợng sản phẩm sản
xuất ra mà nó phải chỉ ra đƣợc mối quan hệ giữa năng suất – chất lƣợng –
cuộc sống – việc làm và sự phát triển bền vững.
1.1.2. Phân loại năng suất lao động
Năng suất lao động có thể đƣợc chia theo nhiều tiêu thức khác nhau,
thông thƣờng ngƣời ta chia ra làm hai loại là: năng suất lao động cá nhân và
năng suất lao động xã hội.
a. Năng suất lao động cá nhân
Năng suất lao động cá nhân là sức sản xuất của cá nhân ngƣời lao động,
đƣợc đo bằng tỷ số giữa khối lƣợng công việc hoàn thành hoặc số lƣợng sản
15
phẩm với thời gian lao động hao phí để sản xuất ra số sản phẩm đó. Năng
suất lao động cá nhân có vai trò rất lơn trong quá trình sản xuất. Nó thƣờng
đƣợc biểu hiện bằng đầu ra trên một giờ lao động. Việc tăng hay giảm năng
tách rời lao động của hàng loạt ngành đã tham gia vào sáng tạo ra công cụ
hiện đại đó. Mặt khác, trong quản lý kinh tế, nêu chỉ chú trọng đơn thuần
tính theo chỉ tiêu năng suất lao động cá nhân (tiết kiệm lao động sống) sẽ
diễn ra hiện tƣợng coi nhẹ tiết kiệm vật tƣ, coi nhẹ chất lƣợng sản phẩm.
Thực tế cho biết có nhiều trƣờng hợp, năng suất lao động của một số cá nhân
nào đó tăng nhƣng năng suất lao động của toàn phân xƣởng, toàn doanh
nghiệp không tăng, thậm chí giảm. Nhƣ vậy, đã có sự thay đổi giữa lao động
sống và lao động quá khứ: lao động sống càng có năng suất cao hơn thì đòi
hỏi sự kết hợp với nhiều lao động vật hóa hơn.
Khi nói về mối quan hệ giữa năng suất lao động cá nhân và năng suất
lao động xã hội, Các Mác viết: “Giá trị hàng hóa đƣợc quy định bởi tổng số
thời gian lao động, lao động quá khứ và lao động sống đã nhập vào hàng hóa
đấy. Năng suất lao động tăng lên biểu hiện ở chỗ, phần lao động sống giảm
bớt, còn phần lao động quá khứ thì tăng lên, nhƣng tăng lên nhƣ thế nào để
cho tổng số lao động chứa đựng trong hàng hóa ấy lại giảm đi; nói cách khác
lao động sống giảm nhiều hơn là lao động quá khứ tăng lên”
Tóm lại, để năng suất lao động xã hội tăng lên thì năng suất lao động cá
nhân phải tăng lên và tiết kiệm lao động sống giảm nhanh hơn sự tăng lên
của lao động quá khứ.
1.2. CÁC CHỈ TIÊU TÍNH NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG
Việc lựa chon đầu vào và đầu ra khác nhau sẽ tạo các chỉ tiêu tính năng
suất lao động khác nhau, do đó, có nhiều loại chỉ tiêu để tính năng suất lao
động. Lựa chọn chỉ tiêu nào phụ thuộc vào điều kiện của từng doanh nghiệp.