Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên ở tỉnh quảng nam hiện nay - Pdf 55

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

ĐẶNG VÂN ANH

GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG
CHO SINH VIÊN Ở TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Đà Nẵng - Năm 2017


ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

ĐẶNG VÂN ANH

GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG
CHO SINH VIÊN Ở TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Mã số: 60 22 03 01

N ƣờ

ƣớn

n

o

CHO SINH VIÊN Ở TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY............................... 31
2.1.1. Điều kiện tự nhiên.........................................................................31
2.1.2. Điều kiện kinh tế...........................................................................32
2.1.3. Ảnh hƣởng của môi trƣờng văn hóa – xã hội..............................34


2.2. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG
CHO SINH VIÊN Ở TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY............................... 37
2.2.1. Những mặt tích cực trong giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
cho sinh viên ở tỉnh Quảng Nam hiện nay......................................................37
2.2.2. Những hạn chế trong giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho
sinh viên ở tỉnh Quảng Nam và nguyên nhân của nó..................................... 49
2.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC
TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN Ở TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY . 57

2.3.1. Những bất cập trong giáo dục đạo đức ở trƣờng học và bản thân
sinh viên..........................................................................................................57
2.3.2. Tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trƣờng và quá trình toàn cầu
hóa đến các giá trị đạo đức truyền thống........................................................ 62
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2...............................................................................66
CHƢƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC
TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN Ở TỈNH QUẢNG NAM HIỆN
NAY................................................................................................................ 67
3.1. NHỮNG ĐỊNH HƢỚNG CƠ BẢN VỀ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO
ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN HIỆN NAY..............................67
3.1.1. Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức...............................67
3.1.2. Quan điểm của Đảng về phát triển con ngƣời toàn diện..............70
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN Ở
TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY................................................................. 75


42

2.2.

Cần lƣu giữ giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam

42

2.3.

Nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy thoái đạo đức của
giới trẻ ở Việt Nam

54


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết củ đề tài
Trong đƣờng lối cách mạng Việt Nam, Đảng ta khẳng định: con ngƣời
vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đảng chủ
trƣơng lấy việc phát huy nguồn lực con ngƣời làm yếu tố cơ bản cho sự phát
triển nhanh và bền vững. Quan điểm này đã đặt ra cho quá trình phát triển
nguồn nhân lực ở nƣớc ta nhiều nhiệm vụ to lớn, đặc biệt là việc chăm lo giáo
dục thế hệ trẻ, trong đó giáo dục đạo đức đóng vai trò quan trọng. Thông qua
giáo dục, con ngƣời sẽ học cách điều chỉnh hành vi, hoàn thiện dần nhân
cách. Đặc biệt, đạo đức truyền thống có vai trò quan trọng trong việc giáo dục
thế hệ trẻ - chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc.

Bên cạnh việc đổi mới nội dung, phƣơng pháp, chƣơng trình của một số môn
học, hình thức dạy và học cũng từng bƣớc đƣợc cải tiến, hình thức đào tạo
ngày một đa dạng và phong phú hơn thì việc nâng cao công tác giáo dục chính
trị, tƣ tƣởng, đạo đức, lối sống cần đƣợc quan tâm một cách đúng mức nhƣ
nó cần phải có.
Hiện nay, hầu hết sinh viên vẫn giữ đƣợc phẩm chất tốt đẹp của cha ông
ta nhƣ yêu nƣớc, đoàn kết, tôn sƣ trọng đạo, hiếu học, kính thầy, yêu bạn, lối
sống giản dị, chăm chỉ.Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ sinh viên
chỉ quan tâm đến bản thân và nhu cầu trƣớc mắt, sống thực dụng, kém ý chí
vƣơn lên, học đòi lối sống xa hoa, hƣởng thụ, thiếu trung thực trong học tập,
tha hóa nhân cách, sa vào tệ nạn xã hội.Thực tế này đòi hỏi cần phải tăng
cƣờng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên, tạo môi trƣờng và
khích lệ sinh viên tham gia xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh, phòng
chống các tệ nạn, định hƣớng để sinh viên phấn đấu rèn luyện theo chuẩn
mực đạo đức xã hội.


3

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Giáo dục giá trị đạo đức
truyền thống cho sinh viên ở tỉnh Quảng Nam hiện nay” làm luận văn Thạc
sĩ. Với mục đích nghiên cứu một cách tổng thể và đề xuất những giải pháp cơ
bản nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống
cho sinh viên Quảng Nam trong bối cảnh hiện nay.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu và làm sáng tỏ những quan niệm về đạo đức trong
lịch sử triết học và phân tích thực trạng giáo dục đạo đức truyền thống cho
sinh viên các trƣờng Đại học và Cao đẳng ở Quảng Nam hiện nay, đề tài xây
dựng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền

nhiệm vụ đặt ra.
5. Bố cục củ đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
có 3 chƣơng, 7 tiết.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
Đạo đức và giáo dục đạo đức là vấn đề từ lâu luôn đƣợc sự quan tâm của
các cấp lãnh đạo, các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và của toàn xã hội. Đã có
nhiều công trình, bài viết của nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc nghiên cứu về
đạo đức và giáo dục đạo đức.
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về đạo đức và giá trị truyền thống
đạo đức đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến. Trong đó có các tác phẩm
tiêu biểu sau:
“Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam”của Trần Văn Giàu
(chủ biên), (1980), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Tác giả đã phân tích các giá
trị tinh thần truyền thống Việt Nam, đặc biệt là chủ nghĩa yêu nƣớc, cái làm
nên cốt cách, tinh thần Việt Nam.
Tác giả Phạm Minh Hạc (1996), với công trình “Phát triển giáo dục,
phát triển con người phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội. Đã làm rõ vai trò quan trọng của giáo dục – đào tạo trong việc
phát triển con ngƣời trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây
dựng hệ thống giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng giáo dục Việt Nam để
phục vụ hiệu quả việc phát triển con ngƣời.
“Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hoá” của


5

Nguyễn Trọng Chuẩn - Nguyễn Văn Huyên (chủ biên), (2002), Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội. Các tác giả đã làm rõ nhiều vấn đề về giá trị truyền thống
dân tộc và những vấn đề đặt ra trong xu thế toàn cầu hóa; việc gìn giữ và phát

đề và giải pháp”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Nguyễn Văn Lý (2013),
“Kế thừa và đổi mới các giá trị đạo đức truyền thống trong quá trình chuyển
sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Nxb Chính trị Quốc gia – Sự thật,
Hà Nội … đã đề cập đến vấn đề tiếp thu, kế thừa và phát triển các giá trị đạo
đức truyền thống trong điều kiện mới.
Các đề tài luận văn, luận án viết về đạo đức sinh viên nhƣ: Luận văn
thạc sĩ triết học của Vũ Thanh Hƣơng (2004),“Đạo đức sinh viên trong điều
kiện kinh tế thị trường hiện nay ở Việt Nam- thực trạng và giải pháp(qua khảo
sát một số trường Đại học và Cao đẳng ở Hà Nội); Luận án tiến sĩ của Võ
Minh Tuấn (2004), “Ý thức đạo đức sinh viên Việt Nam hiện nay”, Đại học
Khoa học xã hội và nhân văn; Đề tài cấp bộ của Huỳnh Văn Sơn (2009), “Sự
lựa chọn các giá trị đạo đức và nhân văn trong định hướng lối sống của sinh
viên”. Luận án tiến sĩ của Phạm Huy Thành (2014),“Giáo dục giá trị đạo đức
truyền thống với việc hình thành và phát triển nhân cách cho sinh viên khu
vực Tây Nguyên trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay”. Các đề tài trên đã
phân tích làm rõ thực trạng của giáo dục giá trị đạo đức truyền thống hiện nay.
Qua đó, đề xuất các quan điểm định hƣớng và một số giải pháp nhằm nâng
cao chất lƣợng giáo dục đạo đức cho sinh viên hiện nay.
Bên cạnh đó, còn có các công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức
truyền thống cho thế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay đăng trên các Tạp chí
Triết học, Kỷ yếu hội thảo khoa học nhƣ:“Bảo vệ giá trị truyền thống dân
tộc” (1994) của Nguyễn Tài Thƣ, Tạp chí Triết học, số 6; Tạp chí triết học, số
5; Nguyễn Văn Huyên (1998), “Giá trị truyền thống, nhân lõi và sức sống
bên trong của sự phát triển đât nước, dân tộc”, Tạp chí Triết học, số 4; “Vấn
đề bảo vệ các giá trị đạo đức truyền thống trong nền kinh tế thị trường Việt


7

Nam”(1999) của TS. Lê Thị Tuyết Ba, Tạp chí Triết học, số 1; “Thực trạng

1.1. ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG
1.1.1. Quan niệm về đạo đức
Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng Latinh là mos (moris) - lề thói
(moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa). Còn “luân lý” đƣợc
xem nhƣ đồng nghĩa với đạo đức có gốc từ Hy Lạp là ethisos - lề thói, tập tục.
Khi nói đến đạo đức là nói đến lề thói, tập tục biểu hiện mối quan hệ nhất
định giữa ngƣời với ngƣời trong sự giao tiếp với nhau hằng ngày. Gắn với sự
ra đời của Triết học (philosophia) là sự hình thành Đạo đức học (tiếng Hy
Lạp: ethikos, tiếng latin: ethicus hay ethica) với tƣ cách là lý luận về đạo đức
ra đời từ thời Hy Lạp cổ đại, khoảng thế kỷ thứ VIII (TrCN).
Với tƣ cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tƣ tƣởng đạo
đức đã xuất hiện từ thời cổ đại ở Ấn Độ, Trung Hoa và đặc biệt là ở Hy Lạp.
Từ trƣớc đến nay khi nghiên cứu về lĩnh vực đạo đức có nhiều cách tiếp cận
đạo đức theo những khuynh hƣớng khác nhau.
Ở phƣơng Đông, các học thuyết về đạo đức của ngƣời Trung Quốc cổ đại
xuất hiện sớm, đƣợc thể hiện trong quan niệm về đạo đức của họ. Đạo đức là
một trong những phạm trù quan trọng nhất của triết học Trung Quốc cổ đại.

“Đạo” có nghĩa là con đƣờng, đƣờng đi. Về sau khái niệm này đƣợc vận
dụng trong triết học để chỉ con đƣờng của tự nhiên, tính quy luật của tự nhiện.
“Đức” dùng để nói đến nhân đức, đức tính và nhìn chung đức tính là biểu hiện
của đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý. Có thể nói, đạo đức theo quan
niệm của ngƣời Trung Hoa cổ đại chính là những yêu cầu, nguyên tắc do cuộc
sống đặt ra mà mỗi ngƣời phải tuân theo.


9

Ở phƣơng Tây, vấn đề đạo đức từ lâu đã thu hút sự quan tâm của nhiều
nhà tƣ tƣởng. Cho đến nay, ngƣời ta vẫn coi Xôcrát là ngƣời đặt nền móng

chung. Không phải ý thức của con ngƣời quyết định tồn tại của họ; trái lại tồn
tại của họ quyết định ý thức của họ” [45, tr.15].
Tính lịch sử của đạo đức thể hiện ở chỗ: trong các học thuyết về đạo đức,
có học thuyết chỉ có giá trị thúc đẩy tiến bộ xã hội ở một thời điểm nhất định
nào đó, nhƣng cũng có những học thuyết đạo đức có thể có giá trị lâu dài đối
với sự phát triển xã hội.
Trong xã hội có giai cấp, đạo đức mang tính giai cấp. Mỗi giai cấp đều
có đạo đức riêng, phản ánh những quan hệ thực tiễn đang làm cơ sở cho vị trí
giai cấp của mình, tức là những quan hệ kinh tế mà trong đó, ngƣời ta tiến
hành sản xuất và trao đổi.
Tuy nhiên, thông qua tính lịch sử và tính giai cấp của đạo đức, ngƣời ta
tìm thấy những giá trị đạo đức tƣơng đối bền vững có tính phổ biến cho một
dân tộc, thậm chí cho cả nhân loại trong mọi thời kỳ lịch sử.
Nhƣ vậy, các hiện tƣợng đạo đức ở các thời đại khác nhau có tính chất
khác nhau, trong xã hội có giai cấp thì đạo đức có tính giai cấp. Cho nên,
không thể coi đạo đức là nhất thành, bất biến, vĩnh viễn nhƣ lý thuyết của một
số nhà đạo đức trƣớc kia đề ra. Nhƣ vậy, sự phát sinh và phát triển của đạo
đức xét đến cùng là một quá trình do sự phát triển của phƣơng thức sản xuất
quyết định.
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin, đạo đức là một hình thái ý
thức xã hội, phán ánh tồn tại xã hội, phán ánh hiện thực đời sống xã hội.
Ngày nay, đạo đức đƣợc hiểu là một trong những phƣơng thức cơ bản
điều tiết chuẩn mực hoạt động của con ngƣời, là một hình thái ý thức xã hội,
là một dạng của quan hệ xã hội (quan hệ đạo đức) là đối tƣợng nghiên cứu
của đạo đức học.
Đến nay, các nhà nghiên cứu đã có những quan niệm khác nhau về đạo
đức.Trong Giáo trình đạo đức học Mác-Lênin của tập thể các nhà khoa học ở


11

12

tinh thần mà xã hội loài ngƣời đã sáng tạo ra. Đó là một hệ thống chuẩn mực,
quan niệm, giá trị và nguyên tắc đƣợc hình thành trong đời sống xã hội nhằm
điều chỉnh hành vi của con ngƣời, qua đó điều chỉnh mối quan hệ giữa ngƣời
này với ngƣời khác, giữa cá nhân với xã hội, đƣợc thực hiện bởi niềm tin cá
nhân, truyền thống, tập quán và sức mạnh của dƣ luận xã hội. Đạo đức là một
giá trị bền vững, là chuẩn mực cơ bản và là thành phần nền tảng của sự phát
triển và hoàn thiện nhân cách. Vai trò của đạo đức với sự phát triển nhân cách
con ngƣời đã khách quan hóa tầm quan trọng của giáo dục đạo đức đối với sự
phát triển nhân cách của sinh viên.
1.1.2. Giá trị đạo đức truyền thống
Giá trị theo nghĩa chung nhất, chúng ta có thể hiểu nó là cái làm cho một
khách thể nào đó có ích, có nghĩa, đáng quý đối với chủ thể, đƣợc mọi ngƣời
thừa nhận. Ngƣời ta có thể phân chia giá trị thành: giá trị vật chất, giá trị tinh
thần, giá trị riêng, giá trị chung, giá trị xã hội.
Giá trị đạo đức với tƣ cách là một yếu tố cấu thành của hệ thống các giá
trị tinh thần của đời sống xã hội xác định là những chuẩn mực xã hội, những
khuôn mẫu lý tƣởng, những quy tắc ứng xử nhằm điều chỉnh và chuẩn hóa
hành vi của con ngƣời. Là một trong những phƣơng thức điều chỉnh hành vi
con ngƣời trên cơ sở tự nguyện, tự giác. Giá trị đạo đức gắn với nhu cầu điều
chỉnh quan hệ giữa cá nhân và xã hội theo hƣớng tạo nên sự thống nhất hài
hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội. Theo giáo sƣ Huỳnh Khải Vinh:
“Giá trị đạo đức biểu hiện ở những chuẩn mực quy định mối quan hệ giữa
ngƣời – ngƣời với tự nhiên và xã hội (gia đình cộng đồng…) trên tinh thần
yêu thƣơng hay thù hận, tôn trọng hay không tôn trọng, sự phát triển hay kìm
hãm tài năng, tự do và hạnh phúc” [66, tr. 60].
Bản thân giá trị đạo đức xét theo chiều dài thời gian có thể phân thành
giá trị truyền thống và giá trị hiện đại. Mỗi dân tộc đều có truyền thống của


đồng, tính ổn định tƣơng đối, đƣợc lƣu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác,


14

thể hiện trong các chuẩn mực mang tính phổ biến có tác dụng điều chỉnh hành
vi giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và xã hội. Xét trong tƣơng quan với
thế giới và khu vực, đặc biệt là với các dân tộc phƣơng Đông, giá trị đạo đức
truyền thống của dân tộc ta có những nét chung với nhiều dân tộc khác vì các
dân tộc trong quá trình hình thành và phát triển của mình đều phải giải quyết
những vấn đề chung nhƣ: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, ổn định và phát triển
đời sống xã hội… Mặt khác, sự giao lƣu quốc tế diễn ra thƣờng xuyên ở mức
độ này hay mức độ khác nhất là với các nƣớc gần nhau đã ảnh hƣởng đến
nhau khá rõ rệt. Giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta là do cộng đồng
ngƣời Việt Nam tạo dựng trong lịch sử phát triển lâu dài trên đất nƣớc Việt
Nam với tất cả các điều kiện lịch sử đặc thù tạo nên bản sắc độc đáo của nó.
Trong suốt lịch sử phát triển của dân tộc, giá trị truyền thống đã có
những lần đối mặt với thách thức của những hệ giá trị khác. Trong thời kỳ Bắc
thuộc, phong kiến phƣơng Bắc đã thực hiện chính sách áp đặt hệ giá trị nhằm
đồng hoá văn hoá, nô dịch nhân dân ta. Khi thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm
lƣợc nƣớc ta, hệ giá trị truyền thống lại bị thách thức bởi hệ giá trị của nền
văn minh kỹ thuật phƣơng Tây. Do yêu cầu đấu tranh giành lại và bảo vệ độc
lập dân tộc, các giá trị truyền thống đã có sự biến đổi sâu sắc. Tuy vậy, vẫn có
những giá trị tiếp tục đƣợc thừa nhận và phát huy, kết hợp với những giá trị
mới phù hợp với yêu cầu phát triển xã hội. Thực tiễn lịch sử cho thấy dân tộc
nào dung hòa đƣợc các giá trị truyền thống và các giá trị hiện đại, hay nói
cách khác, tìm đƣợc phƣơng thức biểu hiện mới của giá trị truyền thống trong
thời hiện đại thì sẽ phát triển. Các giá trị truyền thống phải biến đổi phù hợp
với tinh thần thời đại. Trong quá trình biến đổi đó, các giá trị đạo đức truyền
thống đƣợc chắt lọc, đƣợc kết hợp với các giá trị hiện đại tạo nên một hệ giá

truyền thống cơ bản của dân tộc ta bao gồm: chủ nghĩa yêu nƣớc; tinh thần
đoàn kết và ý thức cộng động sâu sắc; lòng thƣơng ngƣời sâu sắc; đức tính
cần kiệm; lòng dũng cảm, tinh thần bất khuất, tính khiêm tốn, giản dị, trung
thực, thủy chung, lạc quan, tinh thần hiếu học...
Các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc hình thành gắn với điều kiện


17

lịch sử cụ thể của Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử. Đó là kết quả và
động lực to lớn của quá trình dựng nƣớc, giữ nƣớc và phát triển đất nƣớc.
Đồng thời là kết quả của quá trình tiếp thu sáng tạo tinh hoa của nhiều trào
lƣu tƣ tƣởng, văn hóa lớn của thế giới để bồi đắp thêm cho những giá trị đạo
đức – văn hóa vốn có của mình.
Trong hệ thống giá trị đạo đức truyền thống dân tộc chủ nghĩa yêu nƣớc
là “tiêu điểm của các tiêu điểm, giá trị của các giá trị giá trị” [25, tr.94], là đạo
đức cao quý nhất của dân tộc Việt Nam, chuẩn mực đạo đức đứng đầu trong
thang bậc giá trị truyền thống.
Chủ nghĩa yêu nước là tình yêu đối với đất nƣớc, lòng trung thành với
Tổ quốc biểu hiện ở khát vọng và hành động tích cực để phục vụ lợi ích của
Tổ quốc và nhân dân. Tình yêu là tình cảm phổ biến của nhân dân các dân tộc
trên thế giới. V.I. Lênin đã từng khẳng định: “chủ nghĩa yêu nƣớc là một
trong những tình cảm sâu sắc nhất đã đƣợc củng cố qua hàng năm, hàng
nghìn năm tồn tại của các tổ quốc biệt lập” [38, tr.226]. Song sự hình thành
sớm hay muộn, nội dung cụ thể, hình thức và mức độ biểu hiện của nó tùy
thuộc vào điều kiện lịch sử đặc thù của từng dân tộc.
Yêu nƣớc là tình cảm thiêng liêng của nhân dân ta từ xƣa đến nay. Lòng
yêu nƣớc có nguồn gốc sâu xa từ ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân - gia đình
- làng xã - Tổ quốc. Yêu nƣớc là đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên
trên hết, là chăm lo xây dựng quê hƣơng, đất nƣớc, sẵn sàng chống đô hộ và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status