giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên đại học tây bắc hiện nay - Pdf 24


1
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ 21 thế kỷ của sự bùng nổ về thông tin khoa học và kỹ thuật hiện
đại, tiên tiến nhất từ trước đến nay. Những thành tựu mà nhân loại đã đạt được
trong những năm gần đây đã làm thay đổi cuộc sống của nhiều dân tộc trên thế
giới.
Việt Nam là một quốc gia thuộc các nước đang phát triển về mặt kinh tế,
lại trải qua nhiều cuộc chiến tranh kéo dài. Song, dưới tác động của cuộc cách
mạng khoa học - công nghệ hiện đại, Việt Nam cũng đang từng ngày từng giờ
thay đổi diện mạo của mình.
Hiện nay, trong sự nghiệp xây dựng đất nước, với quá trình chuyển đổi cơ
cấu kinh tế đòi hỏi chúng ta phải mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế và giao lưu
văn hoá với các nước trên thế giới. Thông qua việc mở rộng quan hệ, chúng ta đã
tiếp thu được nhiều thành tựu văn minh của nhân loại, làm phong phú thêm nền
văn hóa dân tộc. Nhưng cũng trong quá trình mở cửa hội nhập, sự xâm nhập của
văn hoá và lối sống ngoại lai làm cho văn hoá truyền thống dân tộc có nguy cơ bị
lãng quên. Trong đời sống xã hội, đã có những biểu hiện coi nhẹ những giá trị
truyền thống, chạy theo thị hiếu không lành mạnh. Đặc biệt, tệ sùng bái nước
ngoài, coi thường những giá trị văn hoá dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá
nhân vị kỷ đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Các tệ nạn xã hội
ngày càng gia tăng, đó là một thực trạng đáng lo ngại.
Từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự định hướng và quản lý của
Nhà nước, bên cạnh những mặt tích cực, đã xuất hiện những cách sống và lối
sống xa lạ, trái với các chuẩn mực của xã hội và thuần phong mỹ tục của dân tộc.

2
Một bộ phận trong các tầng lớp, các thành phần xã hội khi mưu cầu lợi ích cá
nhân đã chà đạp lên nhưng khuôn mẫu, những giá trị đạo đức đích thực. Nạn
tham nhũng, buôn lậu, làm giàu bất chính và các tệ nạn xã hội khác đang phát

trường, phần lớn trong số họ không muốn làm việc ở các cơ quan của tổ chức
Đảng, đoàn thể, giáo dục "Thập nạn" trong sinh viên hiện nay, như tiêu cực
trong thi cử, cờ bạc, quan hệ tình dục phóng túng,, mê tín dị đoan, uống rượu
say, nghiện hút, cắm quán, trộm cướp, ham mê văn hoá phẩm đồi truỵ, vô kỷ
luật, mất trật tự vệ sinh, đua đòi, chạy theo lối sống thực dụng cho thấy, thực
trạng đạo đức sinh viên đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu, giải quyết.
Liệu chúng ta có thể giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa khi thanh niên bị
phai nhạt lý tưởng, thiếu ý thức giữ gìn những giá trị truyền thống dân tộc? Làm
như thế nào để chúng ta "hội nhập" mà không bị "hòa tan", phát triển mà không
bị "mất gốc", trọng truyền thống mà không bảo thủ, tất cả những điều đó đã và
đang yêu cầu thanh niên Việt Nam nói chung - sinh viên Đại học Tây Bắc nói
riêng nâng cao hơn nữa bản lĩnh của mình, đứng vững trước mọi thử thách khắc
nghiệt của cuộc sống hiện đại dựa vào việc phát huy những giá trị đạo đức tryền
thống của dân tộc.
Với ý nghĩa đó, vấn đề giáo dục giá trị đạo đức truyền thống dân tộc là vấn đề
hết sức cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Đó cũng là lý do để tác giả của luận
văn chọn: " Giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên đại hoc Tây Bắc
hiện nay)" làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài

4
Xung quanh vấn đề đạo đức truyền thống những năm gần đây đã có nhiều
công trình nghiên cứu ở dưới các góc độ khác nhau, một số bài viết đã đề cập
đến khía cạnh này hay khía cạnh khác của vấn đề, cụ thể như: "Tìm hiểu định
hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường" do
Thái Duy Tuyên chủ biên, Hà Nội, 1994; "Đặc điểm lối sống sinh viên hiện nay
và những phương hướng, biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên, 1995; "Sự
biến đổi định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị
trường" của Thái Duy Tuyên, Tạp chí Triết học, số 5-1995; "Sự tác động hai mặt
của cơ chế thị trường đối với đạo đức người cán bộ quản lý" của Nguyễn Tĩnh

chuẩn đạo đức của người cán bộ lãnh đạo chính trị hiện nay" của Trần Văn
Phòng, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5, 2003 v.v
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, bài viết trên đều có ý nghĩa to lớn đối
với việc kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống hiện nay ở nước
ta. Tuy nhiên, những công trình này chưa đề cập một cách trực tiếp đến việc giáo
dục đạo đức truyền thống dân tộc cho sinh viên trường đại học Tây Bắc trong
giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích của luận văn
Trên cơ sở phân tích thực trạng giáo dục đạo đức truyền thống của sinh viên
trường đại học Tây Bắc hiện nay và nguyên nhân của nó, luận văn đưa ra một số
giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức truyền thống cho
sinh viên trường đại học Tây Bắc hiện nay.

6
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
- Khái quát hóa một số vấn đề lý luận và vai trò của việ giáo dục đạo đức
truyền thống cho sinh viên trường đại học Tây Bắc hiện nay.
- Phân tích thực trạng việc giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên trường
đại học Tây Bắc hiện nay và nêu lên những nguyên nhân.
- Đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức
truyền thống cho sinh viên trường đại học Tây Bắc trong giai đoạn hiện nay .
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là giáo dục đạo đức
truyền thống cho sinh viên hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận văn là giáo dục đạo đức
truyền thống cho sinh viên trường đại học Tây Bắc hiện nay.
5. Đóng góp khoa học và ý nghĩa của luận văn
- Góp phần làm sáng tỏ tầm quan trọng và yêu cầu của việc giáo dục những
đạo đức truyền thống cho sinh viên trường đại học Tây Bắc hiện nay.


8
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY
BẮC HIỆN NAY

1.1 Một số vấn đề về việc giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên
trƣờng đại học Tây Bắc hiện nay
1.1.1 Khái niệm đạo đức, đạo đức truyền thống
Khái niệm đạo đức, trong tâm lý học đạo đức được hiểu theo những khía
cạnh sau: Nghĩa hẹp: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp các qui
tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội nhờ nó con người tự giác điều chỉnh hành vi
của mình sao cho phù hợp với lợi ích và hạnh phúc của con người, với tiến bộ xã
hội trong quan hệ cá nhân - cá nhân và quan hệ cá nhân. Nghĩa rộng hơn: Đạo
đức là toàn bộ những qui tắc, chuẩn mực nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng
xử của con người với nhau trong quan hệ xã hội và quan hệ với tự nhiên, đạo đức
là hệ thống các qui tắc, chuẩn mực biểu hiện sự tự giác trong quan hệ con người
với con người, con người với cộng đồng xã hội với tự nhiên.
Theo Chiết tự: Đạo: Đường đi, hướng đi, lối làm việc, ăn ở. Đức theo
Khổng Tử sống đúng luân thường là có Đức. Theo đạo Lão Tử tu thân tới mức
hiệp nhất với trời đất, an hoà với mọi người là có Đức.
Đạo đức được xem là khái niệm luân thường đạo lý của con người, nó
thuộc về vấn đề tốt - xấu, hơn nữa xem như là đúng - sai, được sử dụng trong ba

10
tương trợ và không còn tục ăn thịt người. Với sự xuất hiện của liên minh bộ lạc
và nhà nước, tục báo thù của thị tộc dần dần mất đi. Xã hội chủ nô coi việc giết
nô lệ là việc riêng của chủ nô, đến xã hội phong kiến, việc giết nông nô bị lên án.
Đạo đức phong kiến bóp nghẹt cá nhân dưới uy quyền của tôn giáo và quý tộc,
đạo đức tư sản giải phóng cá nhân, coi trọng nhân cách. "Nhưng chúng ta vẫn
chưa vượt được khuôn khổ của đạo đức giai cấp. Một nền đạo đức thực sự có
tính nhân đạo, đặt lên trên sự đối lập giai cấp và mọi hồi ức về sự đối lập ấy chỉ
có thể có được khi nào xã hội đã tới một trình độ mà trong thực tiễn của đời
sống, người ta không những thắng được mà còn quên đi sự đối lập giai cấp". Đó
là trình độ của xã hội tương lai, xã hội cộng sản chủ nghĩa.
Giá trị đạo đức là một bộ phận trong hệ giá trị tinh thần của đời sống xã
hội và được con người lựa chọn, nhằm điều chỉnh và đánh giá hành vi ứng xử
giữa con người với con người, con người với xã hội, chúng được thực hiện bởi
niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội. Giá trị đạo
đức biến đổi theo sự biến đổi của đời sống xã hội.
Về khái niệm truyền thống, trong lịch sử đã từng tồn tại nhiều quan điểm
khác nhau về vấn đề "truyền thống". Theo Từ điển Bách khoa Triết học của Liên
Xô, "truyền thống" có nguồn gốc từ tiếng Latinh là traditio - sự chuyển giao, lưu
truyền lại - đó là các giá trị tinh hoa văn hóa được lưu truyền từ những thế hệ
trước và nó được gìn giữ ở các xã hội, giai cấp hay nhóm xã hội nhất định. Trong
cuốn Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa có đoạn viết:
"Từ đây, cái được gọi là truyền thống chỉ khi nào nó trở thành một bộ phận thiết
yếu của cuộc sống chúng ta và chỉ khi nào nó bảo tồn cuộc sống chúng ta và chỉ
khi nào nó có khả năng phát triển cuộc sống của chúng ta" [3, tr. 23].

11
Truyền thống của một cộng đồng dân tộc bao gồm những đức tính, thói quen,
những phong tục tập quán xã hội của các thế hệ nối tiếp nhau, nó mang các đặc
trưng: cộng đồng, bình ổn, lưu truyền. "Nói đến truyền thống là nói đến phức hợp

Nam giàu lòng yêu nước, yêu thương con người, cần cù, thông minh, sáng tạo,
chịu thương, chịu khó Những đức tính đó đã trở thành những giá trị đạo đức tốt
đẹp của dân tộc Việt Nam, mà hàng ngàn đời nay chúng ta vẫn nâng niu quý
trọng.
Nói đến giá trị truyền thống của một cộng đồng dân tộc, chính là nói đến
truyền thống tốt đẹp của cộng đồng dân tộc đó. Nó chính là những giá trị bình
ổn, tốt đẹp, có thể lưu truyền từ đời này qua đời khác, là những cái cần được giữ
gìn phát huy phát triển cho phù hợp với xã hội hiện tại.
Trong hệ giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam, giá trị đạo đức truyền
thống là một bộ phận thiết yếu, nổi lên hàng đầu, tạo nên cốt lõi của hệ giá trị
tinh thần đó. Chính vì vậy, khi nói đến những giá trị đạo đức truyền thống dân
tộc ta, là nói đến những phẩm chất tốt đẹp, quý báu đã được hình thành và bảo
lưu trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam. Giá trị đạo đức truyền
thống của dân tộc ta được cô đúc, được thử thách và tái tạo qua nhiều thế hệ
khác nhau, theo những bước thăng trầm của lịch sử, nó chứa đựng một tiềm năng
hết sức to lớn và bền vững, nó chính là sức mạnh vốn có của dân tộc Việt Nam,
giúp cho dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển. Giá trị đạo đức truyền thống của

13
dân tộc ta do chính cộng đồng người Việt Nam tạo lập trong quá trình dựng nước
và giữ nước, với tất cả những điều kiện lịch sử đặc thù riêng vốn có, đã tạo nên
một bản sắc hết sức độc đáo.
1.1.2 Giá trị đạo đức truyền thống dân tộc Việt Nam
Như chúng ta đã biết, lịch sử Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm dựng
nước và giữ nước. Quá trình đó đã rèn luyện và hun đúc nên những thế hệ con
người Việt Nam giàu lòng yêu nước, sẵn sàng xả thân để cứu nước, thương yêu
con người, thương yêu đồng loại, có tinh thần chịu đựng gian khổ, khó khăn
Những đức tính đó đã trở thành truyền thống mà hàng ngàn đời nay, những thế
hệ con người Việt Nam đã nâng niu, gìn giữ, đó là những giá trị tinh thần, tư
tưởng, tâm lý như lòng yêu nước, tính cần cù, óc sáng tạo, hài hước, trọng nhân

hưởng lạc, sống không tranh giành, yêu thương nhau. Đương nhiên, tư tưởng này
vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, nhưng ít nhiều nó cũng ảnh hưởng đến
những truyền thống vốn có của ta, làm sâu đậm thêm truyền thống nhân ái yêu
thương con người của dân tộc Việt Nam.
Đạo Nho là một hệ thống quan điểm về thế giới, về xã hội và về con
người, là một học thuyết chính trị - đạo đức - xã hội (mà Khổng Tử là người khởi
xướng) đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống đạo đức của xã hội Việt Nam.
Những nội dung tư tưởng của Nho giáo như: Nhân, lễ, chính danh, tam cương,

15
ngũ thường cũng dần thấm sâu vào đời sống, trở thành lối sống, cách ứng xử ở
đời của người Việt Nam và được Việt hóa.
Đạo gia của Lão Tử cũng góp phần làm phong phú thêm cho truyền thống
vốn có của dân tộc ta, nó góp phần làm mạnh mẽ thêm tinh thần đoàn kết thân ái,
gắn bó và tinh thần chống áp bức, đô hộ khi có thời cơ.
Văn hóa Việt Nam không chỉ giao lưu với văn hóa phương Đông mà còn
có sự giao lưu với văn hóa phương Tây, đặc biệt là văn hóa Pháp. Tuy nhiên, khi
các trào lưu văn hóa, tôn giáo đó du nhập vào Việt Nam đã được nhân dân Việt
Nam kế thừa có chọn lọc để hình thành nên những nét riêng đặc trưng cho mình,
nhưng cái riêng đó nó vẫn luôn ẩn chứa cái chung tạo nên sự tương đồng trong
việc hình thành nên các giá trị đạo đức của các dân tộc khác trên thế giới.
Cho đến nay, văn hóa Việt Nam tuy có nhiều thay đổi trên nhiều phương
diện nhưng vẫn giữ được cốt cách, bản sắc văn hóa riêng của mình, hội nhập mà
không hòa tan, không đánh mất mình và vẫn giữ được những giá trị đạo đức
truyền thống tốt đẹp quý báu của dân tộc. Nghị quyết Hội nghị lần thứ Năm Ban
chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) "Về xây dựng và phát triển nền văn hóa
Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc", đã khẳng định:
Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững,
những tinh hoa được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước
và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, lòng tự tôn, tự cường dân tộc, tinh


17
giá trị của các giá trị" [12, tr. 94], là "động lực tình cảm lớn nhất của đời sống
dân tộc, đồng thời là bậc thang cao nhất trong hệ thống giá trị đạo đức của dân
tộc ta" [19, tr. 74].
Tất cả mọi dân tộc trên thế giới đều có tình cảm yêu quê hương đất nước
mình. Nhưng đối với dân tộc Việt Nam, tình yêu quê hương đất nước là một
thứ tình cảm hết sức thiêng liêng, nó xuất phát từ ý thức cộng đồng gắn bó keo
sơn. Mỗi người dân Việt Nam, đều đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên hết, khi có
giặc ngoại xâm, sẵn sàng hy sinh thân mình, lúc hòa bình biết chăm lo xây
dựng và bảo vệ quê hương đất nước. Lòng yêu nước của dân tộc ta đã trở thành
triết lý sống, triết lý nhân sinh, trở thành chủ nghĩa yêu nước. GS. Trần Văn
Giàu có viết: "Chủ nghĩa yêu nước là sản phẩm của bản thân lịch sử Việt Nam
được bắt đầu từ tình cảm tự nhiên của mỗi người đối với quê hương mình tiến
lên thành lý tưởng và hệ thống tư tưởng làm chủ của nhận thức đúng sai, tốt
xấu, nên chăng và chỉ đạo rất nhiều phương lược xây dựng và bảo vệ nước nhà"
[11, tr. 7].
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam ngay từ đầu đã gắn
bó con người với thiên nhiên, với quê hương xứ sở của mình, chính vì vậy truyền
thống yêu nước của dân tộc Việt Nam bắt nguồn từ tình yêu đối với quê hương
làng xóm, yêu cây đa, bến nước, sân đình, nơi có ông bà, cha mẹ, vợ chồng, anh
chị em, con cái, bạn bè, bà con hàng xóm, nơi có mồ mả tổ tiên. Nơi con người
hàng ngày vất vả chiến đấu với thiên nhiên để duy trì và xây dựng cuộc sống.
Lịch sử của dân tộc Việt Nam gắn liền với lịch sử chống giặc ngoại xâm.
Vì vậy, yêu nước trước hết là tinh thần chiến đấu chống giặc ngoại xâm của dân
tộc. Cho dù ở hoàn cảnh nào, nhân dân Việt Nam vẫn luôn kiên cường bất khuất,

18
"thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm
nô lệ", già trẻ gái trai nhất tề đứng lên đánh giặc, "còn cái lai quần cũng đánh".

mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh. Có thể nói rằng, dưới thời đại Hồ Chí Minh, truyền thống
yêu nước được phát huy lên tầm cao mới thành lý tưởng: sống, chiến đấu, lao
động, học tập vì độc lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân
dân
Cùng với chủ nghĩa yêu nước, Truyền thống nhân ái - yêu thương con
người là một trong những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta, truyền
thống ấy có nguồn gốc sâu xa từ trong sinh hoạt công xã nông thôn, được củng
cố và phát triển qua quá trình chung lưng, đấu cật khai phá giang sơn, giữ gìn đất
nước. Tấm lòng nhân nghĩa, nhân ái đó chính là cơ sở cho cách xử thế ở đời của
người Việt Nam, là triết lý sống của dân tộc Việt Nam. Hết lòng vì nghĩa cả,
giúp đỡ nhau trong hoạn nạn, khó khăn mà không hề tính toán, lên án mạnh mẽ
những kẻ tàn ác "táng tận lương tâm", "phụ tình bạc nghĩa".
Từ trong sâu lắng của lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn luôn gắn tình yêu
quê hương đất nước với lòng nhân ái - yêu thương con người. Do vậy, người
Việt Nam luôn xả thân vì đất nước, con người yêu nước và con người yêu dân
gắn bó chặt chẽ với nhau. Trong suốt trường kỳ lịch sử, dân tộc ta luôn luôn
đứng trước nguy cơ bị xâm lược và bị đồng hóa, hơn ai hết, chúng ta hiểu rất rõ
quyền sống của mình gắn với vận mệnh của Tổ quốc và dân tộc.

20
Lòng nhân ái nhân nghĩa của người Việt Nam còn thể hiện ở lòng vị tha
cao thượng, không cố chấp đối với những người lầm đường lạc lối, nhưng biết
lập công chuộc tội, trở về với chính nghĩa. Chính tư tưởng "lấy nhân nghĩa để
thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo" trong Bình Ngô đại cáo của
Nguyễn Trãi là sự thể hiện đỉnh cao của lòng nhân ái đó. Người Việt Nam lấy
tình yêu thương làm cách xử thế ở đời, đối với kẻ thù thậm chí còn mở đường
hiếu sinh khi thua trận, Vua Quang Trung sau khi đánh bại quân Thanh còn cấp
lương thảo và phương tiện cho đám tàn quân về nước.
Hồ Chủ tịch là hiện thân của lòng nhân ái, nhân nghĩa. Xuất phát từ lòng

chủ ấy mà trong suốt quá trình lịch sử bốn ngàn năm, dân tộc ta đã làm nên
những chiến công oanh liệt. Từ ngày có Đảng, dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội, truyền thống yêu nước và dân chủ của nhân dân ta được nâng
lên một trình độ mới và phát huy mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Truyền thống nhân nghĩa nhân ái là một trong những truyền thống tốt đẹp
của dân tộc ta. Nó là cái gốc của đạo đức, truyền thống này chính là nguồn gốc
sâu xa nhất, bền chặt nhất của chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, chủ nghĩa nhân đạo
hiện thực chứ không phải chủ nghĩa nhân đạo chung chung trừu tượng phi hiện
thực, phi lịch sử, phi giai cấp của các giáo lý tôn giáo hay theo cách hiểu của
Phoiơbắc.
Truyền thống cần cù, tiết kiệm, thông minh, sáng tạo là một giá trị đạo đức
có từ bao đời của dân tộc Việt Nam. Nó được hình thành và phát triển trong điều

22
kiện, hoàn cảnh tự nhiên xã hội không ít những khó khăn khắc nghiệt ngay từ
những buổi đầu dựng nước và giữ nước.
Về tự nhiên: liên tục xảy ra bão lụt hạn hán, về xã hội: liên tục chiến tranh
chống giặc ngoại xâm. Nhưng, trong suốt tiến trình lịch sử của dân tộc, những
người dân Việt Nam vẫn kiên trì bám đất, bám làng, vừa sản xuất vừa đánh giặc
để tồn tại và bảo vệ đất nước. Sống trong hoàn cảnh khó khăn gian khổ như vậy,
nhưng nhờ có đức tính cần cù và tiết kiệm, mà nhân dân ta đã vượt qua, để từng
bước tự khẳng định mình trên con đường phát triển của dân tộc.
Để có bát cơm thơm dẻo, người nông dân đã phải một nắng hai sương
"bán mặt cho đất bán lưng cho trời", hình ảnh người nông dân trong những câu
ca dao dân ca Việt Nam còn đó: "Trên đồng cạn dưới đồng sâu, chồng cày vợ
cấy con trâu đi bừa". Ông cha ta thường dạy con cháu phải biết quý trọng thành
quả lao động của con người: "Ai ơi bưng bát cơm đầy, dẻo thơm một hạt đắng
cay muôn phần".
Truyền thống cần cù của người Việt Nam luôn gắn với tiết kiệm, vì vậy
cần mà không kiệm thì khác nào: "Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống". Nên

truyền thống đoàn kết anh em giữa các dân tộc.

24
Cách dùng từ "đồng bào"- một từ Hán, nhưng chỉ có người Việt Nam sử
dụng để chỉ mối thâm tình "gà cùng một mẹ", cho đến lịch sử hình thành của một
dân tộc Việt Nam: theo lời gọi của tiếng trống Hùng Vương mà mười lăm bộ lạc
hợp thành một quốc gia Văn Lang thống nhất.
Thấy rõ vai trò của yếu tố đoàn kết, cha ông ta luôn có ý thức chống chính
sách chia rẽ của các thế lực ngoại bang và xu hướng cát cứ của các thế lực phong
kiến. Từ chính sách "dùng người Việt đánh người Việt" của bọn phong kiến
phương Bắc đến chính sách "chia để trị" của thực dân Pháp, của đế quốc Mỹ đều
lần lượt bị thất bại trước tinh thần đoàn kết của nhân dân ta.
Ý thức cộng đồng, tinh thần đoàn kết đã trở thành điểm tựa tinh thần vững
chắc, một động lực mạnh mẽ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc cũng như trong
sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Xưa Nguyễn Trãi nói: "Chèo thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân" để chỉ
sức mạnh đoàn kết của nhân dân. Dân là gốc, là nền tảng của sự tồn tại và phát
triển. Lúc sinh thời Bác Hồ từng nói: Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó
trăm lần dân liệu cũng xong. Và: "Việc gì khó cho mấy, quyết tâm làm thì làm
chắc được, ít người làm không nổi, nhiều người đồng tâm hiệp lực mà làm thì
phải nổi" [17, tr. 258]. Người còn khẳng định: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết;
thành công, thành công, đại thành công". Trước lúc đi xa, Người còn căn dặn các
cán bộ, đảng viên: "Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và
của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn
kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình" (Di chúc của Chủ
tịch Hồ Chí Minh công bố năm 1969).

25
Truyền thống giáo dục - hiếu học của người Việt Nam được hình thành từ
nhiều thế hệ. Là người Việt Nam ngay từ thuở ấu thơ đã được sống trong lời ru


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status