MỤC LỤC
TT
NỘI DUNG
Trang
1
Trang bìa
2
Mục lục
1
3
Phần thứ nhất: Mở đầu
2
4
Phần thứ 2: Giải quyết vấn đề
4
10
III. Phần kết luận và kiến nghị
24
1
Phần thứ nhất: MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
Có thể nói trong trường kì lịch sử loài người, môn Văn là một môn học
có lịch sử lâu đời nhất trong các môn học. Trong bất kì giai đoạn nào, môn học
này cũng hướng tới các nhiệm vụ chủ yếu sau đây :
Thứ nhất, giúp người học biết đọc, biết viết (biết chữ)
Thứ hai giúp người đọc thấy được cái hay, cái đẹp và biết cảm nhận,
thưởng thức cái hay, cái đẹp của văn chương, nghệ thuật.
Thứ ba, thông qua hai nhiệm vụ trên mà mở mang tri thức, giáo dục tư
tưởng, tình cảm và rèn luyện nhân cách cho người học sinh.
Ngày nay, khi đất nước bước sang một giai đoạn mới, mục tiêu của giáo
dục nhà trường phổ thông đã xác định rõ trong luật giáo dục:
“ Mục tiêu giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo
đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản nhằm hình thanh nhân cách
con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công
dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động,
tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc” (Luật Giáo dục – Điều 23)
Do yêu cầu gắn với cuộc sống hiện tại nên chương trình Ngữ văn trung
tích hợp. Các văn bản được lựa chọn theo tiêu chí Kiểu văn bản( Tập làm văn)
và tương ứng với kiểu văn bản là Thể loại tác phẩm(văn học). Điều này có nghĩa
là việc lựa chọn các văn bản căn cứ trước hết vào tính chất tiêu biểu của kiểu
văn bản và thể loại tác phẩm. Song bên cạnh đó còn có một nội dung mà chương
trình Ngữ văn quan tâm là sự cập nhật, gắn kết với đời sống, đưa học sinh trở lại
với những vấn đề vừa quen thuộc gần gũi hàng ngày, vừa có ý nghĩa lâu dài,
trọng đại mà tất cả các dân tộc cùng quan tâm hướng tới … Đó chính là hệ thống
các văn bản nhật dụng.
Nhưng để truyền đạt những kiến thức cơ bản và đạt được mục đích đã xác
định thì mỗi người hoàn toàn có thể lựa chọn cho mình một con đường với
những cách thức và các thao tác sư phạm của riêng mình. Con đường riêng ấy
được hình thành từ những suy nghĩ của cá nhân về nội dung bài dạy cũng như
đối tượng học sinh.
Cho nên trong gần 20 năm giảng dạy ở trường THCS Buôn Trấp, bản thân
tôi đã xác định mục đích nghiên cứu của mình là làm sao để học sinh khối 7 mà
mình đã, đang và sẽ giảng dạy thông qua các bài học cụ thể của nhóm văn bản
nhật dụng mà hiểu biết một cách sâu sắc những vấn đề về quyền trẻ em, nhà
trường, phụ nữ (người mẹ) và vấn đề văn hóa giáo dục. Ngoài ra còn nhằm góp
phần tạo thêm sự hứng thú và nâng cao hiệu quả của giờ lên lớp của mỗi giáo
viên.
Mục đích chính của đề tài là nhằm đưa ra hướng giải quyết một số thắc
mắc về kiến thức và phương pháp dạy học, để từ đó bản thân có thêm kinh
nghiệm dạy tốt phần văn bản nhật dụng, đồng thời cũng đáp ứng được nhu cầu
đổi mới chương trình Ngữ văn lớp 7 ở trường THCS hiện nay.
3
Cũng có thể đề tài này chỉ là một tài liệu dùng để tham khảo để phục vụ
viên ở một số trường vẫn chưa thực sự quan tâm thích đáng đến phần văn bản
này. Do đó mà việc vận dụng và đổi mới phương pháp trong tiết dạy văn bản nói
chung và văn bản nhật dụng nói riêng có một vai trò vô cùng quan trọng. Với
các em khi học văn bản nhật dụng không chỉ là để mở rộng hiểu biết toàn diện
mà còn nhằm tạo cho các em thực hiện nguyên tắc là để các em hoà nhập với
cuộc sống xã hội và rút ngắn khoảng cách giữa nhà trường và xã hội.
II. Thực trạng vấn đề:
1/ Thực trạng của vấn đề: Thực tế khi đứng trên lớp trực tiếp giảng dạy
cùng với sự đóng góp ý kiến trao đổi với các đồng nghiệp bản thân tôi nhận thấy
khi khai thác giảng dạy văn bản nhật dụng giáo viên thường mắc phải một số
hạn chế như sau:
Giáo viên coi những văn bản này là một thể loại cụ thể giống như truyện,
kí…. Trong khi đó bản thân nó lại không phải. Vì thế giáo viên chỉ chú ý dựa
5
vào các điểm của thể loại như: cốt truyện, nhân vật, tình huống, sự việc ghi chép
để phân tích nội dung.
Giáo viên thường chú ý khai thác và bình giảng trên nhiều phương diện
của sáng tạo nghệ thuật như: cốt truyện, nhân vật, cách kể mà chưa chú trọng
đến vấn đề xã hội đặt ra trong văn bản gần gũi với học sinh.
Ví dụ khi dạy văn bản Cuộc chia tay của những con búp bê, GV chỉ chú
ý truyền tải nội dung, cốt truyện mà chưa giúp học sinh liên hệ với chính bản
thân mình nếu xãy ra vấn đề đó đối vói gia đình, bạn bè và những người xung
quanh mình.
Hơn nữa giáo viên quá nhấn mạnh yêu cầu gắn kết tri thức trong văn bản
với đời sống mà giáo viên chưa chú ý nhiều tới liên hệ thực tế dẫn đến khai thác
kiển thức chưa đầy đủ.
bài dân ca Bắc Bộ… còn rất hạn chế.
+ Giáo viên chưa xác định đúng mục tiêu đặc thù của bài học văn bản
nhật dụng.
+ Giáo viên ít sưu tầm các tài liệu liên quan đến văn bản nhật dụng để bổ
sung cho bài học thêm phong phú.
+ Một nguyên nhân có thể nói là khó có thể giải quyết ngay được là việc
học của học sinh. Đa phần học sinh của trường chúng tôi là con nông dân, sự
quan tâm của cha mẹ đến việc học của con cái chưa thực sự tốt nhiều gia đình đi
làm ăn xa không có điều kiện quan tâm đến các em. Nhiều em không chăm học,
về nhà không học bài, không chuẩn bị bài trước khi đến lớp dẫn đến không hiểu
bài. Điều đó đã làm cho giáo viên càng gặp khó khăn hơn.
+ Đồng thời hệ thống văn bản nhật dụng trong sách giáo khoa ngữ văn lớp
7 lại tồn tại dưới nhiều kiểu văn bản khác nhau. Đó có thể là truyện ngắn (Cuộc
chia tay của những con búp bê), một bài bút kí(Ca Huế trên sông Hương)Cũng
có thể là một bài báo biểu cảm(Cổng trường mở ra), Bức thư(Mẹ tôi). Năm học
2014-2015 bản thân tôi được phân công giảng dạy môn Ngữ văn lớp 7 từ thực
trạng nêu trên nên kết quả của việc học văn bản nhật dụng của năm 2014- 2015
được thể hiện qua bài kiểm tra 15 phút như sau (cụ thể tôi dạy 3 lớp 7a4, 7a7,
7a8).
Lớp
Điểm 8-> 10
5-> 7
1->4
7a4, 7a7, 7a8
(TS: 98)
1.3) Không nên quan niệm đây là những sáng tác tiêu biểu cho các tác
phẩm văn học của một thời kì hay một tác giả nào đấy để đặt ra hay đòi hỏi qua
cao yêu cầu về nghệ thuật của văn bản. Mặc dù các văn bản nhật dụng trong
chương trình Ngữ văn THCS có cách viết trong sáng, chuẩn mực, nhưng có lẽ
nhà biên soạn chủ yếu vẫn là chú ý đến nội dung chính đặt ra trong tác phẩm ấy.
Vì vậy khi dạy học các văn bản nhật dụng , GV nên tập trung khai thác các vấn
đề nội dung tư tưởng đặt ra ở mỗi văn bản; từ đó mà liên hệ , giáo dục tư tưởng,
tình cảm và ý thức cho HS trước các vấn đề mà cả xã hội đang quan tâm.
2) Những lưu ý về nội dung khi dạy các văn bản nhật dụng trong sách
giáo khoa Ngữ văn 7:
2.1) Trong chương trình Ngữ văn 7 gồm 4 văn bản nhật dụng sâu đây:
- Cổng trường mở ra Của Lí Lan.
- Mẹ tôi của Et-môn-đô-đơ A-mi-xi trong Những tấm lòng cao cả.
- Cuộc chia tay của những con búp bê của Khánh Hoài.
- Ca Huế trên sông Hương của Hà Ánh Minh.
Hai văn bản Cổng trường mở ra Của Lí Lan và Mẹ tôi của Et-môn-đôđơ A-mi-xi nhằm khai thác nội dung người mẹ và nhà trường. Văn bản Cuộc
chia tay của những con búp bê của Khánh Hoài thuộc đề tài quyền trẻ em. Văn
bản cuối là một bài báo giới thiệu một sản phẩm văn hóa nổi tiếng của một địa
8
danh nổi tiếng với một con sông nổi tiếng: Ca Huế trên sông Hương của Hà Ánh
Minh.
2.2. Nắm chắc đặc điểm và ý nghĩa của các nội dung đặt ra trong mỗi văn
bản nhật dụng để hướng dẫn học sinh tự liên hệ, rút ra được bài học cho
chính bản thân mình. Chẳng hạn:
2.2.1 Cổng trường mở ra là một bài kí được trích từ báo là một bài kí
được trích từ báo Yêu trẻ – thành phố Hồ Chí Minh của tác giả Lí Lan. Bài văn
2.2.3 Cuộc chia tay của những con búp bê của Khánh Hoài tuy là một
truyên ngắn, nhưng khi vào sách Ngữ văn, văn bản này vẫn chủ yếu được khai
thác theo tinh thần của một văn bản nhật dụng. Đây là văn bản thể hiện vấn đề
quyền trẻ em, một trong những nội dung chính của mảng văn bản nhật dụng
trong chương trình Ngữ văn 7. Trẻ em có rất nhiều quyền. Điều đó đã được ghi
trong công ước quốc tế về quyền trẻ em của Liên hợp quốc 1989. Tuy vậy đề tài
về quyền trẻ em thì không phải nhiều. Các tác giả thường khai thác ở một số vấn
đề như: Nỗi khổ về cuộc sống vật chất và nỗi đau về tinh thần. Một trong những
nỗi đau về tinh thần đó là nỗi đau sống thiếu cha, thiếu mẹ. Cha mẹ không may
mất đi là một nỗi đau đã đành. Cha mẹ vẫn sống mà con cái vẫn bị chia lìa xa
cách mới là điều đáng nói. Nỗi đau này do chính con người tạo nên cho bản thân
và con cái mình. Truyện Cuộc chia tay của những con búp bê viết về vấn đề này
nhưng qua câu chuyện người đọc còn thấy được những tình cảm anh em trong
sáng, thân thiết, sự gắn bó máu thịt và tấm lòng nhân hậu, vị tha của những em
bé chẳng may rơi vào cảch hạnh phúc gia đình tan vỡ. Truyện ngắn này đã được
giải nhì trong cuộc thi thơ văn viết về quyền trẻ em do viện khoa học giáo dục
và tổ chức cứu trợ trẻ em Thuỵ Điển tổ chức năm 1992. Khi đọc văn bản này,
bản thân tôi cũng hơi băn khoăn là liệu vấn đề khá tế nhị và phức tạp của người
lớn (chuyện li hôn) mà cho HS lớp 7 biết như thế có quá sớm không? Sau khi
trao đổi với đồng nghiệp tôi mới nhận thấy việc dạy văn bản này cho lứa tuổi
này không có gì đáng lo lắng vì:
- Thứ nhất, vấn đề hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ, bố mẹ li hôn, con cái chịu
nhiều đau đớn, thua thiệt,… là một sự thật không nên né tránh trong xã hội. Các
phương tiện thông tin đại chúng ( sách, báo, phát thanh, truyền hình,…)cũng
thường xuyên khai thác vấn đề này. Vì thế đây không còn là câu “chuyện kín”
cần phải giữ gìn, “che đậy” với các em.
- Thứ hai, nội dung chính của truyện Cuộc chia tay của những con búp
bê không tập trung khai thác và miêu tả trực tiếp cảnh đổ vỡ giữa cha mẹ (như
tên các làn điệu ca Huế, nhạc cụ và các “ngón đàn” của ca công. Khi học, GV
không nên bắt các em phải nhớ, phải hiểu hết các chú thích. Nên chốt lại vấn đề
bằng việc khái quát: Ca Huế đa dạng và phong phú đến nỗi chúng ta khó mà nhớ
hết được tên các làn điệu, tên các nhạc cụ và các ngón đàn của ca công.
Bài học này nằm gần với phần chương trình Ngữ văn địa phương(tuần 29)
và hoạt động Ngữ văn (tuần 31) vì thế GV cần liên hệ nội dung bài học này với
các nội dung sẽ học trong các tuần đó. Ví dụ:
- Từ bài văn đề nghị các em liên hệ với các làn điệu dân ca nói riêng và
các sản phẩm văn hóa tinh thần nói chung của quê hương mình.
- Thử sưu tầm và giới thiệu một băng, đĩa nhạc có ca Huế, hoặc các bài
hát hiện đại phỏng theo những điệu ca Huế.
- Thử tập hát một vài làn điệu ca Huế hoặc giới thiệu một làn điệu dân ca
của quê hương mình.
11
- Viết bài tập tìm hiểu về các vùng dân ca nổi tiếng của dân tộc như: dân
ca quan họ Bắc Ninh, dân ca Nghệ Tĩnh, dân ca Nam bộ, dân ca Liên
khu Năm,…
3 / Những lưu ý về phương pháp (phương pháp chủ động) khi dạy văn
bản nhật dụng:
Tinh thần chung của PPDH mới là: Tôn trọng HS, tránh áp đặt, linh hoạt,
chủ động và sáng tạo. HS tự mình tiếp xúc vơíù các văn bản, tự mình suy nghĩ
khám phá cái hay, cái độc đáo của tác phẩm dưới sự hướng dẫn của thầy. Do đó
GV cần lưu ý:
3.1/ Xác định mục tiêu dạy học
Đối với tác phẩm văn chương, hoạt động đọc- hiểu là việc đọc nghiền
khác nhau nên các em cần bàn bạc và thống nhất ý kiến trong nhóm. Mỗi nhóm
lại có thể có mỗi cách suy luận khác nhau, miễn là hợp lí. Tổng hợp ý của các
nhóm sẽ là: Tình cảm sâu sắc thường tế nhị và kín đáo nhiều khi không nói trực
tiếp được. Hơn nữa viết thư là chỉ nói riêng cho người mắc lỗi biết, vừa giữ
được sự kín đáo, tế nhị, vừa không làm người mắc lỗi mất đi lòng tự trọng. Đây
chính là bài học sâu sắc về cách ứng xử trong cuộc sống gia đình cũng như trong
nhà trường và xã hội.
3.3/ Việc lớp học trở nên ồn ào hơn mỗi khi thảo luận cần được hiểu là
dấu hiệu của hoạt động học tập tích cực chứ không có nghĩa là kỉ luật lớp học
lỏng lẻo. Tránh kiểu “ im lặng nhà thờ”.
3.4/ Lên kế hoạch và chuẩn bị bài giảng sao cho có thể kết hợp các kiến
thức của bài học với các ví dụ tương ứng, sử dụng những kiến thức liên quan
đến tình hình địa phương nơi trường đang đóng cũng như liên hệ với thực tế
cuộc sống hiện nay một cách linh hoạt có tác dụng giúp HS tự rút ra bài học cho
bản thân.
3.5/ Lấy SGK làm chuẩn, cung cấp kiến thức không nên qua nặng nề, ôm
đồm làm phức tạp hóa các vấn đề vốn đơn giản. Biết mười để dạy một là một tư
tưởng đúng, nhất là dạy đúng cái “một” đó. Không nên biết mười rồi giới thiệu
luôn cả mười, có gì thì các thầy cô đều muốn nói hết cho HS. Đây là một trong
những nguyên nhân tạo nên tình trạng “quá tải” không chỉ đối với HS mà cả đối
với GV. Hãy để cho HS tự tìm tòi, phát hiện với lượng kiến thức vừa sức của các
em.
3.6/ Chú ý tính phân hóa trong HS. Đưa ra các bài tập phải đa dạng, có bài
tập mở rộng đối với HS khá và cũng có bài tập đặc biệt dành cho HS yếu kém.
Ví dụ: Khi dạy bài Cuộc chia tay của những con búp bê, GV đặt câu hỏi : Lời
nói và hành động của Thuỷ khi thấy anh chia hai con búp bê “Vệ Sĩ” và “Em
Nhỏ” ra hai bên có gì mâu thuẩn? Theo em có cách nào để giải quyết mâu
thuẩn ấy không? Kết thúc truyện Thuỷ đã lựa chọn cách giải quyết như thế nào?
Chi tiết này gợi lên trong em những suy nghĩ và tình cảm như thế nào?
Câu hỏi này buộc HS đi sâu vào phân tích một sự việc (hành động) của
Trong khi chính các em rút ra rất nhiều bài học tự nhiên, cảm động, không kém
phần sâu sắc:
- Anh em phải thương yêu nhau.
- Cha mẹ không nên li hôn.
- Không được chia rẽ tình cảm anh em, phải để cho anh em ruột thịt được
sống bên nhau dù bất cứ lí do gì.
- Người lớn phải tôn trọng, lắng nghe ý kiến của trẻ con trước khi quyết
định li hôn.
- Không được bắt trẻ em nghỉ học.
14
Từ một câu chuyện cảm động đã gợi lên trong các em rất nhiều các suy
nghĩ đáng được trân trọng. Chẳng lẽ chúng ta buộc các em chỉ được rút ra bài
học mà cô đã ghi trên bảng.
III. BÀI SOẠN MẪU:
TIẾT 113- Văn bản: CA HUẾ TRÊN SÔNG HƯƠNG
<Hà Minh Ánh>
A/ Mục tiêu cần đạt: Giúp hs
1. Kiến thức: Hiểu về ý nghĩa văn hoá, xã hội của ca Huế. Từ đó có thái độ và
hành động tích cực góp phần bảo tồn, phát triển di sản văn hoá dân tộc đặc sắc
và độc đáo này.
- Khái niệm thể loại bút kí. Giá trị văn hoá, nghệ thuật của ca Huế. Vẻ đẹp của
con người xứ Huế.
2. Kĩ năng: Đọc- hiểu văn bản nhật dụng viết về di sản văn hoá dân tộc, phân
tích văn bản nhật dụng theo thể loại thuyết minh.
Tích hợp: Kiến thức tập làm văn để viết bài thuyết minh.
NỘI DUNG
* Hướng dẫn tìm hiểu chung
I. Tìm hiểu chung
GV: Gọi HS đọc chú thích * SGK
1. Tác giả- tác phẩm
? Văn bản do ai sáng tác.
2. Đọc- từ khó:(SGK)
GV: Hướng dẫn hs đọc(Chậm rãi, rõ ràng, mạch lạc,
lưu ý những câu đặc biệt)
GV đọc mẫu một đoạn, gọi hs đọc tiếp sau đó sữa
chữa, uốn nắn những chổ đọc sai, chưa chuẩn.
HS đọc
? Em biết gì về cố đô Huế? Hãy nêu một vài đặc điểm
tiêu biểu của xứ Huế mà em biết?
(Về vị trí địa lí: Huế thuộc miền trung Việt Nam, phía
nam giáo Đà Nẵng, phía bắc giáp Quảng Trị.
Về đặc điểm lịch sử: Huế (Phú Xuân)từng là kinh đô
của nhà Nguyễn hơn trăm năm(1802- 1945)
16
thời sự, gần gũi đang diễn ra trong cuộc sống hôm
nay. Vậy đâu là là nội dung của văn bản nhật dụng
này?
(Phản ánh một nét đẹp của văn hoá truyền thống cố
đô Huế, đó là ca Huế trên sông Hương)
17
Huế là một trong những di sản
văn hoá đáng tự hào của người
dân xứ Huế. Cần được giữ gìn và
phát huy).
GV: Đây không phải là một truyện ngắn một sáng tác
có tính hư cấu mà chỉ là một bút kí ghi chép lại một
sinh hoạt văn hoá: Dân ca Huế trên sông Hương.
Qua cảnh sinh hoạt này mà giới thiệu những vẻ đẹp
+ Phương thức biểu đạt: miêu tả,
của ca cảnh Huế, giới thiệu những hiểu biết của tác
biểu cảm.
giả về nguồn gốc, sự phong phú của các làn điệu dân
ca Huế.
? Văn bản có thể chia làm mấy phần? Nêu nội dung +Bố cục: 2 phần
P1: Từ đầu-> lí Hoài Nam:
của từng phần?
Giới thiệu một số điệu dân ca
HS: trả lời
Huế
- Hò lơ, hò ô, xay lúa,...(gần gũi
với dân ca Nghệ Tĩnh)
HS trả lời
GV cho hs xem tranh về các nhạc cụ
- Nam ai, nam bình, tương tư
khúc...(buồn man mác, thương
cảm, bi ai, vương vấn)
- Tứ đại cảnh: không vui, không
buồn
* Một số nhạc cụ:
- Đàn tì bà, đàn tranh, đàn nhị,
18
Đàn tì bà
đàn bầu
đàn tranh
sáo
Cặp sanh
đàn bầu, sáo, đàn thập lục, cập
sanh, đàn nguyệt
diễn của họ?
* HS quan sát tranh và cho biết bức tranh minh hoạ
cho nội dung nào?
? Chi tiết nào miêu tả cảnh đêm trăng nghe ca Huế
trên sông Hương?
Đêm thành phố-> hồn người
- Không gian:
- Thời gian:
* Thảo luận nhóm bàn
-> Cảnh thơ mộng, yên tĩnh, êm
? Khung cảnh và sân khấu của buổi ca Huế hiện lên đềm
độc đáo như thế nào về thời gian, không gian?
-> Con người háo hức, nồng hậu,
- Thời gian: Đêm khi thành phố lên đèn như sao sa. duyên dáng, lịch sự.
Trăng lên, đến khi gà gáy bên làng Thọ Cương, cùng
=> Trong không gian huyền ảo,
tiếng chuông chùa Thiên Mụ gọi năm canh
thơ mộng cách thưởng thức ca
- Không gian: Trăng lên. Gió mơn man dìu dịu... màn Huế vừa dân dã, vừa sang trọng
sương dày dần lên... thơ mộng.
giữa một thiên nhiên đẹp và lòng
GV: cho hs xem cảnh sân khấu buổi ca Huế.
người trong sáng.
? Vậy qua đó em thấy tính chât nổi bật nào của ca gian và nhã nhạc cung đình Huế
Huế?(Ca Huế có sự kết hợp 2 tính chất dân gian và
cung đình, trong đó đặc sắc nhất là nhạc cung đình tao
nhã. Ca Huế vừa sôi nổi, tươi vui, vừa trang trọng, uy
nghi.)
Cho hs xem tranh
-> Ca Huế là hình thức sinh hoạt
văn hoá truyền thống, một sản
? Tại sao thể điệu ca Huế vừa sôi nổi tươi vui vừa phẩm văn hoá phi vật thể rất đáng
trân trọng cần được bảo tồn và
trang trọng uy nghi?
21
phát triển
? Tóm lại qua văn bản, qua hình ảnh quan sát được,
em có nhận xét gì về ca Huế?
? Tại sao nói ca Huế là một thú vui tao nhã?
Các nhóm thảo luận- 3p. Đại diện báo cáo kết quả
GV chốt: Ca Huế thanh cao, lịch sự, nhã nhặn, sang
trọng và duyên dáng từ nội dung đến nghệ thuật, từ
- Con người xứ Huế thanh lịch,
cách biểu diễn đến phục trang-> ca Huế quả là thứ tao
tao nhã, kín đáo, giàu tình cảm.
nhã.
3. Tổng kết:
? Qua ca Huế em hiểu gì về tâm hồn con người nơi
sông Hương
? Sau khi học xong vb em biết thêm điều gì về vùng
đất này
HS trả lời- GV mở rộng: Nhã nhạc cung đình đã được
UNESCO công nhận là di sản văn hoá phi vật thể
* GV liên hệ giáo dục môi trường
GD HS nhận thức giá trị tinh thần của bản sắc văn
22
hoá dân tộc từ đó biết giữ gìn và phát huy nét đẹp văn
hoá đó
IV. Luyện tập
* Hướng dẫn luyện tập
Hướng dẫn hs làm bài
Mục tiêu: HS biết vận dụng thực hành
? Bên cạnh cái nôi dân ca Huế miền Trung em còn
biết những vùng dân ca nổi tiếng nào của nước ta?
Liên hệ: Dân ca quan họ Bắc Ninh, dân ca đồng
bằng Bắc Bộ, dân ca các dân tộc miền núi phía
Bắc.
? Địa phương nơi em sinh sống có những làn điệu dân
ca nào? Hãy kể tên các làn điệu ấy?
? Em hãy hát một bài dân ca mà em thíchBài tập
SGK/ 104
HS đọc và nêu yêu cầu
HS thảo luận nhóm
4.Cũng cố: Cũng cố nội dung toàn bài
V. Hiệu quả SKKN:
Từ những giải pháp trên tôi áp dụng vào tiết dạy văn bản nhật dụng ở lớp
7ª4, 7ª7, 7ª8 năm học 2014-2015(kiểm tra 15 phút đợt 2), các lớp 7ª1, 7ª2 năm
học 2018-2019 cũng tại trường THCS Buôn trấp đạt được kết quả như sau:
Lớp
20142015
20182019
Lớp 7ª4, 7ª7, 7ª8
Điểm 8-> 10
Điểm 5-> 7
Điểm 1-> 4
28
60
10
27
42
01
(TS: 98 học sinh)
7ª1, 7ª2