THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN:
1. Tên sáng kiến: “DẠY HỌC VĂN BẢN NHẬT DỤNG TRONG
CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THCS”
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Giáo viên dạy Ngữ văn các Trường THCS.
3. Tác giả: Nguyễn Thị Quất
Sinh ngày 02 tháng 9 năm 1962.
Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Ngữ văn
Chức vụ: Hiệu trưởng
Đơn vị công tác: Trường THCS Kiến Quốc, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải
Dương. Số điện thoại: 0912 754 185
4. Đồng tác giả: Không.
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Quất.
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Tổ Khoa học xã hội - Trường THCS
Kiến Quốc, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Địa chỉ: Thôn Cúc Thị, xã Kiến Quốc, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
Điện thoại: 03203 769 214.
7. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến:
- Áp dụng cho giáo viên dạy môn Ngữ văn (phần văn bản nhật dụng) các
Trường THCS thuộc loại hình hệ thống giáo dục quốc dân có đủ tiêu chuẩn đánh
giá chất lượng giáo dục trường trung học.
8. Thời gian áp dụng sáng kiến lần đầu: Năm học 2010- 2011. Tiếp tục áp
dụng: Năm học 2011 – 2012. Áp dụng đạt hiệu quả cao: Năm học 2012 - 2013,
Năm học 2013 - 2014 đến nay.
TÁC GIẢ
XÁC NHẬN CỦA
ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
1
- Phù hợp với phương thức biểu đạt của mỗi văn bản.
3
- Đáp ứng dạy học tích hợp.
- Đáp ứng dạy học tích cực.
3. Vận dụng dạy học văn bản nhật dụng( Thiết kế bài giảng: Văn bản: "
Thông tin về ngày trái đất năm 2000", (Tiết 39 - Ngữ văn 8)
Mong muốn sáng kiến này sẽ là một nhành hoa nhỏ đồng hành cùng ngàn hoa
tươi sắc trong các trường THCS, góp phần thực hiện thắng lợi nghị quyết 29 –
NQTW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
4
MÔ TẢ SÁNG KIẾN:
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
LÝ DO CHỌN VẤN ĐỀ:
Môn Ngữ văn trong chương trình THCS được xây dựng theo quan điểm tích
hợp giữa ba phân môn: Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn, gồm các kiểu văn bản: Tự
sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, hành chính, nghị luận. Văn bản nhật dụng đã
thể hiện sự hiện diện của các kiểu văn bản trên.
Sự hiện diện của các văn bản nhật dụng vừa mang tính đổi mới so với chương
trình cũ, vừa cuốn hút học sinh yêu môn ngữ văn và thích viết văn hơn .
Mang nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người
và cộng đồng trong xã hội hiện đại, các văn bản nhật dụng thường hướng người
đọc vào những vấn đề thời sự gần gũi hàng ngày mà mỗi cá nhân và cộng đồng
đều quan tâm như môi trường, dân số, di tích văn hoá, danh lam thắng cảnh, các tệ
nạn xã hội như ma tuý, thuốc lá, lao động, trẻ em, vấn đề hội nhập và giữ gìn bản
sắc văn hoá dân tộc...Vì lẽ đó nên trong các văn bản nhật dụng tính chất :" văn, sử,
1. THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ:
1.1. Nhận diện văn bản nhật dụng:
Văn bản nhật dụng là gì? "Văn bản nhật dụng không phải là một khái niệm
chỉ loại thể, hoặc chỉ kiểu văn bản. Nói đến văn bản nhật dụng trước hết là nói
đến tính chất nội dung của văn bản. Đó là những bài viết có nội dung gần gũi,
bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội
hiện đại như: thiên nhiên, môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em, ma
tuý...Văn bản nhật dụng có thể dùng tất cả các thể loại cũng như các kiểu văn
bản". (Ngữ văn 6, tập 2, trang 125-126). Sau đó ý kiến này còn được lý giải
thêm:" Có một nội dung mà chương trình Ngữ văn quan tâm là sự cập nhật, gắn
kết với đời sống, đưa học sinh trở lại với những vấn đề vừa quen thuộc, vừa gần
gũi hàng ngày , vừa có ý nghĩa lâu dài, trọng đại mà tất cả chúng ta đều quan tâm
hướng tới...Những vấn đề này, "phần cứng" của chương trình có thể chưa đáp
ứng được... Nếu các văn bản văn chương nghệ thuật lấy hình thức( kiểu văn bản
và thể loại ) làm tiêu chí lựa chọn, thì văn bản nhật dụng được lựa chọn theo tiêu
chí nội dung như đã nêu. Chính vì thế, văn bản nhật dụng có thể thuộc bất cứ kiểu
văn bản hoặc bất cứ thể loại nào."( Ngữ văn 7, tập một( SGV), NXB Giáo dục Hà
Nội Tr 5-6).
Các chỉ dẫn trên có thể xem là tiêu chí cơ bản để nhận diện các văn bản nhật
dụng trong chương trình Ngữ văn THCS.
Nhìn vào hệ thống văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn THCS, ta sẽ nhận
thấy chúng tồn tại dưới nhiều kiểu văn bản khác nhau. Đó có thể là văn bản thuyết
minh( Cầu Long Biên- chứng nhân lịch sử; Ca Huế trên sông Hương; Động
Phong Nha), văn bản nghị luận( Đấu tranh cho một thế giới hoà bình; Tuyên bố
thế giới về sự sống còn, quyền được bảo vệ và phát triển của trẻ em). Đó có thể là
một bài báo thuyết minh khoa học( Thông tin về ngày trái đất năm 2000; Ôn dịch
thuốc lá). Nhưng cũng có thể là một văn bản văn học thuộc loại tự sự (Cuộc chia
8
- Danh lam thắng cảnh
- Nhà trường
- Mẹ tôi
- Người mẹ
- Cuộc chia tay của
- Quyền trẻ em
những con búp bê
- Ca Huế trên sông
Hương
Ngữ văn
- Thông tin về ngày trái
8
- Văn hoá dân tộc
- Môi trường
đất năm 2000
- Ôn dịch thuốc lá
- Tệ nạn xã hội, bảo vệ sức
khoẻ.
Ngữ văn
9
Vậy để mỗi văn bản nhật dụng thấm sâu và có ý nghĩa thiết thực đến với từng
học sinh thì khi dạy các văn bản này, mỗi giáo viên cần am hiểu sâu sắc về nội
dung, hình thức và ý nghĩa nhân văn của từng văn bản, đổi mới phương pháp dạy
học để mang lại hiệu quả cao nhất.
2. CÁC GIẢI PHÁP, BIỆN PHÁP THỰC HIỆN:
Sự xuất hiện mới của các văn bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn THCS đòi
hỏi hoạt động dạy và học được tổ chức như thế nào?
Vấn đề này, các tác giả SGK đã lưu ý giáo viên ở hai điểm sau:
- Một là, không nên quan niệm đây là những sáng tác tiêu biểu cho các tác
phẩm văn học, để đặt ra và đòi hỏi quá cao yêu cầu về nghệ thuật của văn bản.
Khi dạy văn bản nhật dụng, GV nên tập trung khai thác các vấn đề nội dung tư
tưởng đặt ra ở mỗi văn bản, từ đó mà liên hệ, giáo dục tư tưởng tình cảm và ý
thức cho học sinh trước những vấn đề mà cả xã hội đang quan tâm.
- Hai là, nắm chắc đặc điểm và ý nghĩa của nội dung đặt ra trong mỗi văn
bản nhật dụng để hướng dẫn HS tự liên hệ, rút ra bài học cho chính bản thân
mình.
10
Những chỉ định như thế rất cần cho hoạt động dạy học văn bản nhật dụng
trúng hướng. Có điều trong thực tế dạy học văn bản nhật dụng, cái mà người giáo
viên cần không chỉ là những định hướng, mà quan trọng hơn, thiết thực hơn là
cách thực hiện những định hướng ấy ở mọi khâu, mọi việc, mọi thao tác dạy học.
Theo tôi, nói một cách khái quát, toàn bộ họat động dạy học văn bản nhật
dụng sẽ bao gồm những vấn đề: Xác định mục tiêu bài học; Chuẩn bị bài học;
Lựa chọn phương pháp tương ứng thích hợp.
Nếu giải quyết được những vấn đề này trên cả lí thuyết và thực nghiệm, ta sẽ
có được những định hướng cần thiết hơn về yêu cầu phương pháp dạy học các văn
bản nhật dụng trong SGK Ngữ văn THCS.
chưa cần là các chủ đề khái quát những những vấn đề sâu xa của cuộc sống con
người, mà chỉ cần là vấn đề xã hội đặt ra trong văn bản gần gũi với học sinh, thức
dậy không chỉ tình chia sẻ bất hạnh với bạn bè đồng cảnh ngộ mà còn là ý thức về
quyền được hưởng niềm vui, hạnh phúc. Đó sẽ là ý nghĩa cập nhật của bài học
này. Và đó sẽ là mục tiêu kiến thức chủ yếu của bài học văn bản nhật dụng" Cuộc
chia tay của những con búp bê".
Nội dung của văn bản nhật dụng là những vấn đề gần gũi bức thiết đối với
cuộc sống con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại, nên mục tiêu bài học văn
bản nhật dụng còn là sự mở rộng nhận thức của học sinh tới đời sống xã hội và
bản thân về những vấn đề được đặt ra từ văn bản .
Cơ hội để lĩnh hội các tri thức cập nhật về nhiều vấn đề thiết thực vừa có ý
nghĩa thời sự, vừa có ý nghĩa lâu dài là thế mạnh của bài học văn bản nhật dụng.
Nhưng các bài học của văn bản nhật dụng không khuôn lại ở việc cung cấp tri thức
trong nội bộ văn bản mà còn tích hợp liên môn, mở rộng hiểu biết của người học
theo vấn đề được đề cập trong văn bản. Cụ thể: Ý nghĩa chứng nhân lịch sử của
cầu Long Biên trong văn bản " Cầu Long Biên - chứng nhân lịch sử" có thể gợi
học sinh liên tưởng tới nhiều cây cầu chứng nhân lịch sử khác trên đất nước , qưê
hương trong cả thời chiến tranh đánh giặc (Như cầu Công Lí, cầu Hàm Rồng), và
hoà bình dựng xây (Như cầu Thăng Long, cầu Mĩ Thuận, cầu Bãi Cháy, cầu Nhật
12
Tân…). Văn bản " Bức thư của thủ lĩnh da đỏ" và "Thông tin về ngày trái đất năm
2000" sẽ gợi cho HS liên hệ tới thực trạng báo động về môi trường sống và sức
khoẻ con người ở mỗi làng quê, thành phố, đất nước đang bị chính con người huỷ
hoại, từ đó các em biết hành động cho đúng.
Về mục đích giao tiếp, các văn bản nhật dụng chủ yếu thoả mãn mục đích
truyền thống xã hội hơn là sự thoả mãn giao tiếp thẩm mĩ. Cho dù văn chương
thẩm mĩ không nhiều đặc sắc trong văn bản. Chẳng hạn" Ca Huế trên sông
Hương", không chỉ khơi dậy trong học sinh tình yêu dòng sông âm nhạc nổi tiếng
người.
- Qua cách viết nhẹ nhàng, kết hợp kể chuyện với lập luận, bài viết đã có sức
thấm thía và truyền cảm sâu sắc tới bạn đọc về ý thức trách nhiệm của mình trước
sự gia tăng của dân số.
Như vậy, cung cấp và mở rộng hiểu biết về những vấn đề gần gũi, bức thiết
đang diễn ra trong đời sống xã hội hiện đại, từ đó tăng cường ý thức công dân đối
với cộng đồng trong mỗi HS, đó sẽ là định hướng mục tiêu chung của các bài học
văn bản nhật dụng cần được xác định trong dạy học phần văn bản này trong
chương trình Ngữ văn THCS.
2.2. Chuẩn bị dạy học:
2.2.1. Chuẩn bị kiến thức dạy học:
Do yêu cầu mở rộng hiểu biết để thấm thía các chủ đề nhật dụng đặt ra trong
từng văn bản, từ đó tăng cường ý thức công dân của mỗi học sinh đã khiến việc
chuẩn bị kiến thức hỗ trợ cho bài học văn bản nhật dụng mang một ý nghĩa tích
hợp rộng hơn, đòi hỏi sự quan tâm nhiều hơn của cả hai chủ thể dạy và học văn
bản nhật dụng. Yêu cầu đó sẽ là giáo viên thu thập (đồng thời giao cho các nhóm
HS cùng sưu tầm) các tư liệu ngoài văn bản liên quan đến chủ đề văn bản trên
các nguồn thông tin đại chúng ( phát thanh, truyền hình, mạng Internet, báo chí,
sách vở, tranh ảnh, âm nhạc...) làm chất liệu cho dạy học văn bản nhật dụng gắn
kết với đời sống.
14
Ví dụ: Để chuẩn bị cho bài học "Ca Huế trên sông Hương", ngoài việc nắm
bắt ý nghĩa nhật dụng của bài văn là vấn đề bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc qua
một di tích văn hoá phi vật thể là ca Huế. Để có định hướng đọc hiểu đúng cho bài
học này, giáo viên còn phải tạo thêm nguồn tư liệu bổ sung cho bài học trên các
kênh âm nhạc dân gian các vùng miền, các bài hát về Huế, các bài báo và tranh,
ảnh về cố đô Huế, nhã nhạc cung đình Huế - di sản văn hoá thế giới... đồng thời
- Bức thư của thủ lĩnh da đỏ
Biểu cảm
- Động Phong Nha
Thuyết minh
- Cổng trường mở ra
Biểu cảm
- Mẹ tôi
Biểu cảm
- Cuộc chia tay của những con
Tự sự
búp bê
Bút kí
Truyện
ngắn
- Ca Huế trên sông Hương
Thuyết minh
của trẻ em.
Nhìn vào bảng trên sẽ thấy: Nếu gọi tên văn bản nhật dụng bằng thể loại văn
học, thì ngoại trừ " Cuộc chia tay của những con búp bê", " Cầu Long Biênchứng nhân lịch sử", " Động Phong Nha"," Ca Huế trên sông Hương", còn lại
phần lớn là các bức thư, công báo, bài báo khoa học, khó gọi chúng bằng tên của
thể loại. Trong khi, nếu xác định hình thức của các kiểu văn bản này theo phương
thức biểu đạt sẽ dễ dàng nhận ra kiểu văn bản của chúng. Điều này cho thấy dạy
học văn bản nhật dụng đáp ứng mục đích và cách thức diễn đạt sẽ phù hợp hơn so
với dạy học chúng theo đặc trưng thể loại văn học.
Khi thiết kế chương trình văn bản nhật dụng, các tác giả SGK Ngữ văn THCS
nhấn mạnh rằng: Dạy học văn bản nhật dụng chủ yếu là tập trung khai thác các
16
vấn đề nội dung tư tưởng đặt ra ở mỗi văn bản. Nhưng trong bất kì văn bản nào,
nội dung không nằm ngoài hình thức tương ứng của nó, cho nên hoạt động đọc
hiểu nội dung văn bản nhật dụng không nằm ngoài nguyên tắc đi từ các dấu hiệu
hình thức biểu đạt tới khám phá mục đích giao tiếp trong hình thức ấy, cho dù
không cần sa đà vào hình thức của chúng.
Chẳng hạn: Văn bản" Cổng trường mở ra" được tạo theo phương thức biểu
cảm, nhằm mục đích nhận thức vai trò của nhà trường đối với sự tiến bộ của mỗi
người, thì con đường dạy học để hiểu mục tiêu ấy từ văn bản sẽ là dạy học theo
các dấu hiệu của văn bản biểu cảm biểu hiện qua lời văn thấm đẫm cảm xúc, suy
tư của tác giả và giầu có hình ảnh liên tưởng trong mỗi sự việc. Còn khi văn bản
nhật dụng được tạo lập bằng phương thức thuyết minh như" Ôn dịch thuốc lá" thì
hoạt động dạy học tương ứng sẽ là tổ chức cho HS tìm hiểu nội dung văn bản từ
các dấu hiệu hình thức của bài thuyết minh khoa học như: Tiêu đề, bố cục văn
bản, vai trò của tác giả trong văn thuyết minh, đặc điểm của lời văn thuyết minh.
Ví dụ:
- Đoạn văn nào nói về tác hại của thuốc lá đến sức khoẻ con người?
- Tác hại này được phân tích trên các chứng cớ nào?
theo hướng khám phá lí lẽ và chứng cớ thể hiện quan điểm được nêu ra trong văn
bản và qua đó là thái độ nhiệt tình của tác giả.Ví dụ GV có thể sử dụng câu hỏi
đàm thoại qua máy chiếu:
- Em hiểu như thế nào về " Bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế
giới không có vũ khí và một cuộc sống hoà bình, công bằng"?
- Ý tưởng của tác giả về việc mở "Một nhà băng lưu trữ trí nhớ có thể tồn tại
được sau thảm hoạ hạt nhân" bao gồm những thông điệp gì?
- Em hiểu gì về tác giả từ những thông điệp đó?
+ Giảng tóm tắt qua máy chiếu:
18
- Bản đồng ca của những người đòi hỏi một thế giới không có vũ khí và một
cuộc sống hoà bình, công bằng đó là tiếng nói của công luận thế giới chống chiến
tranh, là tiếng nói yêu chuộng hoà bình của nhân dân thế giới.
- Thông điệp về một cuộc sống đã từng tồn tại trên trái đất và về những kẻ đã
xoá bỏ cuộc sống trên trái đất bằng vũ khí hạt nhân.
- Tác giả là người yêu chuộng hoà bình, quan tâm sâu sắc đến vũ khí hạt
nhân với niềm lo lắng và công phẫn cao độ
Dạy học văn bản nhật dụng chú ý các dấu hiệu cách thức biểu đạt này không
chỉ vì sự cần thiết trong kiến thức đọc - hiểu mà còn vì yêu cầu của dạy học tích
hợp trong mọi bài học Ngữ văn.
2.2.3.2. Đáp ứng dạy học tích hợp:
Dạy học văn bản nhật dụng theo đặc trưng phương thức biểu đạt của mỗi văn
bản cũng có nghĩa là chúng được dạy học theo yêu cầu tích hợp kiến thức và kĩ
năng của hai phân môn Văn (đọc - hiểu) với tập làm văn (kiểu văn bản) trong bài
học Ngữ văn. Khi tiến hành đọc - hiểu nhân vật theo hệ thống ba sự việc : Cuộc
chia búp bê / Cuộc chia tay với lớp học / Cuộc chia tay của hai anh em, cùng các
chi tiết lời văn, cách kể chuyện từ ngôi thứ nhất, từ đó khám phá ra chủ đề nhật
nào về nguy cơ chiến tranh hạt nhân vẫn đe doạ cuộc sống trái đất.
- Em dự định sẽ làm gì để tham gia vào" Bản đồng ca của những người đòi
hỏi một thế giới không có vũ khí và một cuộc sống hoà bình, công bằng" như đề
nghị của nhà văn Gac-xi-a Mác - Ket?
Từ những phân tích trên đây sẽ có khái quát dạy học văn bản nhật dụng đáp
ứng yêu cầu tích hợp như sau:
Gắn kết đọc.- hiểu văn bản nhật dụng với các tri thức tương ứng của phương
thức biểu đạt (tích hợp với văn, tập làm văn). Gắn kết đọc - hiểu văn bản nhật
dụng với các tri thức ngoài văn bản liên quan đến chủ đề văn bản nhật dụng (tích
hợp đọc văn với kiến thức liên quan). Đặc biệt gắn kết chủ đề nhật dụng gợi lên từ
văn bản với phạm vi tương ứng của đời sống xã hội của cá nhân và cộng đồng
hiện đại (tích hợp đọc văn với đời sống).
20
2.2.3.3. Đáp ứng yêu cầu tích cực:
Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong dạy học môn Ngữ văn , đó
chính là quan điểm dạy học đổi mới. Đáp ứng quan điểm tích cực trong dạy học
văn bản nhật dụng là GV lựa chọn và kết hợp các biện pháp dạy học, các cách tổ
chức dạy học, các phương tiện dạy học có thể khai thác tốt nhất năng lực tự học
của HS.
Thu thập, sưu tầm các nguồn tư liệu ngoài văn bản liên quan đến nội dung
văn bản là công việc dạy và học chủ động tích cực của GV và HS trong khâu
chuẩn bị bài học. Nhưng xử lí nguồn thông tin đó theo cách nào để tích cực hoá
dạy học văn bản nhật dụng ? Đó sẽ là lựa chọn các thông tin bên ngoài phù hợp
với từng nội dung bên trong văn bản được giới thiệu trực tiếp hoặc qua phương
tiện điện tử, cùng với lời thuyết minh ngắn gọn của HS hoặc GV để làm rõ thêm
nội dung nhật dụng của văn bản được học.
Ví dụ: Trong bài học "Ca Huế trên sông Hương"; phát qua đầu VCD một làn
điệu dân ca Huế quen thuộc diễn tả lòng khát khao, nỗi mong chờ hoài vọng thiết
theo cách tự sưu tầm và thuyết minh tư liệu liên quan đến chủ đề bài văn, tự bộc lộ
ý kiến khi đọc - hiểu văn bản dưới hình thức cá nhân hay nhóm học tập, tổ chức
các hình thức trò chơi gọn nhẹ, thiết thực minh hoạ chủ đề văn bản cho các nhóm
thi đua và tự chấm điểm... là thể hiện tinh thần dân chủ trong dạy học văn bản nhật
dụng.
Từ nhận thức trên, có thể khái quát yêu cầu dạy học tích cực bài học văn bản
nhật dụng như sau:
Đa dạng hoá các biện pháp dạy học, các tổ chức dạy học, các phương tiện
dạy học theo hướng hiện đại hoá và tương hợp với đọc - hiểu văn bản nhật dụng:
Thu thập, sưu tầm, xử lí các nguồn tư liệu, minh hoạ và mở rộng kiến thức theo
nội dung văn bản nhật dụng trên các kênh thông tin; coi trọng đàm thoại (cá nhân
và nhóm) về văn bản bằng hệ thống câu hỏi, trong đó sử dụng nhiều hơn hình
thức học theo nhóm và câu hỏi liên hệ ý nghĩa văn bản với hoạt động thực tiễn
22
của cá nhân và cộng đồng xã hội hiện nay; giảm thiểu đọc diễn cảm và giảng
bình; sáng tạo trò chơi dạy học đơn giản, tăng cường sử dụng phương tiện dạy
học điện tử ( cát -sét, ti vi, Overhead, phần mềm powerpoint, Violet) để đẩy nhanh
nhịp điệu dạy học và gia tăng lượng thông tin trong bài học văn bản nhật dụng;
tạo không khí dân chủ, hào hứng trong giờ học văn bản nhật dụng.
3. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Thực tế áp dụng sáng kiến " Dạy học văn bản nhật dụng trong chương trình
Ngữ văn THCS", tôi thấy kết quả học tập phần văn bản này của HS được nâng lên
rõ rệt. Tiết học Ngữ văn thực sự sôi nổi, hấp dẫn, Hoạt động của thày và trò đều
tích cực, chủ động. HS không những được tiếp cận, thâm nhập, hiểu sâu sắc hơn
về nội dung những kiến thức trong các văn bản mà những vấn đề thường nhật
trong cuộc sống hàng ngày như môi trường, dân số, di tích văn hoá, danh lam
thắng cảnh, các tệ nạn xã hội như ma tuý, thuốc lá, lao động, trẻ em, vấn đề hội
nhập và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc ... đã được các em nhìn nhận, đánh giá
Đạt 26,6%
- Điểm khá:
15/30 HS
Đạt 50%
- Điểm TB:
7/30 HS
- Điểm yếu:
Không
- Điểm kém:
Không
Đạt 23,4%
Sáng kiến nhỏ này đã được triển khai và áp dụng dạy thực nghiệm đạt kết quả
cao trong trường tôi và được nhiều trường trong huyện áp dụng. Điều phấn khởi
nhất là trong cuộc thi "Học vui - vui học" do nhà trường tổ chức, trong phần thi
năng khiếu tự chọn, các em học sinh đã tự vẽ tranh, sau đó dùng bài luận vấn đề
có tính chất cập nhật ở địa phương, ở trường học như: Thuyết minh về di tích lịch
sử ở địa phương, tình trạng học sinh hút thuốc lá, nói dối gia đình đi chơi điện tử,
vứt giấy rác ra trường lớp... để giới thiệu, tuyên truyền, nhắc nhở các bạn học sinh