Dạy văn bản nhật dụng trong chương trình ngữ văn 8 tập 1 gắn với tính cấp thiết của cuộc sống - Pdf 43

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUAN HOÁ

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

DẠY VĂN BẢN NHẬT DỤNG
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 8 TẬP I
GẮN VỚI TÍNH CẤP THIẾT CỦA CUỘC SỐNG

Người thực hiện: Nguyễn Thị Ngọc
Chức vụ: Giáo Viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Hiền Chung
SKKN thuộc lĩnh vực : Ngữ Văn

THANH HOÁ NĂM 2017


MỤC LỤC
TT
1

Mục

Nội dung

1 Mở đầu

Trang
1

2


2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2

8

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

2

9

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

2

10

2.2.1 Vài nét về tác phẩm trong chương trình sách giáo khoa cũ

2

11

2.2.2 Văn bản nhật dụng trong sách giáo khoa Ngữ văn 8 tập 1

2

12


3.1.2 Đối với giáo viên

15

19

3.1.2 Đối với học sinh

15

20

3.2 Kiến nghị

15



1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
Nhân loại đã bước vào thế kỷ XXI với điểm tựa về khoa học kỹ thuật có nhiều
phát triển vượt bậc thần kỳ ở thế kỷ XX với nhiều lĩnh vực khoa học cơ bản. Sự
phát triển về khoa học kỹ thuật ấy đã giúp con người được giải phóng khỏi những
công việc nặng nhọc, nguy hiểm, sáng chế ra nhiều vật dụng tiện lợi cho đời sống
hàng ngày. Không ai phủ nhận được những thành tựu mà con người đã dày công
nghiên cứu qua nhiều năm bởi chính từ đó đã đưa loài người bước đến một tầm cao
mới, mở ra một kỷ nguyên của khoa học kỹ thuật và sáng tạo không ngừng.
Thế nhưng, bên cạnh đó, loài người cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề
nan giải như: Môi trường, dân số, sức khỏe con người. Đó thực sự là những bài

1


Dạy văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn 8 tập 1 gắn với tính cấp
thiết của đời sống. Học sinh khối lớp 8 Trường THCS Hiền Chung
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu, thực nghiệm, khảo sát, đối chứng, nêu số liệu.
1.5. Những điểm mới trong sáng kiến
Xác định các vấn đề cấp thiết của cuộc sống đang diễn ra ở địa phương, đất
nước và thế giới. Gắn các vấn đề đó với những vấn đề được nêu trong văn bản nhật
dụng, đồng thời đưa ra những giải pháp để thực hiện gắn những vấn đề cấp bách
vào giảng dạy các văn bản nhật dụng ở chương trình học kỳ I lớp 8.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Đối với mỗi tác phẩm văn học nói chung, khi giảng bài, mục đích của người
giáo viên là cung cấp cho học sinh tri thức về nội dung, tư tưởng, nghệ thuật của
tác phẩm ấy, để rồi qua đó các em cảm nhận được gì, có suy nghĩ gì. Sẽ là không
thành công nếu như dạy văn học mà giáo viên quên đi yếu tố giáo dục. Thực ra,
tính cấp thiết là những vấn đề cần thiết, cần được giải quyết ngay. Nhưng nói rộng
ra, thiết nghĩ cấp thiết cũng còn có nghĩa là những vấn đề dẫu không là tâm điểm ,
nhưng đâu đó trong xã hội vẫn còn nhức nhối như: quan hệ giữa con người với con
người, sự phân biệt giàu nghèo, đạo đức và lối sống... Trong chương trình cũ, dẫu
chưa có văn bản nhật dụng, nhưng một giáo viên dạy tốt là một giáo viên luôn nghĩ
qua văn bản đó mình giáo dục được gì cho các em, cho các em thấy được vấn đề
đó là cần thiết noi theo hay phê phán để rồi từ đó hoàn thiện nhân cách của mình.
Nói như vậy để ta nhận thấy rằng: sự cấp thiết không phải là một khái niệm xa xôi
mà thực ra chúng ta đã được tiếp cận, nhưng cái khác là trong chương trình cũ,
"cấp thiết" phần lớn là những vấn đề phản ánh cuộc sống của người xưa, còn "cấp
thiết mới" trong văn bản nhật dụng là những văn bản phản ánh cuộc sống trước
mắt của con người và cộng đồng xã hội hiện đại đang là tâm điểm của sự chú ý.

nhưng, vấn đề mà tôi muốn nới ở đây là sự bức thiết của cuộc sống, những vấn đề
vẫn hàng ngày, hàng giờ diễn ra xung quanh chúng ta đã được phản ánh, cập nhật
qua ba văn bản nhật dụng, đó là về: môi trường, dân số và sức khỏe.
Văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn 8 tập 1 không chiếm một số
lượng nhiều. Song qua đó, học sinh được cung cấp kiến thức về những vấn đề nóng
hổi mang tính toàn cầu , giúp các em nhận thức và có ý thức tác động tích cực trở
lại cuộc sống. Nhưng đó còn là những văn bản mẫu mực cho học sinh tập cách làm
bài văn thuyết minh. Các văn bản nhật dụng được lựa chọn đưa vào chương trình là
những văn bản cập nhật những vấn đề chưa tìm ra lời giải đáp không phải của
riêng một quốc gia nào. Bởi thế, khiến người đọc phải suy ngẫm và cùng bắt tay
vào thực hiện.
Các văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn 8 học kỳ I bao gồm:
Thông tin về ngày Trái Đất năm 2000; Ôn dịch thuốc lá; Bài toán dân số.
2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm và giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Dạy văn bản nhật dụng gắn với tính cấp thiết của đời sống
Dạy bài: “Thông tin về ngày Trái Đất năm 2000” và vấn đề môi trường,
sức khỏe.
Ngày nay, cùng với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật, con người
đã sáng chế ra nhiều vật dụng tiện lợi sử dụng trong đời sống hàng ngày. Một trong
những vật dụng đó là bao bì ni lông. Sự tiện lợi đó tưởng chừng như vô hại song
lại có tác hại rất lớn đối với môi trường khi nó trở thành phế thải. Chính từ tính cấp
thiết đó, nhà biên soạn sách dã đưa vào chương trình văn bản này nhằm cung cấp
thêm cho người đọc có thêm những thông tin đáng báo động về ô nhiễm môi
trường hiện nay.
Có thể nói, nguồn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng nhất là rác thải, bao
gồm cả rác thải công nghiệp và rác thải sinh hoạt. Trách nhiệm xử lý rác thải công
nghiệp thuộc về các nhà máy, xí nghiệp, các cơ quan nhà nước. Rác thải sinh hoạt
gắn chặt với đời sống mỗi người nên cần có hiểu biết tối thiểu về nó để cùng tham
gia xử lý nó một cách hiệu quả. Và như vậy, bao bì ni lông cũng là một trong
những rác thải sinh hoạt, nhưng tại sao không phải là thông tin về các loại rác thải

giáo viên cần chuẩn bị một bảng phụ trên đó ghi ra những số liệu, những dẫn
chứng đáng tin cậy về một trong những cách mà người ta thường xử lý rác thải ni
lông để học sinh thấy được sự vô trách nhiệm và tác hại của bao bì ni lông do con
người chưa hiểu biết hết là vô cùng lớn.
Ở Việt Nam Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2010, tại đô
thị, mỗi hộ gia đình sử dụng 225 túi ni lông mỗi tháng, tương đương 0,4
kg/tháng/hộ. Ước tính mỗi năm Việt Nam sử dụng 12.000 tấn túi ni lông, trong đó
phần lớn chỉ được sử dụng một lần. Tuy nhiên liệu, chỉ khoảng 17% tổng số lượng
túi ni lông khó phân hủy được thu hồi sau khi thải bỏ để tái sử dụng, số còn lại thải
ra môi trường hoặc được chôn lấp cùng với chất thải rắn sinh hoạt. Trên thế giới,
theo số liệu của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc, có 46.000 mảnh túi nilon
trôi nổi trong mỗi 1,6km vuông đại dương. [1]
Theo số liệu tháng 11/2013 của Ủy ban Châu Âu, khoảng 94% loài chim ở Biển
Bắc có nilon trong dạ dày. Người Nam Phi thì gọi đùa túi nilon là quốc họa [1]

4


Trên địa bàn huyên Quan Hóa với dân số toàn huyên là 46.710 người, diện
tích tự nhiên là 99.014 ha, xã Hiền Chung với dân số 2.970 người (số liệu thống
kê tháng 12 năm 2016). [2]
Bình quân mỗi một người một ngày sử dụng 1 bao ni lông, như vậy mỗi ngày
chúng ta thải ra môi trường 46.710 cái bao bì ni lông, bình quân mỗi ha chứa 0.47
cái túi ni lông mỗi ngày.
Qua văn bản, ta thấy tác hại của bao bì ni lông quả là đáng báo động hơn ta
tưởng rất nhiều. Tác hại đó hoàn toàn do ý thức của người sử dụng. Sử dụng bao bì ni
lông là lợi bất cập hại. Để hạn chế những tác hại đó, văn bản đã đưa ra một số biện
pháp, nhưng ở biện pháp nào cũng gặp phải khó khăn thậm chí là độc hại, nguy hiểm.
Xét cho cùng, đó là những biện pháp có khả năng thực thi vì nó chủ yếu tác động đến
ý thức của người sử dụng dựa trên nguyên tắc chủ động phòng tránh, giảm thiểu tác

5


việc tương tự trong vấn đề xử lý rác thải sinh hoạt. Đó cũng chính là cấp thiết mà
văn bản muốn truyền tải tới người đọc để người đọc nhận thức được, từ đó sẽ có
những việc làm thiết thực tác động tích cực trở lại góp phần làm trong sạch môi
trường sống quanh ta cũng chính là bảo vệ ngôi nhà chung của Trái Đất.
Bảo vệ môi trường là việc làm không phải của một cấp, một ngành, một thời
gian, địa điểm mà là vấn đề mang tính toàn cầu, là việc làm thường xuyên ở mọi
lúc, mọi nơi. Xét ở một phạm vi hẹp thì rác thải từ bao bì ni lông chỉ là một trong
những vấn đề môi trường nhưng lại vô cùng bức thiết bởi chưa tìm được giải pháp
hữu hiệu. Mục đích của tôi khi dạy văn bản này là làm cho học sinh nhận thức
được đây là vấn đề nóng hổi đang xảy ra trong đời sống xung quanh các em để từ
đó, qua bài học này các em cần bắt tay ngay vào những việc làm cụ thể, thiết thực
bởi những yêu cầu, kiến nghị rất vừa sức. Theo tôi, các được lớn nhất đó là các em
hiểu văn bản và vận dụng vào cuộc sống như thế nào cho hiểu quả. Mà muốn đạt
được điều đó, thiết nghĩ dạy văn bản này cần chú ý đến tính cấp thiết để liên hệ với
thực tế giúp học sinh có cái nhìn toàn diện và sâu sắc về vấn đề.
Ví dụ: Ngay sau giờ học, lớp tổ chức thu gom các bao bì ni lông quanh trường
để vào đúng nơi quy định. Về nhà cũng làm như thế, khéo léo tuyên truyền vận
động bố mẹ, anh chị em, bà con trong thôn bản cùng hạn chế sử dụng bao bì ni
lông.
Dạy bài: "Ôn dịch thuốc lá" và vấn đề sức khỏe.
Hút thuốc lá là một thói quen, một thú vui, thậm chí có thể xem là một phần
của phong tục tập quán, một phần văn hóa của nhiều quốc gia, nhiều dân tộc trên
thế giới trong đó có Việt Nam. Hút nhiều, hút mãi thành quen, thành nghiện khó
bỏ. Về phương diện sức khỏe, hút thuốc lá hết sức có hại, nguy hiểm và phản khoa
học. Khi dạy văn bản này là một vấn đề nhạy cảm bởi nó sẽ đụng chạm đến một số
người, có thể ngay cả giáo viên dạy cũng mắc phải. Nhưng dù thế nào cũng phải
hiểu một cách nghiêm túc nhất để làm sao vấn đề mà các em tiếp cận không phải

đa số là người dân tộc Thiểu số khả năng hiểu biết còn nhiều hạn chế, điều kiện
kinh tế còn nhiều khó khăn. Và sẽ khó khăn hơn nữa nếu như hàng ngày, hàng
tháng họ phải dành một khoản tiền không nhỏ để mua thuốc lá. Người lớn hút
thuốc dễ khiến con em tập hút theo và khi không có tiền mua thì việc đưa đến các
tệ nạn xã hội khác là một con đường rất ngắn như văn bản đã chỉ rõ. Như vậy, hút
thuốc lá không những đe dọa sức khỏe, tính mạng con người mà còn là nguyên
nhân dẫn đến con đường phạm pháp, làm cho kinh tế gia đình bị sa sút... Khi dạy
phần này, giáo viên có thể hỏi học sinh, ví dụ: Mỗi ngày, bố/anh em hút hết bao
nhiêu điếu thuốc? Em có biết giá thành của những điếu thuốc đó không ? Em có
nghĩ rằng dành khoản tiền đó vào những công việc hợp lý khác thì sẽ có tác dụng
không?...
Muốn cho bài giảng tăng thêm phần sinh động và để học sinh nhận thức được
đây là vấn đề đáng được lưu tâm bởi những tác hại của hút thuốc lá, ngoài những
thông tin trong văn bản, giáo viên cần chuẩn bị một số thông tin tiêu biểu, các hình
anh báo động của cả thế giới và Việt Nam để học sinh một lần nữa thấy được tác
hại của hút thuốc lá là nghiêm trọng. Cụ thể:
Một điếu thuốc lá sản sinh ra 500ml khói, trong khói thuốc lá chứa hơn 3000
chất hóa học khác nhau, trong đó có ít nhất 20 chất đã được xác nhận là nguyên
nhân trực tiếp gây ra bệnh ung thư. Hay: Mỗi điếu thuốc lá chứa ít nhất là 0.15mg
chất mê-tin hin-đra-zin là chất độc hại gây bệnh ung thư ...
Theo thống kê, thế kỷ 20 thế giới có trên 100 triệu người chết vì các bệnh liên
quan tới thuốc lá, ở Việt Nam mỗi năm có trên 40.000 người chết do hút thuốc, con
số này lớn gấp nhiều lần số người chết do chiến tranh, dịch bệnh, tai nạn. Việt Nam
là một trong bốn quốc gia có tỉ lệ hút thuốc nhiều nhất thế giới, ước tính mỗi năm
người dân Việt Nam chi 14 nghìn tỉ đồng cho việc hút thuốc, Nó lớn gấp 10 lần
ngân sách chi cho giáo dục. [1]
Tính cấp thiết mà tôi muốn đề cập khi dạy văn bản này đó là sự cần thiết phải
tác động vào ý thức của học sinh để thông qua học sinh có sự tác động trở lại với
cộng đồng, bởi sự nan giải của việc chống nạn hút thuốc lá. Thực tế hiện nay, các
nhà máy sản xuất thuốc lá vẫn còn tồn tại nghĩa là xã hội vẫn còn có nhu cầu. Mà

trong một thế kỉ qua. Mỗi năm hành tinh của chúng ta lại xuất hiện thêm 84 triệu
người. Dân số tăng nhưng đất ở không tăng và hàng loạt vấn đề khác kéo theo như
thất nghiệp, nghèo đói... Và dân số đã trở thành một vấn đề cấp thiết cần được
quan tâm của toàn nhân loại.
Đối với văn bản này, giáo viên cần cho học sinh thấy được việc hạn chế gia
tăng dân số là một đòi hỏi tất yếu của sự phát triển nhân loại nói chung, đối với dân
tộc Việt Nam nói riêng. Từ đó góp phần vào việc tuyên truyền cho quốc sách của
Đảng và Nhà nước ta về phát triển dân số. Đó chính là con đường "tồn tại hay
không tồn tại" của chính loài người. Đây cũng là vấn đề nhạy cảm bởi có thể gia
đình các em rất đông con, bố mẹ đẻ nhiều. Vì thế khi dạy giáo viên cần khéo léo
liên hệ để không làm cho các em cảm thấy xấu hổ mà xem đó chính là một tồn tại
từ phía gia đình mình để thế hệ các em có sự điều chỉnh, cho thấy hạn chế sự gia
tăng dân số là việc làm cấp thiết phải được thực hiện bắt đầu từ phía mỗi các nhân,
mỗi gia đình.
Khi dạy phần: gia tăng dân số và sự phát triển kinh tế xã hội, giáo viên cho
học sinh nhận thấy: bùng nổ dân số sẽ dẫn đến nghèo nàn, lạc hậu, xã hội kém phát
8


triển, và trong khi kinh tế, giáo dục kém phát triển sẽ khó khăn cho việc hạn chế sự
bùng nổ dân số. Giáo viên có thể đặt câu hỏi vì sao? để học sinh lý giải và yêu cầu
cần có những dẫn chứng chính xác, có thể ngay ở chính bản thân gia đình các em.
Ví dụ: Trong lớp tôi day, một gia đình học sinh có tới 6 anh chị em. Khi được
hỏi em đó đã không ngại ngần nói rằng: đông con nên kinh tế gia đình em khó
khăn, bố mẹ vất vả lao động để nuôi con, anh chị có người thất học... Và tôi tin
rằng, với kiến thức của bài học hôm nay, em học sinh đó sẽ có nhận thức đầy đủ
hơn về tác hại của gia tăng dân số quá nhanh, thế hệ các em sẽ là những công dân
gương mẫu.
Dưới nhan đề là "Bài toán dân số" văn bản hầu như chỉ xoay quanh câu
chuyện về bài toán cổ. Dân số toàn cầu đã mon men đến ô thứ 31 của bàn cờ.

2.3.2 Thực nghiệm: Giáo án thực nghiệm
Tiết 39

THÔNG TIN VỀ NGÀY TRÁI ĐẤT NĂM 2000
9


I. MỨC ĐỘ CẦN ĐẠT
1. Kiến thức
- Mối nguy hại đến môi trường sống và sức khỏe con người của thói quen
dùng túi ni lông.
- Tính khả thi trong những đề xuất được tác giả trình bày.
-Việc sử dụng từ ngữ dễ hiểu, sự giải thích đơn giản mà sáng tỏ và bố cục chặt
chẽ, hợp lí đã tạo nên tính thuyết phục của văn bản.
2. Kỹ năng
- Tích hợp với phần tập làm văn để tập viết bài văn thuyết minh.
- Đọc - hiểu một văn bản nhật dụng đề cập đến một vấn đề xã hội bức thiết
3.Thái độ
- Từ việc sử dụng bao bì ni lông, có những suy nghĩ tích cực về vấn đề xử lí
rác thải sinh hoạt bảo vệ môi trường.
II. PHƯƠNG TIỆN ,PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
1. Giáo viên : SGK, SGV, Hướng dẫn thực hiện chuẩn KT-KN,các tài liệu có
liên quan đến bài dạy, Tài liệu Giáo dục bảo vệ môi trường trong môn Ngữ văn
THCS soạn giáo án.
2. Học sinh : Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi tìm hiểu bài
III. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. ổn định tổ chức
2. Kiểm tra bài cũ :
3. Tổ chức dạy học bài mới :
Hoạt động của thầy và trò

- Đoạn 3 (Còn lại): Lời kêu gọi.
-> Bố cục chặt chẽ, hợp lí, mạch lạc.
II. Tìm hiểu chi tiết
1. Hoàn cảnh ra đời
H: Ngày Trái đất được khởi xướng
nhằm mục đích gì ? Vì sao có nhiều -Ngày 22-4 hàng năm được xem là ngày
nước tham gia ? Chủ đề ngày Trái đất trái đất nhằm bàn bạc vấn đề bảo vệ trái
đất đang bị ô nhiễm môi trường hiện nay.
năm 2000 là gì ?
-> Ngày 22/4/2000, nhân lần đầu tiên VN
tham gia ngày Trái Đất với chủ đề “Một
ngày không dùng bao bì ni lông”
H: Vì sao lần đầu tiên tham gia vào
ngày trái đất năm 2000 , VN lại lấy chủ
đề là '' một ngày không sử dụng bao ni Đây là một việc làm nhằm góp tiếng nói
chung với hành động bảo vệ môi trường
lông'' ?
từ một việc làm nhỏ bé mang ý nghĩa.
H: Nhận xét cách vào đề ?
-> Vào đề gián tiếp từ xa đến gần, rộng
đến hẹp, ngắn gọn, đủ, rõ vấn đề trọng
tâm.
2. Nguyên nhân, tác hại và giảp pháp
của việc sử dụng bao bì ni lông
H: Nêu nguyên nhân, tác hại của việc
sử dụng bao bì ni lông ?
* Nguyên nhân: tính không phân hủy của
pla-xtic; dùng không đúng cách, vứt thải
hàng triệu bao bì…
GV giải thích thêm về tính chất không

như thế là độc hại không hay màu sắc
của túi là đẹp mắt ? Ngoài việc các
chất đôc trong túi ni lông nhiễm vào
thức ăn, túi ni lông còn tác động đến
sức khỏe con người bằng con đường
nào khác ...
? Để giảm thiểu rác thải ni lông văn * Giải pháp:
bản đã đưa ra những giải pháp gì ?
- Hạn chế rác thải ni lông bằng cách giặy
phơi khô, dùng lại
- Chỉ dùng khi cần thiết
- Dùng thay thế bằng giấy, lá
- Tuyên truyền cho người khác biết tác
H: ? Các biện pháp trên có thể thực hại của bao bì ni lông.
=> Giải pháp có tính khả thi, nhưng quan
hiện được không?
? Tại sao không đề nghị bỏ hẳn việc sử trọng là mọi người phải hiểu được ý
nghĩa của lời kêu gọi.
dụng bao bì ni lông ?
- Bởi vì bao bì ni lông có nhiều ưu thế mà
loài người chưa có giải pháp thay thế nên
Hỏi: Ở địa phương em đã xử lí rác thải chỉ có thể đề ra biện pháp hạn chế.
bao ni lông như thế nào? Họ có hiểu

12


biết về tác hại đó không?
H: Văn bản đã đưa ra lời kêu gọi trước 3. Lời kêu gọi
mắt ntn ?


3. Ý nghĩa
- Nhận thức về tác dụng của một hành
động nhỏ , có tính khả thi trong việc bảo
vệ môi trường .
- Lời kêu gọi bình thường: “một ngày
không dùng bao ni lông” được truyền đạt
một hình thức rất trang trọng: Thông tin
về ngày trái đất năm 2000. Điều đó, cùng
13


với sự giải thích đơn giản mà sáng tỏ về
tác hại của việc giảm bớt chất thải no
lông đã gợi cho chúng ta những việc có
thể làm ngay để cải thiện môi trường
sống, để bảo vệ trái đất, ngôi nhà chung
của chúng ta.
IV. Luyện tập: Hãy viết đoạn văn (khoảng 10 dòng) tuyên truyền về tác hại
của bao bì ni lông đối với môi trường và sức khỏe con người.
Dành thời gian cho HS viết bài 3-5 phút, gọi HS đọc, nhận xét.
V. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI
- Hoàn thành đoạn văn ở phần luyện tập.
- Đối với HS khá, yêu cầu viết thành bài văn hoàn chỉnh.
- Chuẩn bị bài: Nói giảm, nói tránh
2.4. Hiệu quả của Sáng kiến kinh nghiệm
Sau khi thực hiện giáo án này nói riêng và dạy các văn bản nhật dụng trong
chương trình Ngữ văn 8 tập 1 nói chung, tôi đã thu được một số kết quả sau:
Dạy văn bản nhật dụng gắn với thực tế là một phương pháp dạy học có hiệu
quả và có tính giáo dục cao. Học sinh hiểu được mục đích, yêu cầu của bài một


Học xong văn bản này, các em nhận thấy tác hại ghê gớm của rác thải từ bao
bì ni lông và thay đổi thói quen sử dụng bao bì ni lông. Không những thế còn tuyên
truyền vận động mọi người cùng thay đổi thói quen không tốt đó, khuyên mọi
người đựng thực phẩm vào giấy, lá... Và ngay cả bản thân tôi cũng vậy, giờ đây,
việc sử dụng bao bì ni lông chỉ ở trong những trường hợp thật sự cần thiết. Kết quả
mà tôi thu nhận được sau tiết học này là nhận thức của các em đã thay đổi. Vì thế
ngay sau buổi học đó, học sinh đã tự đi thu gom rác thải là các bao bì ni lông
14


quanh trường để vào đúng nơi quy định, có những suy nghĩ tích cực về những việc
tương tự trong vấn đề xử lý rác thải sinh hoạt.
Như vậy, việc áp dụng dạy văn bản nhật dụng gắn với tính cấp thiết của cuộc
sống đối với tôi đã có kết quả bước đầu. Tuy nhiên, để phát huy được kết quả đó là
cả một quá trình ở phía trước đòi hỏi giáo viên phải luôn trau dồi, học hỏi để tìm ra
con đường đến với kiến thức của học sinh một cách nhanh nhất mà việc vận dụng
các vấn đề đó vào thực hiện một cách thường xuyên, nghiêm túc và có chất lượng.
3. Kết luận và kiến nghị
3.1. Kết luận
Văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn 8 tập 1 chiếm một tỷ lệ nhỏ,
nhưng lại có vị trí quan trọng bởi các văn bản này có tác dụng tuyên truyền giáo
dục rất lớn. Nó bắt nguồn từ chính thực tế hiện nay và cả ba văn bản trên đều đề
cập đến những vấn đề cấp thiết mang tính toàn cầu mà xã hội hiện đại ngày nay
vẫn chưa tìm được lời giải đáp. Vì thế, khi dạy người giáo viên ngoài vai trò của
người thầy còn được xem là vai trò của người tuyên truyền viên truyền tải thông
tin đến học sinh. Để rồi qua các văn bản bày tỏ sự chung tay góp sức của học sinh
sẽ làm dịu đi các vấn đề nóng bỏng ấy. Đó chính là hiệu quả giáo dục mà mỗi
người giáo viên mong muốn đạt được.
Là một giáo viên được phân công giảng dạy môn Ngữ văn lớp 8 nhiều năm,

Có ý thức chuẩn bị bài, soạn bài, tìm những ví dụ, thông tin, số liệu liên quan
đến nội dung bài học. Liên hệ một cách trung thực, chính xác và nghiêm túc.
Không xem liên hệ là phần để tự do phát biểu một cách thiếu ý thức, ví dụ: nhạo
báng về sự đông con ở gia đình bạn... Thực hiện bài tập thực hành một cách
nghiêm túc, có hiệu quả. Sau khi học, cần tuyên truyền, vận động mọi người cùng
thực hiện tốt những vấn đề mà văn bản đặt ra.
3.2. Kiến nghị
Với giáo viên dạy ngữ văn khi dạy văn bản nhật dụng cần phải xem xét tính
cấp thiết của vấn đề đặt ra trong văn bản và ngoài cuộc sống. Nên dạy văn bản nhật
dụng bằng cách trao đổi, bàn luận, tránh nặng về nội dung văn bản để tăng tính
giáo dục.
Về phía nhà trường: Nên có nhiều hoạt động ngoại khóa để tuyên truyền,
giáo dục cho các em có ý thức bảo vệ môi trường, sức khỏe. Nhà trường cần kết
hợp với các cấp lãnh đạo ở địa phương nhắc nhở người dân nâng cao ý thức giữ
gìn vệ sinh môi trường, xử lí rác thải một cách hợp vệ sinh. Tuyên truyền ý thức
chăm lo giáo dục con em thật tốt.
Tôi mong rằng sẽ được các nhà quản lý giáo dục, các thầy cô giáo và các bạn
đồng nghiệp lưu tâm góp ý để tài liệu này đạt kết quả cao hơn.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của
người khác. Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Quan Hóa, ngày 10 tháng 4 năm 2017
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

NGƯỜI VIẾT

Nguyễn Thị Ngọc

16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status