Dạy học phần đọc- hiểu và làm văn nghị luận về tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam (SGK Ngữ Văn 9)
theo định hướng phát triển năng lựccho học sinh khá, giỏi lớp 9
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong bối cảnh khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ và nền kinh tế tri
thức đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với mọi quốc gia thì dạy học theo định
hướng phát triển năng lực người học là một trong những xu thế dạy học hiện đại,
đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế
giới và ở Việt Nam trong những năm gần đây.
Nghị quyết 29 (-NQ/TW ngày 4/11/2013 ) của Ban chấp hành Trung ương
Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nêu rõ: “ Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và
đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển
phẩm chất, năng lực của người học”. Cách tiếp cận này đặt ra mục tiêu căn bản là
giúp cho học sinh có thể làm được gì sau khi học chứ không tập trung vào việc xác
định Học sinh cần học những gì.
Môn Ngữ Văn giúp HS phát triển năng lực, phẩm chất chung và đặc thù.
Năng lực tư duy, năng lực tưởng tượng và sáng tạo, năng lực hợp tác, năng lực tự
học là những năng lực tổng quát, liên quan đến nhiều môn học. Năng lực sử dụng
ngôn ngữ và năng lực cảm thụ văn học là những năng lực đặc thù, trong đó năng lực
sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và tư duy đóng vai trò hết sức quan trọng trong học
tập của HS và công việc của các em trong tương lai, giúp các em nâng cao chất
lượng cuộc sống. Đồng thời môn Ngữ văn còn góp phần to lớn trong giáo dục tình
cảm và nhân cách cho người học.
Được phân công giảng dạy và bồi dưỡng môn Ngữ văn 9 nhiều năm, tôi
nhận thấy các tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam chiếm một vị trí quan trọng trong
chương trình. Nội dung văn bản hay, sâu sắc dễ dàng hình thành, phát triển năng lực
cảm thụ, phân tích, bình giá tác phẩm, hình thành kĩ năng giao tiếp (đọc, nói, viết)
và nhiều năng lực, phẩm chất khác. Đặc biệt nhiều năm, kì thi học sinh giỏi, kì thi
vào lớp 10 THPT chọn tuyển học sinh chất lượng cao chọn phần này làm đề thi.
Tuy nhiên, thời lượng bài học theo PPCT ngắn; nội dung văn bản dài, giáo
- Làm bài thiên về kể, liệt kê sự việc hơn là đưa ra ý kiến đánh giá, nhận xét
về tác phẩm nên bài làm khô cứng, máy móc, nghèo ý tưởng.
- Kĩ năng vận dụng kiến thức để giải quyết tình huống trong thực tế thiếu
tính thuyết phục.
Như vậy với cách dạy và học như trên không còn phù hợp với xu thế của giáo
dục hiện đại và chưa đáp ứng được mục tiêu phát triển năng lực, phẩm chất trong bộ
môn Ngữ văn.
Nguyên nhân chính của thực trạng dạy và học trên là:
- Giáo viên chưa lựa chọn nội dung , phương pháp và hình thức dạy phù hợp
để phát triển năng lực học sinh.
- Học sinh còn thụ động, chưa có phương pháp học bộ môn hiệu quả.
Xuất phát từ thực tế đã nêu. Tôi muốn tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn để trang
bị cho mình phương pháp dạy các văn bản Truyện Hiện đại Việt Nam (NV9) theo
định hướng phát triển năng lực cho đối tượng học sinh khá giỏi có hiệu quả. Giúp
học sinh phát triển được những năng lực đặc thù của môn học, biết vận dụng, ôn tập
kiến thức đã học giải quyết các tình huống trong cuộc sống. Chính vì vậy tôi chọn
đề tài: “ Dạy học phần truyện Hiện đại Việt Nam (SGK Ngữ Văn 9) theo định
hướng phát triển năng lực cho học sinh khá - giỏi lớp 9”
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
- Về lí luận: Sáng kiến kinh nghiệm của tôi góp phần tìm hiểu, nghiên cứu
sâu hơn và bổ sung thêm lí luận về phương pháp dạy học văn bản truyện Hiện đại
Việt Nam theo định hướng tiếp cận năng lực người học.
- Về thực tiễn:
2
Giáo viên thực hiện: Phạm Thị Hồng Loan
Trường THCS Nguyễn Tất Thành- Sa Thầy
Dạy học phần đọc- hiểu và làm văn nghị luận về tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam (SGK Ngữ Văn 9)
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: So sánh đối chiếu các số liệu, thông tin
liên quan để rút ra kết luận.
3
Giáo viên thực hiện: Phạm Thị Hồng Loan
Trường THCS Nguyễn Tất Thành- Sa Thầy
Dạy học phần đọc- hiểu và làm văn nghị luận về tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam (SGK Ngữ Văn 9)
theo định hướng phát triển năng lựccho học sinh khá, giỏi lớp 9
- Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành dạy học, tổ chức hoạt động Ngữ Văn
theo định hướng của đề tài.
(Ngoài ra tôi còn sử dụng các phương pháp hỗ trợ khác như: thăm dò ý kiến
học sinh trao đổi kinh nghiệm của đồng nghiệp)
4
Giáo viên thực hiện: Phạm Thị Hồng Loan
Trường THCS Nguyễn Tất Thành- Sa Thầy
Dạy học phần đọc- hiểu và làm văn nghị luận về tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam (SGK Ngữ Văn 9)
theo định hướng phát triển năng lựccho học sinh khá, giỏi lớp 9
B. PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1. Dạy học Văn theo định hướng tiếp cận năng lực người học.
Khái niệm “Năng lực” là một vấn đề rộng, với nhiều cách định nghĩa khác
nhau:
Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh là thông
qua môn học, học sinh có khả năng vận dụng hiệu quả những điều đã học trên lớp và
đã biết qua trải nghiệm vào quá trình học tập và trong đời sống. Phát triển năng lực
đặc thù của môn học gồm: năng lực giao tiếp tiếng Việt (nghe, nói, đọc) và năng lực
thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ. Ngoài ra, học sinh cũng cần được phát huy
các năng lực khác như: năng lực giải quyết vấn đề, giao tiếp, sáng tạo, hợp tác, tự
quản bản thân...
Các năng lực cần phát triển trong môn Ngữ Văn :
Năng lực
1. Giải quyết
vấn đề
2. Năng lực
sáng tạo
3. Hợp tác
Đặc điểm
- Phát hiện vấn đề, đề
xuất giải pháp.
- Thực hiện
Thể hiện trong môn Ngữ văn
- Phát hiện và lí giải những vấn đề nhập
nhằng, mơ hồ, đa nghĩa, khó hiểu trong nội
dung và nghệ thuật.
- Phát hiện và lí giải những vấn đề trong
thực tiễn đời sống được gợi ra từ tác phẩm.
Trường THCS Nguyễn Tất Thành- Sa Thầy
Dạy học phần đọc- hiểu và làm văn nghị luận về tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam (SGK Ngữ Văn 9)
theo định hướng phát triển năng lựccho học sinh khá, giỏi lớp 9
- HS cần biết xác định các kế hoạch hành
- Làm chủ cảm xúc
động cho cá nhân và chủ động điều chỉnh kế
hoạch để đạt được mục tiêu đặt ra, nhận biết
4. Tự quản bản - Suy nghĩ và hành động
hướng vào mục tiêu phù những tác động của ngoại cảnh đến việc tiếp
thân (Thực
thu kiến thức và rèn luyện kĩ năng của cá
chất là kĩ năng hợp với hoàn cảnh.
nhân để khai thác, phát huy những yếu tố
sống)
- Tự đánh giá, điều
tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực, từ
chỉnh hành động phù
đó xác định được các hành vi đúng đắn, cần
hợp với những tình
thiết trong những tình huống của cuộc sống.
huống mới.
- Năng lực giao tiếp trong các nội dung dạy
học tiếng Việt được thể hiện ở 4 kĩ năng cơ
Sử dụng tiếng Việt một bản: nghe, nói, đọc, viết và khả năng ứng
5. Năng lực
cách phù hợp và hiệu dụng các kiến thức và kĩ năng ấy vào các
7
Giáo viên thực hiện: Phạm Thị Hồng Loan
Trường THCS Nguyễn Tất Thành- Sa Thầy
Dạy học phần đọc- hiểu và làm văn nghị luận về tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam (SGK Ngữ Văn 9)
theo định hướng phát triển năng lựccho học sinh khá, giỏi lớp 9
truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp. Nếu mỗi nhân vật của tiểu
thuyết là một thế giới thì mỗi nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới
ấy. Có nghĩa truyện ngắn thường không nhắm tới việc khắc họa những tính cách
điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh.
Nhân vật của truyện ngắn thường là một mảnh nhỏ của thế giới đời thường
và là hiện thân cho một trạng thái quan hệ hay ý thức xã hội. Cốt truyện của truyện
ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, chức năng của nó nói
chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người.
Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường
được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng. Bút pháp trần thuật
của truyện ngắn thường là chấm phá. Yếu tố quan trọng bậc nhất trong truyện ngắn
là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo
cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết. Chi tiết trong truyện ngắn phải tiêu
biểu, biểu trưng cho ý tưởng nghệ thuật của nhà văn. Thế giới nghệ thuật của truyện
còn có cả giọng điệu của tác phẩm: giọng tâm sự (Làng) hay giọng trầm lắng, buồn
(Chiếc lược ngà)… Tóm lại, truyện ngắn là thể loại gần gũi, có khả năng phản ánh
nhanh nhạy, thực tế đời sống.
3. Thống kê tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam trong chương trình NV9.
ST
T
miệng
của
chiến
những người
thực
tản cư.
dân
Pháp)
- Ngôi
thứ
ba
qua điểm
nhìn từ
nhân vật
ông Hai.
- Truyện thể hiện
tình yêu làng quê
sâu sắc thống nhất
với tinh thần yêu
nước,
ủng
hộ
kháng chiến của
người nông dân.
- Cuộc gặp gỡ
- Năm tình cờ giữa
anh
Pa
trong
một
chuyến
đi thực
tế
ở
Lào Cai
tác khí tượng nhân vật cống hiến sức mình
kiêm vật lí ông hoạ cho đất nước.
địa cầu trên sĩ.
đỉnh cao Yên
Sơn với ông
hoạ sĩ, cô kĩ
sĩ khi xe của
họ dừng lại
bên đường.
- Năm
1966
giữa
cuộc
kháng
chiến
chống
Mĩ
đang
diễn ra
- Qua câu truyên éo
le và cảm động về
hai cha con: ông
Sáu và bé Thu
truyện ca ngợi tình
cha con thắm thiết
trong hoàn cảnh éo
le của chiến tranh.
- Ở chiến khu
ông Sáu dành
tất cả tình yêu
thương vào
việc làm cho
con 1 chiếc lược ngà. Nhưng ông đã hi
sinh khi chưa
kịp trao cây
lược cho con.
9
Giáo viên thực hiện: Phạm Thị Hồng Loan
Trường THCS Nguyễn Tất Thành- Sa Thầy
Dạy học phần đọc- hiểu và làm văn nghị luận về tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam (SGK Ngữ Văn 9)
theo định hướng phát triển năng lựccho học sinh khá, giỏi lớp 9
Nguyễn Minh Châu
của cái bãi
bồi ngay bên
kia sông ngay
trước cửa sổ
và khao khát
- Những suy ngẫm,
trải nghiệm sâu sắc
của nhà văn về con
người và cuộc đời,
thức
tỉnh
mọi
người sự trân trọng
những vẻ đẹp và
giá trị bình dị, gần
gũi của gia đình
thứ quê hương.
qua
từ
vật
được một lần
đặt chân lên
đó.
- Nhĩ nhờ
cậu con trai
thực hiện
giúp mình
khao khát đó
Thao), tâm lý
- Ngôi
thứ nhất
qua điểm
nhìn của
nhân vật
Phương
Định
- Truyện ca ngợi vẻ
đẹp tâm hồn của ba
cô gái thanh niêm
xung phong trong
hoàn cảnh chiến
tranh ác liệt.
10
Giáo viên thực hiện: Phạm Thị Hồng Loan
Trường THCS Nguyễn Tất Thành- Sa Thầy
Dạy học phần đọc- hiểu và làm văn nghị luận về tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam (SGK Ngữ Văn 9)
theo định hướng phát triển năng lựccho học sinh khá, giỏi lớp 9
Phương Định
trong một lần
phá bom.
Bảng thống kê trên cho thấy các văn bản được phân phối dạy học đều qua các
giai đoạn từ 1945 đến sau 1975. Ý nghĩa nội dung các văn bản này đều phản ánh đất
nước và con người Việt Nam qua các giai đoạn gắn liền với cuộc đấu tranh chống
Pháp, Mĩ và xây dựng CNXH ở miền Bắc.
Truyện ngắn giai đoạn này đã phát triển mạnh mẽ và độc đáo theo cách
riêng, với phẩm chất mới về nội dung và hình thức. Bằng những nghệ thuật xây
dựng tình huống truyện, xây dựng nhân vật sinh động, sắp xếp tình tiết, chọn lọc
ngôn ngữ truyện vừa thể hiện khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng vừa góp phần đắc
lực vào sự nghiệp chung; giáo dục tinh thần yêu nước, bồi đắp thêm niềm tin và
động viên ý chí chiến đấu, bảo vệ tổ quốc.
II. MÔ TẢ THỰC TRẠNG:
1. Chương trình SGK:
Văn bản hay nhưng dài. Thời lượng theo phân phối chương trình ngắn.
Nặng về cung cấp kiến thức, ít chú trọng bồi dưỡng năng lực cho học sinh.
2. Giáo viên
Đa số giáo viên đều có ý thức đổi mới phương pháp dạy học, bước đầu vận
dụng phương pháp, hình thức dạy học tích cực để phát triển năng lực của người học.
11
Giáo viên thực hiện: Phạm Thị Hồng Loan
Trường THCS Nguyễn Tất Thành- Sa Thầy
Dạy học phần đọc- hiểu và làm văn nghị luận về tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam (SGK Ngữ Văn 9)
theo định hướng phát triển năng lựccho học sinh khá, giỏi lớp 9
Tuy nhiên trong thực tế dự giờ đồng nghiệp và qua phiếu điều tra khảo sát
giáo viên (tham khảo phụ lục 3 ) tôi nhận thấy:
+ GV lựa chọn nội dung dạy học còn ở mức cơ bản, chưa có mở rộng nâng
cao cho học sinh khá, giỏi. Giáo viên chưa xác định rõ đâu là vấn đề cần khai thác,
Giáo viên thực hiện: Phạm Thị Hồng Loan
Trường THCS Nguyễn Tất Thành- Sa Thầy
Dạy học phần đọc- hiểu và làm văn nghị luận về tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam (SGK Ngữ Văn 9)
theo định hướng phát triển năng lựccho học sinh khá, giỏi lớp 9
- Học sinh hiểu bài nhưng chưa hiểu sâu sắc vấn đề, kiến thức còn rời rạc,
thiếu sự mở rộng, minh họa, đặc biệt kĩ năng liên hệ, tự bộc lộ còn hạn chế.
- Năng lực chính trong bộ môn Ngữ Văn như của học sinh chỉ đạt ở mức
trung bình, khá.
- Hs còn thụ động, lười học dẫn chứng, phụ thuộc vào sách tham khảo. Ít
được trải nghiệm, ít vận dụng kiến thức liên quan của các môn học khác và cuộc
sống.
Theo kết quả bài kiểm tra phần Văn bản (Truyện) học kì I, tôi nhận thấy:
- Hs làm bài thiên về kể hoặc tóm tắt sự việc đơn thuần, ít nhận xét, đánh
giá. Ghi nhớ máy móc, dựa dẫm vào giáo viên và tài liệu tham khảo, chưa phát huy
được năng lực suy nghĩ độc lập, năng lực vận dụng kiến thức giải quyết tình huống
trong thực tế chưa hiệu quả.
- Lười học dẫn chứng, chưa biết chọn lọc dẫn chứng đắt (chi tiết nghệ thuật
quan trọng liên quan đến nhân vật), thường không chú ý đặt đoạn trích trong chỉnh
thể tác phẩm.
- Học sinh mắc lỗi về kĩ năng: Nắm chưa chắc đặc trưng thể loại truyện ngắn,
dạng văn nghị luận. Vận dụng vào đề cụ thể thường lúng túng. Diễn đạt tràn lan
không phù hợp, lạc phong cách. Trình bày bài không có luận điểm rõ ràng. Thao tác
phân tích, tổng hợp còn hạn chế.
* Nguyên nhân chính:
- GV còn lúng túng, dè dặt trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp, hình
xây dựng nhân vật.
- Liên hệ nội dung của tác phẩm với hiểu biết và trải nghiệm của cá nhân, rút
ra bài học cho bản thân.
- Đánh giá được giá trị thẩm mỹ ( cái hay, cái đẹp) của tác phẩm, phong cách
của nhà văn.
- Nhận biết được các yếu tố văn hóa, lịch sử, xã hội, được thể hiện trong văn
bản.
- So sánh, đánh giá các văn bản cùng một chủ đề hay cùng một tác giả.
- Giải thích được nhan đề tác phẩm….
Qua đó HS cắt nghĩa độc đáo về nội dung, giá trị của tác phẩm, thể hiện
những suy nghĩ, cảm nhận cá nhân. Ngoài ra còn phát huy được những năng lực
khác như: năng lực tự học, tự nghiên cứu...
I. Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm.
1. Tác giả:
Giáo viên định hướng để học sinh tìm hiểu về quê quán, cuộc đời, phong
cách riêng, sự nghiệp sáng tác của từng tác giả để học sinh tự tìm ra kiến thức: Tác
giả đó có phong cách sáng tác riêng gì? Nhà văn có vai trò như thế nào trong nền
14
Giáo viên thực hiện: Phạm Thị Hồng Loan
Trường THCS Nguyễn Tất Thành- Sa Thầy
Dạy học phần đọc- hiểu và làm văn nghị luận về tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam (SGK Ngữ Văn 9)
theo định hướng phát triển năng lựccho học sinh khá, giỏi lớp 9
văn học Việt Nam? Hoặc Những yếu tố đó ảnh hưởng như thế nào đến việc sáng
tác tác phẩm?. Mặc dù nội dung này các em không cần đưa nhiều vào bài viết song
giúp học sinh cảm nhận một cách đầy đủ; không nhận thức phiến diện, chủ quan,
méo mó về tác phẩm và có thể vận dụng trong phần so sánh, liên hệ. Hơn nữa khi
khó đọc. Đọc văn của anh, ta cảm thấy như là tiếp xúc với cuộc đời thật, với hơi thở
cuộc sống thật, với từng con người mà mình đã gặp ở đâu đó, theo tôi, đây là một
15
Giáo viên thực hiện: Phạm Thị Hồng Loan
Trường THCS Nguyễn Tất Thành- Sa Thầy
Dạy học phần đọc- hiểu và làm văn nghị luận về tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam (SGK Ngữ Văn 9)
theo định hướng phát triển năng lựccho học sinh khá, giỏi lớp 9
nét đặc sắc của nhà văn Nguyễn Quang Sáng” (Nguyễn Quang Sáng – Nhà văn của
đồng bằng Nam Bộ, Diễn đàn văn học).
+ Nhà văn Trần Đăng Khoa kết luận: “Trong hơi văn của Nguyễn Quang
Sáng nó sục lên mùi vị của sông nước Tháp Mười, cả cái chất đậm đặc không thể
trộn lẫn”.
- Nhiều nhà nghiên cứu và phê bình văn học khẳng định: “Nguyễn Quang
Sáng có biệt tài kể chuyện”. Nhờ biệt tài ấy mà ông đã dẫn dắt người đọc đi vào
câu chuyện của mình hết sức tự nhiên và hấp dẫn.
2. Tác phẩm:
- Chú ý đến hoàn cảnh chung và hoàn cảnh riêng sáng tác tác phẩm. Mỗi
tác phẩm văn chương luôn luôn ra đời trong những bối cảnh lịch sử xã hội văn hóa
cụ thể, những yếu tố đó thẩm thấu, chắt lọc thông qua lăng kính của nhà văn để đi
vào tác phẩm. Hoàn cảnh sáng tác tạo lên chất men xúc tác cho tác phẩm ra đời.
+ Hoàn cảnh chung (Hoàn cảnh xã hội, hoàn cảnh lớn)
+ Hoàn cảnh riêng (gia đình, bản thân,)
Phải hướng học sinh đặt chúng trong mối quan hệ mật thiết với nhau. Phải
hiểu hoàn cảnh sáng tác mới có thể hiểu được tình cảm, tư tưởng mà tác giả gửi
gắm trong tác phẩm.
Ví dụ: Hoàn cảnh ra đời tác phẩm Chiếc lược ngà- Nguyễn Quang Sáng :
Ví dụ: Bến quê- Nguyễn Minh Châu trong xu hướng văn học thời kì đổi mới
(sau 1975) : hướng nội, khai thác sâu số phận cá nhân và thân phận con người đời
thường. Qua đó chứa đựng nhiều suy nghĩ, phát hiện của tác giả về đời sống, con
người và nghệ thuật.
II. Đọc- hiểu văn bản:
1. Đọc. Là khâu quan trọng trong quá trình cảm thụ và phân tích văn học. Khi
đọc tác phẩm truyện cần bắt đúng giọng của nhân vật, ngữ điệu để làm sáng rõ từng
ý nghĩa, tình cảm, thái độ, tâm trạng mà nhà văn muốn gởi tới người đọc, người
nghe. Để phát huy năng lực đọc diễn cảm GV cần hướng dẫn kĩ khâu này cả ở trên
lớp và ở nhà.
Cần đọc kĩ văn bản ở nhà, đánh dấu những từ ngữ, những chi tiết khó hoặc
không hiểu để hỏi GV. Đọc xong, cần tìm hiểu những chi tiết đặc sắc về nội dung và
nghệ thuật của tác phẩm. Nêu hướng đọc đối với từng điểm nhấn trong lời thoại.
Ở lớp:
- Giáo viên: Cần phải có sự chuẩn bị kĩ, phải đọc đúng, đọc hay, đọc thật
diễn cảm, bộc lộ được cảm xúc của nhà văn. Người giáo viên có thể có nhiều hình
thức hướng dẫn học sinh đọc: đọc mẫu, hướng dẫn học sinh đọc, vừa đọc vừa bình
vừa tóm tắt tác phẩm, đọc phân vai.
- Học sinh: Yêu cầu học sinh phải đọc đúng, đọc diễn cảm ở nhà trước, khi
đến lớp thầy hướng dẫn học sinh cách đọc, khơi gợi cảm xúc của các em, khích lệ
các em đọc một cách hứng thú.
Ví dụ: Gọi 2 học sinh đọc tiếng Ba...a...a....ba! (Trong Chiếc lược ngà ).
Sau đó cho học sinh khác nhận xét và bình luận về tiếng kêu ấy của bé Thu.
- Nhận xét: Đó là tiếng ba ngân dài. Không tròn vành mà ngập ngừng, đứt
quãng.
- Bình luận: Một đứa trẻ khi mới tập nói thì tiếng nói đầu tiên của nó sẽ là
tiếng ba ( sau tiếng bà và tiếng mẹ). Nhưng đối với bé Thu phải mất 8 năm em mới
được gọi ba. Tiếng kêu ấy đã dồn nén trong nhiều năm giờ vỡ òa. Tiếng kêu ấy
không phải là biểu hiện của sự sợ hãi mà là tiếng kêu của tình yêu thương ruột thịt.
2. Tóm tắt:
- Người tóm tắt cần diễn đạt theo cách riêng của mình, tránh đến mức tối đa
dùng lại các câu, đoạn trong văn bản gốc. Nên dùng câu đủ thành phần.
3.Thể loại:
- Đặc điểm thể loại truyện ngắn từng giai đoạn, có điểm gì khác so với giai
đoạn trước đó. Phân biệt truyện ngắn với tiểu thuyết.
Ví dụ: Biểu hiện truyện ngắn giai đoạn sau 1975 (Bến quê) có điểm khác
với giai đoạn trước đó là thường chú ý đến nội tâm hơn là vẻ bên ngoài, chú trọng
độc thoại nội tâm, tạo giọng điệu.
4. Tìm hiểu, phân tích văn bản:
- Sáng tạo tình huống truyện:
18
Giáo viên thực hiện: Phạm Thị Hồng Loan
Trường THCS Nguyễn Tất Thành- Sa Thầy
Dạy học phần đọc- hiểu và làm văn nghị luận về tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam (SGK Ngữ Văn 9)
theo định hướng phát triển năng lựccho học sinh khá, giỏi lớp 9
Nếu như cấu tứ, mạch cảm xúc là điểm tựa để người đọc khám phá và tìm
hiểu một bài thơ thì tình huống truyện chính là yếu tố tạo những bất ngờ và làm nên
nét độc đáo cho câu chuyện. Tình huống truyện là hoàn cảnh bất bình thường mà
con người buộc phải bộc lộ bản lĩnh, tính cách của mình. Trong tác phẩm truyện tình
huống có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc thể hiện số phận và tính cách nhân
vật, là một trong những vấn đề cốt lõi, là chìa khóa khi khám phá tác phẩm. Tình
huống càng độc đáo, lạ thì tác dụng thuyết phục càng cao, càng hấp dẫn người đọc.
Vì vậy, khi phân tích truyện - nhất là ở những tác phẩm hay, đặc sắc mà GV không
thể bỏ qua việc phân tích tình huống truyện. Tuy nhiên, tùy vào từng tác phẩm cụ
thể mà giáo viên có những định hướng phân tích khác nhau.
Gợi ý các bước để xác định và phân tích tình huống truyện:
theo định hướng phát triển năng lựccho học sinh khá, giỏi lớp 9
Bước 4: Gợi cho em nghĩ đến và thấm thía những đau thương và mất mát mà
chiến tranh đã gây ra cho bao nhiêu con người và bao nhiêu gia đình. Từ đó trân
trọng tình cảm gia đình trong cuộc sống hiện đại.
- Phân tích nhân vật: Nhân vật trong tác phẩm là người chở nội dung, phản
ánh tư tưởng, chủ đề của tác phẩm, là nơi kí thác quan niệm về con người, về nhân
sinh của nhà văn. Bởi thế, phân tích nhân vật trở thành con đường quan trọng nhất
để đi đến giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo của tác phẩm, để nhận ra lí tưởng thẩm
mĩ của nhà văn.
Cách 1: Phân tích theo đoạn đời của nhân vật
Cách 2: Phân tích theo từng nét tính cách, phẩm chất của nhân vật.
Không phải bất cứ nhân vật nào cũng được nhà văn thể hiện đầy đủ các
phương diện (lai lịch, ngoại hình, ngôn ngữ, nội tâm, cử chỉ, hành động, qua lời của
nhân vật khác). Tùy trường hợp mà có chỗ nhiều, chỗ ít, chỗ đậm, chỗ nhạt. Bởi thế,
không phải cứ máy móc tìm đủ, phân tích đủ mà cần biết tập trung, xoáy sâu vào các
phương diện thành công nhất của tác phẩm.
Ví dụ: Nếu nhân vật anh thanh niên trong truyện “Lặng lẽ Sa Pa” chỉ là
“một bức chân dung” (theo cách nói của tác giả) hiện lên chủ yếu qua cảm xúc và
suy nghĩ cùng thái độ cảm mến của các nhân vật phụ thì “Làng” đặc biệt thành
công ở nghệ thuật miêu tả tâm lí và ngôn ngữ nhân vật; Những nhân vật: bé Thu
trong (Chiếc lược ngà), Phương Định (trong Những ngôi sao xa xôi), lại là những
nhân vật được khắc họa khá rõ về tính cách và nội tâm; Còn Nhĩ (trong Bến quê) là
loại nhân vật tư tưởng để tác giả gửi gắm những chiêm nghiệm, triết lí về cuộc sống
và con người.
Gợi ý phân tích nhân vật:
- Cho dù ở cách nào khi phân tích nhân vật có thể chọn những nét tiêu biểu
nhất về lai lịch, số phận, cuộc đời, ngoại hình, ngôn ngữ, nội tâm, mối quan hệ với
các nhân vật khác, cử chỉ, hành động để làm rõ tính cách, phẩm chất, số phận của
nhân vật.
thành…
Ví dụ: Phẩm chất, tính cách của con người bộc lộ chân xác, đầy đủ nhất qua
cử chỉ, hành động. Cần chú ý các hành động, sự việc chính, các biến cố, tâm trạng
thái độ tiêu biểu của nhân vật.
Khi phân tích nhân vật ông Hai ( Làng- Kim Lân) ta nên chú ý đến chi tiết
ông Hai mắc tật hay khoe. Theo ông thì cái gì của làng Chợ Dầu quê ông cũng hơn
hẳn thiên hạ. Mỗi khi nói đến cái làng Chợ Dầu ông đều kể bằng giọng say mê náo
nức lạ thường. “ Nào là làng mình nhà ngói san sát, sầm uất như tỉnh; nào là
đường làng toàn lát đá xanh, trời mưa đi từ đầu làng đến cuối làng không hề lấm
gót… ” Ông Hai còn báo với mọi người cái tin làng ông bị giặc phá, khoe nhà ông
bị giặc đốt: “Tây nó đốt nhà tôi rồi ông chủ ạ. Đốt nhẵn…”
=> Miêu tả những cử chỉ, hành động ấy của nhân vật nhà văn đã làm nổi bật niềm
tự hào, hãnh diện về làng mình của ông Hai.
Chú ý đến nghệ thuật xây dựng nhân vật và ý nghĩa của nó.
+ Độc thoại nội tâm: thế giới bên trong con người với những cảm giác, cảm
xúc, tình cảm, suy nghĩ…GV cần định hướng để học sinh tìm ra kiến thức : Hình
thức này trong đoạn trích có tác dụng như thế nào trong việc khắc hoạ những
diễn biến tâm lí của nhân vật và thể hiện chủ đề tác phẩm ?
Ví dụ: Cái tin làng theo Tây đã khiến ông Hai từ bàng hoàng, sững sờ đến
xấu hổ, trở thành một nỗi ám ảnh day dứt trong lòng ông, khiến ông vô cùng đau
khổ. Để rồi trong tâm trí ông Hai đã diễn ra một cuộc xung đột dữ dội.
21
Giáo viên thực hiện: Phạm Thị Hồng Loan
Trường THCS Nguyễn Tất Thành- Sa Thầy
Dạy học phần đọc- hiểu và làm văn nghị luận về tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam (SGK Ngữ Văn 9)
theo định hướng phát triển năng lựccho học sinh khá, giỏi lớp 9
vang âm, khơi gợi bao điều suy nghĩ khác trong óc người khác, có sẵn mà chưa rõ
hay chưa được đúng.
Nêu rõ những điều anh suy nghĩ và những điều làm cho người ta suy nghĩ về anh
trong truyện ngắn. Từ đó gợi cho em những bài học gì về cách sống đẹp ?
Những điều anh suy nghĩ :
- Anh suy nghĩ về hoàn cảnh làm việc, công việc mình làm: (Khi ta làm việc,
ta với công việc là đôi, sao gọi là một mình được; công việc của cháu gian khổ thế
22
Giáo viên thực hiện: Phạm Thị Hồng Loan
Trường THCS Nguyễn Tất Thành- Sa Thầy
Dạy học phần đọc- hiểu và làm văn nghị luận về tác phẩm truyện Hiện đại Việt Nam (SGK Ngữ Văn 9)
theo định hướng phát triển năng lựccho học sinh khá, giỏi lớp 9
đấy, chứ cất nó đi, cháu buồn đến chết mất). Anh đã vượt lên hoàn cảnh bằng
những suy nghĩ rất đẹp, giản dị mà sâu sắc về công việc, về cuộc sống. Anh thấy
được ý nghĩa cao quý trong công việc thầm lặng của mình.
- Anh thực sự cảm thấy hạnh phúc khi biết những việc mình làm đã góp một
phần nhỏ giúp cho không quân bắn rơi máy bay Mĩ (từ hôm ấy cháu sống thật hạnh
phúc). Điều này giúp anh hiểu được ý nghĩa lớn lao của cuộc cuộc sống.
- Anh suy nghĩ về những con người đang sống xung quanh anh: ông kĩ sư
nông nghiệp cần mẫn ngày này qua ngày khác thụ phấn cho hàng vạn cây su hào
với mong ước để củ su hào nhân dân toàn miền Bắc nước ta ăn được to hơn, ngọt
hơn trước; anh cán bộ nghiên cứu sét mười một năm không một ngày xa cơ quan để
quyết tâm hoàn thành cho được bản đồ sét.
- Đó là những con người làm cho anh thanh niên thấy cuộc đời đẹp quá. Và
anh mơ ước được làm việc trên trạm đỉnh Phan xi phăng, nơi lí tưởng để làm công
việc khí tượng.
mục đích, lí tưởng…)
- Đặt đoạn trích trong chỉnh thể của tác phẩm:
Chúng ta không thể khen Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng ) hay khi đã đọc
được nửa truyện; không thể khen Kim Lân tài khi mới đọc đến đoạn ông Hai đi tản
cư. Chỉnh thể văn bản nghệ thuật không phải là một số cộng đơn thuần từ các yếu tố
mà thành. Nó là một chỉnh thể sống động, trong đó các yếu tố quy định, phối hợp
lẫn nhau và thổi sức sống vào cho nhau.
Do những hoàn cảnh đặc thù của trích giảng văn học, những người làm sách
phải in nhỏ toàn bộ văn bản ở những phần không được trích giảng. Vì vậy, trong khi
phân tích, bình giảng tác phẩm, phải chú ý đến mối quan hệ giữa từng yếu tố, bộ
phận với toàn thể cấu trúc. Không nên sa vào những yếu tố cô lập, tách chúng ra
khỏi những mối liên hệ với các yếu tố khác và với toàn thể chỉnh thể tác phẩm, từ đó
dễ đánh mất ý nghĩa khái quát của tác phẩm. Ngược lại, cũng không vì chú ý đến
toàn thể mà bỏ quên hoặc xem nhẹ các yếu tố, không nhìn thấy vai trò của chúng
trong việc tạo ra ý nghĩa chiều sâu của văn bản.
Ví dụ: Khi phân tích ý nghĩa của hình ảnh “Chiếc lược ngà” ngoài ý nghĩa:
- Là kỉ vật, là minh chứng cho lòng yêu thương vô bờ bến của ông Sáu đối với
con.
- Là biểu tượng của tình cha con thiêng liêng, bất diệt.
- Là nhân chứng, là nỗi đau của sự mất mát, đau thương trong chiến tranh.
- Là niềm hi vọng, tin tưởng của con người trong hoàn cảnh chiến tranh xa
cách, khốc liệt, éo le.
Thì còn một ý nghĩa nữa là cầu nối tình cảm giữa bác Ba và bé Thu-“ một
tình cảm giống như tình cha con đã nảy nở giữa họ” - khi bác Ba tình cờ gặp lại
bé Thu trong một trạm giao liên ở vùng Đồng Tháp Mười.
Như vậy khi tìm hiểu văn bản giáo viên phải chú ý đến phần cuối (chữ nhỏ
kết thúc truyện) trong sách giáo khoa. Nghĩa là không tách rời đoạn trích với phần
cuối của tác phẩm.
- Cần biết so sánh tương đồng và so sánh tương phản để làm sáng rõ tác
So sánh các tác phẩm ra đời cùng thời nhưng có điểm khác về đề tài.
Ví dụ: Trong bài thơ Đồng chí – Chính Hữu, bài thơ về Tiểu đội xe không
kính- Phạm Tiến Duật ta thấy được những gian khổ, khốc liệt của cuộc sống, chiến
đấu. Cũng viết về đề tài này nhưng Nguyễn Quang Sáng không viết về bom rơi, đạn
nổ trên chiến trường mà lại viết về chia li, xa cách trong đời sống tình cảm của con
người trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh.
Các tác phẩm có điểm chung về đề tài nhưng khác biệt về thời gian và
không gian sáng tác để thấy được sự gặp gỡ kì lạ về tình cảm, tư tưởng của con
người trong văn chương.
Ví dụ: So sánh hình ảnh người nông dân qua hai tác phẩm “Lão Hạc” của
Nam Cao và “Làng” của Kim Lân?
5. Tổng kết:
a. Nghệ thuật:
- Học sinh tổng hợp đặc điểm nổi bật về nghệ thuật của tác phẩm. Từ đó, cần
chốt lại một số nét về nghệ thuật chủ yếu và rút ra chủ đề của tác phẩm.
- Cần tôn trọng những phát hiện mới, hợp lí của học sinh khi phát hiện ra yếu
tố nghệ thuật trong tác phẩm.
Ví dụ: Trong phần tổng kết giảng dạy có học sinh hỏi tôi:
Tại sao các nhân vật trong tác phẩm Lặng lẽ Sa Pa đều được đặt tên bằng
các danh từ chung như: anh thanh niên, cô kĩ sư, ông họa sĩ, bác lái xe, nhà nghiên
cứu khoa học, ông kĩ sư vườn rau…? Cách đặt tên như vậy có ý nghĩa gì? (Khẳng
định tính điển hình của các nhân vật, họ không phải chỉ là những con người cụ thể
25
Giáo viên thực hiện: Phạm Thị Hồng Loan
Trường THCS Nguyễn Tất Thành- Sa Thầy