Tài liệu văn học phục vụ các bài giảng lịch sử dân tộc và thiết kế và tổ chức trò chơi trong dạy học các bài ôn tập, tổng kết chương trình THPT - Pdf 33

LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm gần đây, trên các phương tiện thông tin đại chúng,
không ít lần, chúng ta được nghe phản ánh về việc dạy học và thi môn Lịch sử
trong các trường học, qua các kì thi tốt nghiệp THPT. Làm sao để các em học
sinh yêu Lịch sử, học tốt môn Lịch sử? Đây là một vấn đề nói thì tưởng chừng
đơn giản nhưng thực tế lại vô cùng khó khăn.
Chúng ta vẫn thường nói với nhau rằng: không có phương pháp nào là
“vạn năng”, chỉ có cái tâm và nhiệt huyết của người thầy là “liều thuốc” hữu
hiệu để thực hiện các phương pháp dạy học hiệu quả. Nhưng cái tâm, sự nhiệt
huyết của người thầy không thể là cái gì đó... chung chung, mà phải là cái cụ thể
- những giờ dạy - học hiệu quả và lôi cuốn.
Trên thực tế hoạt động dạy học chúng ta phải thừa nhận rằng do tâm lí ôm
đồm kiến thức, sợ không trình bày hết các ý của sách giáo khoa thì học sinh sẽ
không nắm hết các nội dung theo yêu cầu nên giáo viên không giành được thời
gian cho việc mở rộng bài giảng, không mạnh dạn áp dụng các hình thức dạy
học tích cực, đặc biệt là đối với những bài ôn tập, tổng kết. Sau nữa, không phải
tất cả các giáo viên đều có điều kiện, tâm huyết để tìm tòi, nghiên cứu các tài
liệu và phương pháp tối ưu, phù hợp nhằm phục vụ tốt cho quá trình dạy học.
Trước những yêu cầu thực tiễn đó, chúng tôi - Ban biên soạn tài liệu bồi dưỡng
thường xuyên xây dựng 02 chuyên đề: Tài liệu văn học phục vụ các bài giảng lịch
sử dân tộc và Thiết kế và tổ chức trò chơi trong dạy học các bài ôn tập, tổng kết
chương trình THPT nhằm giúp các bạn đồng nghiệp có một nguồn tư liệu hữu ích,
phương pháp dạy học tích cực phục vụ cho việc dạy học được tốt hơn.
Ban biên soạn Tài liệu BDTX

1


CHUYÊN ĐỀ 1: SỬ DỤNG TÀI LIỆU VĂN HỌC TRONG GIẢNG
DẠY LỊCH SỬ DÂN TỘC Ở TRƯỜNG THPT
I. NGUYÊN TẮC LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở

liên môn, vì ở đây các em huy động những kiến thức đã học để hiểu sâu sắc,
toàn diện một sự kiện. Các em được ôn tập, củng cố, tổng hợp các kiến thức ở
mức cao hơn và biết vận dụng thông minh trong học tập, làm sáng rõ hơn kiến
thức mà học sinh được học trong mỗi môn.
II. SỬ DỤNG TÀI LIỆU VĂN HỌC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử không phải là một vấn đề
mới mà từ lâu vấn đề này đã được các nhà nghiên cứu lí luận về phương pháp
dạy học lịch sử khẳng định.
Về mặt lí luận mà nói, mỗi tiết dạy trên lớp, giáo viên không phải làm
nhiệm vụ nói lại tất cả những gì sách giáo khoa đã trình bày hay tóm tắt sách
giáo khoa. Để tạo được sự hứng thú học tập cho học sinh, tránh sự nhàm chán,
khô khan, mỗi tiết dạy đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư, nghiên cứu và trình
bày một cách sáng tạo, phù hợp với đối tượng học sinh. Công thức của tiến sĩ
N.G. Đari đưa ra đã trở thành khuôn mẫu chung nhất cho người giáo viên thực
hiện công tác soạn giảng.
1

2
2

3

Theo ông, con số 2 trong sơ đồ chỉ phần nội dung vừa có trong bài giảng,
vừa có trong sách giáo khoa. Đó là những vấn đề cơ bản nhất, khó nhất. Nắm
vững những vấn đề này một cách sâu sắc, vững chắc là nhiệm vụ được đặt ra
hàng đầu. Con số 1 chỉ phần tài liệu không có trong sách giáo khoa. Giáo viên
đưa phần này vào bài giảng nhằm nâng cao tính khoa học, sự trong sáng, tính
vừa sức của sách giáo khoa. Con số 3 chỉ nội dung không giảng ở trên lớp mà
học sinh phải tự học ở nhà.
Việc sử dụng tài liệu văn học trong các bài giảng lịch sử chính là một trong

truyền thuyết An Dương Vương xây thành Cổ Loa để minh họa. Liên quan đến cuộc
kháng chiến chống quân Tần xâm lược ở cuối thế kỉ III trước công nguyên, truyền
thuyết Cột đá thề cũng giải thích về một phong tục độc đáo của người Việt - tục thờ
4


quốc tổ Hùng Vương. Truyền thuyết kể rằng: Thời Hùng Vương thứ 18 (Hùng Duệ
Vương), nhà Tần sai quân xuống phương Nam tiến đánh nước ta. Người Lạc Việt đã
đoàn kết chặt chẽ với người Tây Âu dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh Thục Phán tiến
hành cuộc kháng chiến chống quân Tần. Kháng chiến thắng lợi, Hùng Vương không
có con trai, lại già yếu nên chuyển ngôi báu cho Thục Phán. Tây Âu sát nhập với Văn
Lang thành Âu Lạc. Sau khi Thục Phán lên ngôi xưng là An Dương Vương đã cho lập
cột đá thề, thề muôn đời thờ cũng để tưởng nhớ công ơn các vị vua Hùng. Trong dân
gian cho đến nay vẫn lưu truyền câu ca nhắc đến tục giỗ tổ Hùng Vương:
Ai về Phú Thọ cùng ta
Vui ngày giỗ tổ tháng ba mồng mười.
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mồng mười tháng ba.
Khắp miền truyền mãi câu ca,
Nước non vẫn nước non nhà ngàn năm.
Chúng ta cũng có thể khai thác truyền thuyết An Dương Vương xây thành
Cổ Loa kết hợp với nguồn tư liệu lịch sử khác để giúp học sinh hiểu việc xây
thành trên một nền đất thuộc vùng chiêm trũng là một công việc hết sức khó
khăn, gian khổ. Truyền thuyết kể rằng thành cứ xây xong, đêm đến các loài ma
quỷ hiện lên phá đổ làm cho nhân dân tốn bao công sức, vất vả, nhọc nhằn. Sự
xuất hiện thần Kim Quy và Nỏ thần chính là hiện thân của năng lực sáng tạo, trí
tuệ của nhân dân đã đúc rút kinh nghiệm để xây dựng Cổ Loa thành một tòa
thành kiên cố, một công trình phòng thủ quân sự độc đáo. Thành Cổ Loa là biểu
hiện của sự lớn mạnh về kĩ thuật quân sự, khả năng giữ nước của cha ông ta.
Ca dao xưa cũng nói về công trình này với một niềm tự hào:

Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng,
Ba kẻo oan ức lòng chồng,
Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này.
Tác phẩm Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát cũng tường thuật:
Bà Trưng quê ở Châu Phong
6


Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên
Chị em nặng một lời nguyền
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
Ngàn tây nổi áng phong trần
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên.
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô Định, dẹp yên biên thành.
Đô kì đóng cõi Mê Linh
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta.
Nhà Hán cử Mã Viện - một viên tướng già dạn dày kinh nghiệm trận mạc
chỉ huy một đạo quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa. Sau gần một năm anh dũng
chống địch, do lực lượng yếu, quân đội Trưng Trắc đã thất bại trong trận Cấm
Khê. Về cái chết của Hai Bà Trưng, dân gian có thơ rằng:
Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo
Chị em thất thế phải liều với sông.
Khi giảng về cuộc khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh, chúng ta có thể đọc cho
học sinh nghe các câu ca dao nói về người phụ nữ can trường, lẫm liệt xứ Thanh:
Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ múc nước rửa bành con voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi, đánh cồng

Ngô Quyền quê ở Đường Lâm
Cứu dân ra khỏi cát lầm ngàn năm.

8


2. Thời kì xây dựng quốc gia phong kiến độc lập tự chủ (từ thế kỉ X
đến giữa thế kỉ XIX)
Thế kỉ X, ba triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê tuy tồn tại ngắn ngủi, nhưng đã đặt
nền móng vững chắc cho sự phát triển của chế độ phong kiến Đại Việt ở giai đoạn sau.
Đánh giá công lao của Ngô Quyền, nhà thơ Hằng Phương đã sáng tác bài
thơ “Thăm lăng Ngô Quyền”:
Đây chính xã Đường Lâm
Lăng Ngô Quyền xưa đó
Cả một vùng đất đồi
Như Châu tuần bên mộ.
Hôm nay con cháu đến
Chiêm ngưỡng cả đền thờ
Cọc Bạch Đằng giết giặc
Nhớ sóng vẫn đang mơ
Trên lăng dựng tấm bia
Đơn sơ có bốn chữ
Mà sự tích anh hùng
Giữa đất trời rực rỡ.
Trong dẹp yên nội loạn
Ngoài đuổi giặc ngoại xâm
Xây nền móng tự chủ
Cho Đinh, Lê, Lí, Trần …
Sau khi Ngô Quyền mất, nội bộ chính quyền trung ương lục đục, một số
thế lực địa phương nhân đó nổi dậy, gây nên tình trạng chia cắt, tranh chấp lẫn

anh mình là Kiến Thành mà vẫn bao dung, độ lượng, coi trọng tình anh em cốt
nhục hơn ngôi báu. Về chuyện này, Trần Dụ Tông có thơ ca ngợi:
Dựng nghiệp Việt - Đường hai Thái Tông
10


Họ xưng Trinh Quân ta Nguyên Phong
Kiến Thành thì chết Yên Sinh sống
Miếu hiệu như nhau, đức chẳng đồng.
Nhà Lí - Trần rất quan tâm công tác thủy lợi, đẩy mạnh khai hoang mở rộng
sản xuất. Chính trị ổn định, kinh tế phát triển đã tạo nên cảnh thái bình thịnh trị.
Vua Trần Nhân Tông nhân chuyến về thăm Phủ Thiên Trường đã tức cảnh viết:
Cảnh chiều ở Thiên Trường
Trước xóm sau thôn tỏa khói lồng
Bóng chiều dường có lại dường không
Theo sáo mục đồng trâu về hết
Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng.
Thế kỉ XI - XIV, dân tộc ta phải liên tục đối mặt với những cuộc xâm lược
quy mô lớn của quân Tống, giặc Mông - Nguyên. Khi giảng về các cuộc kháng
chiến chống ngoại xâm của cha ông, chúng ta không thể không nhắc đến những
áng văn thơ hào sảng, thể hiện khí phách của dân tộc được các quý tộc Lí, Trần
sáng tác trong giai đoạn này. Bài Nam quốc sơn hà của Lí Thường Kiệt, Hịch
tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn được đánh giá là những áng “Thiên cổ hùng văn”.
Nam quốc sơn hà
Sông núi nước Nam vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm,
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
Hịch tướng sĩ
… Ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan. Lén

Múa giáo non sông trải mấy thu
12


Ba quân khí mạnh nuốt sao Ngưu
Công danh Nam tử còn vương nợ
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.
Ba lần đại thắng quân xâm lược Mông - Nguyên của quân dân Đại Việt ở
thế kỉ XIII đã làm cho uy danh nhà Trần lừng lẫy, chính quyền phong kiến
phương Bắc phải kiềng nể. Cuối thế kỉ 13, Trần Phu - sứ nhà Nguyên khi đến
nước ta đã làm bài thơ kể lại nỗi khiếp hãi ám ảnh của quân sĩ nhà Nguyên khi
bị bại trận ở Đại Việt như sau:
Kim qua ảnh lí đan tâm khổ
Đồng cổ thanh trung bạch phát sinh
Dĩ hạnh quy lai, thân kiện tại
Mộng hồi do giác trướng hồn kinh.
Tạm dịch:
Ánh gươm sắt lóe, lòng cay đắng
Tiếng trống đồng vang, tóc bạc sinh
May được trở về thân mạnh khỏe,
Trong mơ còn thấy vía hồn kinh.
Thơ ca đời sau cũng khắc họa hình ảnh những nhân vật kiệt xuất, có đóng
góp to lớn vào thắng lợi của dân tộc. Nguyễn Ái Quốc trong Lịch sử nước ta ca
ngợi công lao của Lí Thường Kiệt:
Lí Thường Kiệt là hiền thần,
Đuổi quân nhà Tống, phá quân Chiêm Thành.
Tuổi già phỉ chí công danh
Mà lòng yêu nước trung thành không phai.
Khen Trần Bình Trọng
(Phan Kế Bính)

Nhiễu nhân dân, bắt bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.
Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,
14


Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng.
Thằng há miệng, đứa nhe răng,
Máu mỡ bấy no nê chưa chán,
Nay xây nhà, mai đắp đất,
Chân tay nào phục dịch cho vừa?
Nặng nề những nổi phu phen
Tan tác cả nghề canh cửi.
Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,
Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!
Lòng người đều căm giận,
Trời đất chẳng dung tha…
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi đã bùng nổ năm 1418 và trở thành
trung tâm của phong trào yêu nước. Tâm lí mong mỏi, trông chờ ngày nghĩa quân
Lê Lợi tiến ra Bắc, giải phóng Đông Kinh được phản ánh qua câu ca dao xưa:
Lạy trời cho cả gió lên
Cờ vua Bình Định bay trên kinh thành.
Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi cũng đã tái hiện cuộc kháng chiến bền bỉ 10
năm của nhân dân ta như sau:
Ta đây:
Núi Lam Sơn dấy nghĩa
Chốn hoang dã nương mình
Ngẫm thù lớn há đội trời chung
Căm giặc nước thề không cùng sống
Đau lòng nhức óc, chốc đà mười mấy năm trời
Nếm mật nằm gai, há phải một hai sớm tối.

Sau lại sai tướng chẹn đường
Tuyệt nguồn lương thực
Ngày mười tháng tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế
Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu
Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh đại bại tử vong
Ngày hăm tám, thượng thư Lý Khánh cùng kế tự vẫn.
Thuận đà ta đưa lưỡi dao tung phá
16


Bí nước giặc quay mũi giáo đánh nhau
Lại thêm quân bốn mặt vây thành
Hẹn đến giữa tháng mười diệt giặc
Sĩ tốt kén người hùng hổ
Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Dánh một trận, sạch không kình ngạc
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Cơn gió to trút sạch lá khô,
Tổ kiến hổng sụt toang đê vỡ.
Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,
Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.
Lạng Giang, Lạng Sơn, thây chất đầy đường
Xương Giang, Bình Than, máu trôi đỏ nước
Ghê gớm thay! Sắc phong vân phải đổi,
Thảm đạm thay! Ánh nhật nguyệt phải mờ.
Bị ta chặn ở Lê Hoa,
Quân Vân Nam nghi ngờ, khiếp vía mà vỡ mật
Nghe Thăng thua ở Cần Trạm,

phát triển của các nghề thủ công, cảnh mua bán, phố xá phồn hoa, đô hội.
Rủ nhau chơi khắp Long Thành
Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai
Hàng Bồ, Hàng Bạc, Hàng Gai
Hàng Buồm, Hàng Thiếc, Hàng Hài, Hàng Khay
Mã Vĩ, Hàng Điếu, Hàng Giày
Hàng Lờ, Hàng Cót, Hàng Mây, Hàng Đàn
…Phồn hoa thứ nhất Long Thành
Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ
Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ
18


Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền.
Thế kỉ XV, văn hóa Đại Việt tiếp tục phát triển và đạt những thành tựu
lớn. Lê Thái Tông đã cho dựng bia Tiến sĩ vinh danh những người đỗ đạt đã
được ghi lại trong Đại Nam Quốc sử diễn ca
Thái Tông mở rộng khoa trường
Lập bia tiến sĩ trọng đường tư văn.
Tinh thần coi trọng giáo dục, trọng dụng người tài của triều Lê sơ đã được thể hiện
rất rõ qua bài văn bia Tiến sĩ của Thân Nhân Trung:"...Hiền tài là nguyên khí của quốc
gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu
mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục
nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết...”
Lê Thánh Tông là một đấng minh quân. Suốt thời kì ở ngôi, vua đã nổ lực
hoạt động cống hiến trên nhiều lĩnh vực và mặt nào cũng tỏ ra xuất sắc. Đại
Nam Quốc sử diễn ca ca ngợi Lê Thánh Tông:
…Thánh Tông cốt cách thần tiên
Lại thêm kinh thánh truyện hiền gia công.
Quốc âm, đường luật tinh thông

Lê Nam, Mạc Bắc rạch đôi sơn hà.
Năm 1692, nhà Mạc đã bị quân Lê - Trịnh đánh bật khỏi Thăng Long.
Một số người trong tôn thất cùng lực lượng còn lại chạy lên Cao Bằng, xây dựng
thành lũy cát cứ ở đây mãi đến năm 1697 mới bị tiêu diệt hoàn toàn. Kí ức dân
gian về thời kì này được thể hiện trong câu ca:
Cái cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo, đưa chồng tiếng khóc nỉ non
Nàng về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng
Ở nhà cò nhớ anh chăng?
20


Để anh kể chuyện Cao Bằng cho nghe.
Khi giảng về nội chiến và cảnh đất nước bị chia cắt chúng ta không thể
không nhắc đến Quảng Bình - chiến địa của cuộc phân tranh Trịnh - Nguyễn.
Nỗi lòng người dân nơi này được thể hiện qua câu ca:
Sông Gianh nước chảy đôi dòng
Đèn chong đôi ngọn biết trông ngọn nào?
Để ngăn chặn các cuộc tiến công của quân Trịnh ở mặt Bắc, chúa Nguyễn
Phúc Khoát đã theo mưu kế của Đào Duy Từ đắp hệ thống lũy đất dài từ núi Đâu
Mâu về biển Nhật Lệ. Quân Trịnh nhiều lần chủ động đánh vào Bố Chính nhưng
không thể thắng được quân chúa Nguyễn. Về điều này, dân gian có câu ca:
Lũy Thầy ai đắp mà cao
Sông Gianh ai bới ai đào mà sâu
Có tài thì vượt sông Gianh
Dẫu mọc thêm cánh Trường thành khó qua
Thứ nhất là sợ Lũy Thầy, thứ nhì sợ lầy Võ Xá
Mặc dù đất nước bị chia cắt, chính quyền phong kiến trung ương suy yếu
nhưng việc mở rộng lãnh thổ quốc gia cũng đã tạo những điều kiện cho nền kinh

Cho anh gửi một áo thâm hạt dầu.
Ở Đàng Trong thì:
Quảng Nam có lụa Phú Bông
Có khoai Trà Đảo, có sông Thu Bồn
Phú Bông dệt lụa, dệt sa
Kim Bồng thợ mộc, Ô Gia thợ rừng
22


Mn m mui bin Sa Hunh
Ngt ng Qung Ngói thm tỡnh quờ ta
ng phi, chim mớa, mch nha
Ai v Qung Ngói th qua mt ln
Trong cỏc th k XVI - XVIII, vn húa dõn tc tip tc phỏt trin mnh
m. o Pht khụng b hn ch ca chớnh quyn na nờn tip tc phỏt trin, n
sõu, bỏm r vo i sng vn húa tinh thn ca nhõn dõn. Chùa - Phật đã trở
thành chỗ dựa tinh thần cho con ngời, nơi gởi gắm ớc nguyện của con ngời khi
cuộc sống có điều éo le ngang trái:
Nghiờng vai nga vỏi Pht - Tri
ng cn hon nn ngi trm luõn
Chùa - Phật cũng là nơi để con ngời bày tỏ nỗi niềm cay đắng vì áp bức
bất công; niệm Phật là một cứu cánh giúp con ngời chấp nhận trớc những hiện
thực tàn nhẫn mà mình đang gánh chịu:
Tri cao anh kờu khụng thu
t rng anh kờu n thụng,
Nhng ngi bũn ca bũn cụng
Nam mụ A di Pht, phi tay khụng anh v.
Cỏc quan nim v o c ca dõn gian cng thm m tinh thn t bi, h x ca
Pht giỏo:
Ai i c cho lnh

Khi xưa Nguyễn Huệ ẩn danh nơi này
Bần Gie đốm đậu sáng ngời
Rạch Gầm soi dấu muôn đời oai danh.

24


Sau khi quân Tây Sơn hạ được thành Phú Xuân, Nguyễn Hữu Chỉnh
khuyên Nguyễn Huệ nên thừa thắng xông lên, đánh chiếm Bắc Hà. Sự kiện này
được Đại Nam quốc sử diễn ca chép lại:
Khéo đâu Chỉnh lại đưa đường
Rằng, “Trong thế sự chi nhường cho ai
Tướng công uy dậy bên trời,
Này cờ phá trúc hẳn mười chẳng xa!
Bấy lâu họ Trịnh gian tà
Binh kiêu, dân oán ắt là bại vong!
Uy trời ai dám tranh phong,
Hãy xin thừa thắng ruổi rong cõi ngoài”…
Việc Nguyễn Huệ ra Bắc Hà lần thứ nhất, lật đổ chúa Trịnh, trao quyền
lại cho nhà Lê được ghi nhớ trong kí ức dân gian qua câu:
Nguyễn ra thì Nguyễn lại về
Chúa Trịnh mất đất, vua Lê hãy còn
Khi về lại Phú Xuân, Nguyễn Huệ để Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại nhằm
giúp đỡ vua Lê xây dựng lại cơ nghiệp. Nhưng Nguyễn Hữu Chỉnh có mưu
phản, muốn cát cứ lộng quyền.
Đường trời mở rộng thênh thang
Ta đây cũng một triều đình kém ai?
Hành động đó của Nguyễn Hữu Chỉnh không qua được mắt Nguyễn Huệ. Năm 1787,
Nguyễn Huệ phái quân ra Bắc diệt Chỉnh. Về sự kiện này, dân gian có câu ca rằng:
Ai đem con sáo sang sông


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status