Sử Dụng Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Để Phát Triển Năng Lực Học Sinh Qua Các Văn Bản Nhật Dụng Trong Chương Trình Trung Học Cơ Sở (THCS) - Pdf 48

1.Tên đề tài:
SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH QUA CÁC VĂN BẢN NHẬT DỤNG TRONG
CHƯƠNG TRÌNH TRUNG HỌC CƠ SỞ (THCS).
2. Đặt vấn đề:
2.1. Tầm quan trọng của vấn đề: Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối
cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng
đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân
lực. Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ
nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục
chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo
của người học. Định hướng quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học là phát
huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng
tác làm việc của người học. Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách
phương pháp dạy học ở nhà trường phổ thông.
Trong định hướng phát triển chương trình giáo dục phổ phổ thông sau 2015,
môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, theo đó, năng lực giao tiếp tiếng Việt
và năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mỹ là các năng lực mang tính đặc
thù của môn học; ngoài ra, năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề,
năng lực hợp tác, năng lực tự quản bản thân (là các năng lực chung) cũng đóng vai
trò quan trọng trong việc xác định các nội dung dạy học của môn học. Với mong
muốn phát triển năng lực cho học sinh, rèn luyện các em kĩ năng cần thiết cho cuộc
sống thích ứng với yêu cầu của xã hội, tôi chọn đề tài: sử dụng các phương pháp
dạy học tích cực để phát triển năng lực học sinh qua các văn bản nhật dụng trong
chương trình THCS.
Các văn bản nhật dụng trong chương trình Ngữ văn THCS mang tính đặc
thù. Nói đến văn bản nhật dụng, trước hết là nói đến tính chất nội dung văn bản.
Đó là những bài viết có nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt
của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như: thiên nhiên, môi trường,
năng lượng, dân số, quyền trẻ em, tệ nạn xã hội,... Mục tiêu cuối cùng cần đạt được
là người học phải thấy được tính chất đó của từng văn bản để từ đó có ý thức cũng

học, năng lực làm việc theo nhóm, năng lực giao tiếp... Và tôi thấy rằng sử dụng
các phương pháp dạy học tích cực để phát triển năng lực học sinh qua các văn bản
nhật dụng trong chương trình THCS là hết sức cần thiết và đem lại hiệu quả cao
trong dạy học cũng như trong giáo dục nên tôi đã tập trung đầu tư, nghiên cứu các
phương pháp này.
2.4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Trong đề tài này, tôi xin được đề cập đến
việc tổ chức sử dụng các phương pháp dạy học tích cực để phát triển năng lực học
sinh qua các văn bản nhật dụng trong chương trình THCS.
2.5. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh các khối lớp ở trưòng THCS.
3. Cơ sở lý luận:
Học sinh đến trường không chỉ được học những kiến thức khoa học; chúng
ta không chỉ có nhiệm vụ giúp các em phát triển trí tuệ mà phải thực hiện mục tiêu
giáo dục “... giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm
mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng
tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách
2


và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc
sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" (Điều 27 - Luật giáo dục)
Để thực hiện được mục tiêu đó, ngành giáo dục nói chung, mỗi giáo viên
đứng lớp nói riêng phải sử dụng nhiều phương pháp phù hợp. Điều 28 (Luật giáo
dục) cũng đã nêu: "Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học,
môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện
kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú học tập cho học sinh."
Có thể nói tổ chức tốt tiết học theo có sử dụng các phương pháp dạy học tích
cực là đã tạo được hứng thú để các em chủ động phát hiện kiến thức trong bài học,
góp phần thực hiện được mục tiêu giáo dục. Hơn nữa, qua các phương pháp dạy

hội, môn Ngữ văn đang bị mất dần vị thế của nó. Học sinh (cũng như một số phụ
huynh) ít mặn mà với bộ môn Ngữ văn và chỉ coi môn Ngữ văn là môn học bắt
buộc (vì hầu hết các kì thi tốt nghiệp, thi chuyển cấp đều thi môn Ngữ văn). Để
chọn ngành nghề sau này được dễ dàng, để có một ngành có thể dễ ổn định cuộc
sống, các bậc cha mẹ thường định hướng con em học những môn như Toán, Lí,
Hóa, Ngoại ngữ,… Hơn nữa, trường tôi nằm ở địa bàn của một xã miền núi còn
nhiều khó khăn, nhiều gia đình học sinh có cha mẹ đi làm nương rẫy xa nhà, ít
quan tâm đến việc học của con nên có một bộ phận học sinh rất lơ là trong học tập,
chất lượng học tập các môn đạt rất thấp, trong đó có môn Ngữ văn.
Đối với việc áp dụng các phương pháp học tập mới đòi hỏi nhiều phương
tiện hiện đại, công nghệ cao, tính hợp tác cao lại càng khó khăn, khó thực hiện tốt.
Nói như thế không phải để đi đến kết luận là không thể thực hiện tốt việc đổi
mới các phương pháp dạy học, áp dụng các phương pháp dạy học tích cực cho học
sinh, mà đây là cách nhìn nhận thực tế để có thể tìm ra được giải pháp hiệu quả cho
vấn đề này. Trong thực tiễn dạy học hiện nay, ta có nhiều cơ hội để thực hiện tốt
nhiệm vụ của mình. Cụ thể là:
- Đầu tiên phải nói đến quá trình tìm hiểu về các phương pháp, cách thức
dạy học cho học sinh hiệu quả. Trong giai đoạn hiện nay có rất nhiều tài liệu
nghiên cứu về giáo dục, dạy học ta có thể tự học, tự bồi dưỡng để nâng cao năng
lực giáo dục, dạy học như đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh
giá, phương pháp dạy học tích cực, dạy học với công nghệ thông tin, giáo dục kỹ
năng sống, giá trị sống cho học sinh,... Chính những tài liệu này giúp ích cho người
giáo viên rất nhiều trong việc tìm phương pháp hiệu quả nhất để dạy học sinh.
- Tiếp đến phải nói đến các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục, dạy
học. Ngày nay, giáo dục vẫn luôn được coi trọng, vẫn là một trong những quốc
sách hàng đầu của nước ta, mọi người ai cũng hiểu đầu tư cho giáo dục là đầu tư
cho sự phát triển... nên luôn được Đảng, Nhà nước, xã hội, gia đình, nhà trường
đặc biệt quan tâm, tạo mọi điều kiện để người giáo viên hoàn thành tốt nhất nhiệm
vụ này. Người giáo viên luôn có thể phối hợp với nhiều lực lượng giáo dục để dạy
học học sinh như giáo viên bộ môn, lãnh đạo nhà trường, gia đình học sinh, các lực

em học sinh của địa phương đặc thù là vùng thuần nông, điều kiện kinh tế khó
khăn cho nên còn nhiều hạn chế về tinh thần, vật chất. Vì vậy, giáo viên cần phải
chủ động, sáng tạo tìm các biện pháp tích cực để giúp đỡ các em có được sự tự tin
về bản thân, sự hứng thú, chủ động trong học tập và rèn luyện, giúp các em từng
bước hoàn thiện để phát triển những kĩ năng cần thiết mà xã hội yêu cầu. Từ nhiệm
vụ đó, tôi đã chủ động, mạnh dạn áp dụng các phương pháp dạy học tích cực để
phát triển năng lực học sinh qua các văn bản nhật dụng trong chương trình THCS
vào thực tế trong quá trình giảng dạy.
5. Nội dung nghiên cứu:
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình
giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ
quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh vận dụng
được gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương
pháp dạy học theo lối "truyền thụ một chiều" sang dạy cách học, cách vận dụng
5


kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Giáo dục định
hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên
môn bao gồm tri thức, kĩ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương
pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể. Đây là những năng lực chung cốt lõi mà
học sinh cần có để thích ứng với nhu cầu phát triển của xã hội.
Theo tài liệu tập huấn “ Dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát
triển năng lực học sinh” có liệt kê ra các năng lực và sắp xếp theo 4 nhóm sau:
- Năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm:
+ Năng lực tự học
+ Năng lực giải quyết vấn đề
+ Năng lực sáng tạo
+ Năng lực quản lý bản thân
- Năng lực xã hội, bao gồm:


b. Năng lực sáng tạo:
Năng lực sáng tạo được hiểu là sự thể hiện khả năng của học sinh trong việc
suy nghĩ và tìm tòi, phát hiện những ý tưởng mới nảy sinh trong học tập và đời
sống, từ đó đề xuất được các giải pháp mới một cách thiết thực, hiệu quả để thực
hiện ý tưởng. Trong việc đề xuất và thực hiện ý tưởng, học sinh bộc lộ óc tò mò,
niềm say mê tìm hiểu khám phá.
Năng lực suy nghĩ sáng tạo bộc lộ thái độ đam mê và khát khao được tìm
hiểu của học sinh, không suy nghĩ theo lối mòn, theo công thức. Trong các tiết học
các văn bản nhật dụng trong chương trình THCS, một trong các yêu cầu cao là học
sinh, với tư cách là người đọc, phải trở thành người đồng sáng tạo với tác phẩm.
Kết quả của năng lực này các em sẽ thể hiện rõ qua việc thực hiện dự án, xây dựng
và thể hiện kịch bản liên quan đến nội dung bài học.
c. Năng lực hợp tác
Học hợp tác là hình thức học sinh làm việc cùng nhau trong nhóm để hoàn
thành công việc chung và các thành viên trong nhóm có quan hệ phụ thuộc lẫn
nhau, giúp đỡ nhau để giải quyết các vấn đề khó khăn của nhau. Khi làm việc cùng
nhau, học sinh học cách làm việc chung, cho và nhận sự giúp đỡ, lắng nghe người
khác, hoà giải bất đồng và giải quyết vấn đề theo hướng dân chủ. Đây là hình thức
học tập giúp học sinh ở mọi cấp học phát triển cả về quan hệ xã hội lẫn thành tích
học tập.
Năng lực hợp tác được hiểu là khả năng tương tác của cá nhân với cá nhân
và tập thể trong học tập và cuộc sống. Năng lực hợp tác cho thấy khả năng làm
việc hiệu quả của cá nhân trong mối quan hệ với tập thể, trong mối quan hệ tương
trợ lẫn nhau để cùng hướng tới một mục đích chung. Đây là một năng lực rất cần
thiết trong xã hội hiện đại, khi chúng ta đang sống trong một môi trường, một
không gian rộng mở của quá trình hội nhập.
Trong khi dạy các tiết văn bản nhật dụng, năng lực hợp tác thể hiện ở việc
học sinh cùng chia sẻ, phối hợp với nhau trong các hoạt động học tập qua việc thực
hiện các nhiệm vụ học tập diễn ra trong giờ học. Thông qua các hoạt động nhóm,

đóng vai, nghiên cứu tình huống sẽ phát huy được hai năng lực công cụ: năng lực
sử dụng ngôn ngữ và năng lực ứng dụng công nghệ thông tin.
5.2. Hệ thống văn bản nhật dụng trong chương trình THCS:
KHỐI STT
LỚP
6
1
2

7

8
9

3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14

TIẾT TÊN VĂN BẢN
PPCT
123

92

5.3. Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực để phát triển năng lực
học sinh qua các văn bản nhật dụng trong chương trình THCS.
a. Tính khả thi:
8


- Đặc trưng của văn bản nhật dụng trong chương trình THCS: Văn bản nhật
dụng có tính đặc thù, nói đến văn bản nhật dụng trước hết là nói đến tính chất nội
dung văn bản. Đó là những bài viết có nội dung gần gũi, bức thiết đối với cuộc
sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã hội hiện đại như: thiên nhiên,
môi trường, năng lượng, dân số, quyền trẻ em, ma túy,...mục tiêu cuối cùng cần đạt
được là người học phải thấy được tính chất đó của từng văn bản để từ đó có ý thức
cũng như đề ra cách thức hành động cụ thể mang tính tích cực sau khi học xong
một bài. Với loại văn bản này, chúng ta ít đi sâu, phân tích giá trị nghệ thuật của
văn bản. Chính tính đặc thù đó sẽ là lợi thế để sử dụng các phương pháp dạy học
tích cực để phát triển năng lực học sinh qua các văn bản nhật dụng trong chương
trình THCS.
- Các điều kiện vật chất, trang thiết bị, đồ dùng được sử dụng:
+ Ở học sinh: Có nhiều gia đình học sinh có máy vi tính, có kết nối mạng, có
máy ảnh hoặc điện thoại di động có thể chụp hình, biết sử dụng khá thành thạo vi
tính.
+ Giáo viên: Đa số có máy vi tính hoặc máy tính xách tay, sử dụng thành
thạo những thao tác cần thiết cho việc soạn và trình chiếu các giáo án điện tử.
+ Trên lớp học: 100% lớp học có ti vi màn hình rộng, mạng không dây.
- Sự hứng thú của học sinh: Học sinh khá hứng thú với công nghệ thông tin,
hứng thú với việc thể hiện khả năng thực sự của mình trước tập thể.
- Khả năng hướng dẫn, định hướng, tổ chức của giáo viên: Giáo viên có tâm
huyết, có phương tiện, có tài liệu, có phương pháp,.. nên có khả năng thực hiện tốt

cần tiến hành theo các bước như sau:
- Bước giao nhiệm vụ:
+ Chuẩn bị đề tài, câu hỏi, hình thức trình bày, thời gian thảo luận.
+ Nội dung: thường là những câu hỏi, bài tập tương đối phức tạp cần huy
động sự suy nghĩ, chia sẻ của nhiều học sinh để tìm các giải quyết.
+ Phương tiện hỗ trợ: Phiếu học tập, bảng phụ,... tùy theo yêu cầu của nhiệm
vụ cần thực hiện.
- Thực hiện nhiệm vụ:
+ Chia nhóm.
+ Trong quá trình các nhóm thảo luận, giáo viên quan sát, hỗ trợ khi cần.
Yêu cầu khi thực hiện:
- Mỗi thành viên trong nhóm đều được tham gia bàn luận, được lắng nghe và
tôn trọng, tránh tranh cải căng thẳng hoặc người nói quá nhiều.
- Thời gian làm bài phải phù hợp với thực tế khả năng làm việc của học sinh
và yêu cầu của bài tập.
- Mọi học sinh đều tích cực làm việc.
- Trình bày kết quả:
+ Đại diện nhóm trình bày kết quả thảo luận, các thành viên trong nhóm có
thể bổ sung thêm.
+ Các nhóm khác nhận xét, bổ sung, đưa ý kiến thắc mắc cần giải đáp.
+ Giáo viên đúc kết, bổ sung ý kiến, nhấn mạnh nội dung quan trọng...
Chú ý:
- Khi các nhóm thảo luận, giáo viên không dừng lại lâu ở nhóm nào.
- Khi các nhóm trình bày, nếu là chủ đề giống nhau, không cần các nhóm
đều trình bày, các nhóm sau có thể trình bày các ý kiến khác với các nhóm trước.
10


- Có thể cử một học sinh điều hành khi các nhóm báo cáo.
Ví dụ 1: Dạy bài “Bức thư của thủ lĩnh da đỏ” (Ngữ văn 6 - Tập 2), giáo

giao tiếp.
Phương pháp thảo luận nhóm này có thể thực hiện trong mọi tiết dạy, qua
đó phát huy được năng lực hợp tác, sáng tạo, giao tiếp, giải quyết vấn đề, sử dụng
ngôn ngữ của học sinh.
Ngoài ra, phương pháp thảo luận nhóm không chỉ phù hợp vận dụng trên
lớp, còn có thể vận dụng cho nhóm học sinh khi thực hiện nhiệm vụ tự học ở nhà,
nhất là khi giáo viên vận dụng các phương pháp dạy học tích cực khác như phương
pháp đóng vai, dạy học dự án.
b.2. Đóng vai
11


Đóng vai là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành để trình bày những
suy nghĩ, cảm nhận và ứng xử theo một “vai giả định”. Đây là phương pháp giảng
dạy nhằm giúp học sinh suy nghĩ sâu sắc về một vấn đề bằng cách đứng từ chỗ
đứng, góc nhìn của người trong cuộc, tập trung vào một sự kiện cụ thể mà các em
quan sát được từ vai của mình.
Trong môn học Ngữ văn, phương pháp đóng vai được thực hiện trong một
số nội dung học tập sau: vào vai một nhân vật kể lại câu chuyện đã học; chuyển thể
một văn bản văn học thành kịch bản sân khấu, xử lí một tình huống giao tiếp giả
định, trình bày một vấn đề, một ý kiến từ các góc nhìn khác nhau,…
Giáo viên tiến hành tổ chức học sinh đống vai theo các bước cơ bản sau:
- Giáo viên nêu chủ đề, yêu cầu của nhiệm vụ; chia nhóm, giao tình huống
và yêu cầu đóng vai cho từng nhóm. Trong đó có qui định rõ thời gian chuẩn bị,
thời gian đóng vai cho mỗi nhóm.
- Các nhóm thảo luận chuẩn bị đóng vai: phân vai, dàn cảnh, cách thể hiện
nhân vật, diễn thử.
- Các nhóm lên đóng vai.
- Thảo luận, nhận xét: cách ứng xử của các nhân vật cụ thể hoặc tình huống
trong vở diễn, có thể mở rộng phạm vi thảo luận các vấn đề khái quát hơn hay vấn

tháng 8/1986 của các nguyên thủ 6 nước, sau khi Mác-két đọc xong bài tham luận
của ông, trong giờ giải lao, các đại biểu ngồi lại thảo luận sôi nổi với nhau về ý
kiến mà nhà văn nêu ra: “Chạy đua vũ trang là đi ngược lại với lý trí”. Qua cuộc
thảo luận này, các đại biểu đã giúp mọi người hiểu rõ điều đó.
-Yêu cầu học sinh nghiên cứu đoạn “Một nhà tiểu thuyết … của nó” để hiểu
sâu sắc ý tác giả.
- Sau khi nhận đề tài, học sinh nghiên cứu văn bản, phân vai, nghiên cứu nội
dung cần làm rõ để có thể đóng vai thành công.
- Giáo viên sẵn sàng trợ giúp, giải quyết mọi thắc mắc của nhóm học sinh
nhận nhiệm vụ này.
Ví dụ 3: Khi dạy văn bản: “Cuộc chia tay của những con búp bê” (Ngữ văn
7 – Tập 1), giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh:
Tình huống 1: Em hãy đóng vai nhân vật Thành (hoặc Thủy), nói lên nỗi
lòng của mình vào đêm sau buổi chia tay.
Tình huống 2: Các em hãy tưởng tượng mình là hai con búp bê của hai anh
em Thành và Thủy, diễn lại cuộc chia tay của chúng.
Có thể thực hiện đồng thời 2 tình huống này vào cuối buổi học hoặc có thể
chọn 1 trong 2 tình huống này để khắc sâu thêm ý nghĩa của gia đình yên ổn.
Ví dụ 4: Khi dạy văn bản: “Ôn dịch thuốc lá” (Ngữ văn 8 – Tập 1), giáo viên
giao cho học sinh các tình huống để chuẩn bị:
Tình huống 1: Thứ Năm vừa rồi, bạn A đã có hành vi hút thuốc trong nhà vệ
sinh, Đội sao đỏ của trường bắt gặp, thầy Tổng phụ trách đã khiển trách, yêu cầu
viết bản kiểm điểm, đồng thời, thầy yêu cầu giáo viên chủ nhiệm giáo dục thêm và
quán triệt học sinh trong trường không được phép vi phạm nội qui này. Trong buổi
họp lớp, cả lớp đang thảo luận vấn đề này.
Tình huống 2: Trong một gia đình nọ có người bố nghiện thuốc lá nặng, gần
đây thường ho suốt đêm, da vàng sạm, mắt thâm đen; sau khi đi khám, bác sĩ bảo
là bị viêm phổi nặng, gan có dấu hiệu bị sơ và tổn thương và khuyên không được
hút thuốc lá. Về nhà, ông nội đã quyết định họp gia đình để giáo dục con cháu về
việc cấm hút thuốc.

Bước 2: Giáo viên tổ chức học sinh thảo luận theo nhóm. Sau thảo luận, đại
diện các nhóm đưa ra ý kiến của mình để giải quyết tình huống nêu trên.
Giáo viên tiến hành thực nghiệm bằng việc tổ chức cho học sinh đi vào
nghiên cứu bài học theo từng phần của văn bản để rút ra kết luận sau:
Thiên nhiên là đất đai, khí hậu, sông suối, cây cỏ…, là không gian sống cho
con người và thế giới sinh vật, là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết
cho đời sống và sản xuất của con người, là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho
con người, đặc biệt nó bảo vệ cho con người và sinh vật khỏi những tác động từ
bên ngoài, nghĩa là nó có quan hệ gần gũi, mật thiết và ảnh hưởng trực tiếp đối
với cuộc sống của con người. Bảo vệ thiên nhiên chính là bảo vệ cho chính cuộc
sống của chúng ta.
Giáo viên tổ chức cho học sinh so sánh kết quả với dự đoán ban đầu để các
em nhận thức đúng đắn về vấn đề đã được nêu ở đầu bài học.
14


Bước 3: Củng cố, định hướng mở rộng: Từ kết luận trên, giáo viên cho học
sinh liên hệ về thái độ của bản thân các em và mọi người đối với môi trường xung
quanh, giáo dục cho các em tình yêu thiên nhiên, quê hương, đất nước.
Ví dụ 2: Dạy bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới (Ngữ văn 9 –tập 2),
giáo viên thực hiện các bước sau:
Bước 1: Giới thiệu bài: Kể câu chuyện nêu tình huống từ đầu bài học:
“NHÀ HIỀN TRIẾT QUA SÔNG
Có một nhà hiền triết muốn đi qua sông. Nhà hiền triết ngồi trên một con đò
và người lái đò đưa nhà hiền triết qua sông. Khi ngồi trên đò, nhà hiền triết hỏi
người lái đò: Ông có biết về thiên văn học không?
Người lái đò trả lời: Tôi không biết.
Nhà hiền triết lại hỏi: Thế ông có biết gì về địa chất học không?
Người lái đò trả lời: Tôi không biết.
Nhà hiền triết lại hỏi: Ông có biết gì về triết học không?

sinh liên hệ bản thân các em về thái độ, hành động cần thiết ngay từ khi còn ngồi
trên ghế nhà trường và cả trong tương lai. Qua đó giáo dục ý thức học tập, rèn
luyện đạo đức theo yêu cầu giáo dục đề ra.
Ví dụ 3: Khi dạy bài “Mẹ tôi” (Ngữ văn 7 – Tập 1), giáo viên tiến hành các
bước sau:
Bước 1: Cho học sinh đọc văn bản: “ĐÔI CÁNH CỦA MẸ”
“Mẹ nói, khi mẹ đi đến một nơi khác ở rất xa, con hãy tưởng tượng những
chú chim bay trên khoảng trời xung quanh con chính là mẹ. Con sẽ không cảm
thấy cô đơn nữa.
Mẹ nói, đôi cánh của mẹ sẽ đưa con bay thật cao, thật xa. Mẹ sẽ bay cùng
con, mẹ sẽ bay với con đến cuối đời.
Mẹ nói, mẹ không thể bay theo con được nữa. Đôi cánh của mẹ từ giờ sẽ
trao lại cho con.
Đôi cánh của mẹ, chính là đôi cánh của con”.
Câu hỏi tình huống: Em hiểu gì về “Mẹ” qua văn bản trên?
Bước 2: Giáo viên tổ chức học sinh thảo luận theo nhóm. Sau thảo luận, đại
diện các nhóm đưa ra ý kiến của mình để giải quyết tình huống nêu trên. Sau khi
tổng hợp ý kiến của học sinh, giáo viên đúc kết lại vấn đề: Mẹ là người vô cùng
quan trong đối với đời sống mỗi người. Tình mẹ rất thiêng liêng, cao cả. Qua văn
bản “Mẹ tôi” (A-mi-xi), tác giả sẽ giúp các em hiểu thêm về điều đó, đồng thời
hiểu được bổn phận của con cái đối với cha mẹ, gia đình.
Bước 3: Củng cố, định hướng mở rộng: Sau khi tìm hiểu xong văn bản, giáo
viên cho học sinh liên hệ về thái độ và hành động của bản thân các em đối với cha
mẹ, người thân, gia đình. Qua đó giáo dục tình cảm yêu thương, trân trọng những
gì mình đang có.
Việc sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống tạo điều kiện cho việc xây
dựng gắn lý thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động sẽ tích cực hoá động cơ của
người học; huy động được sự làm việc cá nhân và sự cộng tác làm việc và thảo
luận trong nhóm. Trọng tâm của làm việc nhóm là quá trình giao tiếp xã hội và quá
trình cùng quyết định trong nhóm. Vì vậy tạo điều kiện phát triển các năng lực giao

BÀI TOÁN DÂN SỐ
NS:
( Thái An - Báo GD & Thời đại )
ND:
*Những kiến thức có liên quan: vấn đề môi trường, giáo dục, kinh tế, y tế,...
A. Mục tiêu cần đạt:
1. Kiến thức:
- Sự hạn chế gia tăng dân số là con đường “ tồn tại hay không tồn tại”của loài
người.
- Sự chặt chẽ, khả năng thuyết phục của cách lập luận bắt đầu bằng một câu chuyện
nhẹ nhàng mà hấp dẫn.
2. Kĩ năng:
-Tích hợp với phần Tập làm văn, vận dụng kiến thức đã học ở bài phương pháp
thuyết minh để đọc - hiểu, nắm bắt được vấn đề có ý nghĩa thời sự trong văn bản.
- Vận dụng vào việc viết bài văn thuyết minh.
3. Thái độ: Vận động người thân, gia đình thực hiện tốt DSKHH gia đình.
4. Năng lực (NL): NL tự học, NL giải quyết vấn đề, NL sáng tạo, NL quản lí bản
thân, NL giao tiếp, NL hợp tác, NL sử dụng ngôn ngữ, NL cảm thụ thẩm mĩ.
5. Kỹ năng (KN) sống: KN kiểm soát cảm xúc; KN ứng phó với căng thẳng; KN tìm
17


kiếm sự hỗ trợ; KN thể hiện sự tự tin; KN giao tiếp; KN lắng nghe tích cực; KN
trình bày suy nghĩ, ý tưởng; KN cảm thông, chia sẻ; KN thương lượng; KN giải
quyết mâu thuẫn; KN hợp tác, KN tư duy phê phán; KN tư duy sáng tạo, KN ra
quyết định; KN giải quyết vấn đề; KN đảm nhận trách nhiệm; KN đặt mục tiêu; KN
quản lí thời gian; KN tìm kiếm và xử lí thông tin.
B. Chuẩn bị:
1. Giáo viên:
a. Thời gian chuẩn bị: Trước khi tiến hành dạy ít nhất 2 tuần.

1/ Trong văn bản "Bài toán dân số", tác giả nêu nội dung chính là gì?
18


2/ Bài toán nào được nêu ra, thời điểm nêu ra của bài toán, tính thực tế của
bài toán?
3/ Phân tích suy luận của tác giả từ bài toán đến vấn đề dân số, từ thời khai
thiên lập địa đến thời điểm hiện tại và tương lai.
4/ Tổng dân số thế giới hiện tại.
5/ Số dân ở những nước đông dân nhất thế giới.
6/ Tổng dân số của Việt Nam ở hiện tại.
7/ Tốc độ gia tăng dân số của Việt Nam sau chiến tranh (1975) đến nay.
8/ Nguyên nhân nào khiến dân số tăng nhanh? (Gợi ý: tỉ lệ sinh con của phụ
nữ các nước, trình độ y học, trình độ khoa học hiện tại và tương lai, tuổi thọ con
người trong thời điểm hiện tại, khả năng sống và phát triến của trẻ sơ sinh, ý thức
về tính mạng của con người trong xã hội văn minh,...)
9/ Bên cạnh những nguyên nhân trên, đối với Việt Nam, có những nguyên
nhân nào khiến sự gia tăng dân số nhiều hơn nữa?
10/ Quảng Nam/ Đại Lộc/ Đại Hồng có mức độ gia tăng dân số như thế nào?
11/ Ở hàng xóm em, tỉ lệ người sinh con thứ 3 nhiều hay ít?
12/ Trong lớp em, tỉ lệ các bạn có số anh chị em từ 3 người trở lên là bao
nhiêu?
13/ Mọi người phải có thái độ, hành động như thế nào với hiện thực trên?
- Dự án 2: Tác hại của bùng nổ dân số đối với môi trường sống (chủ yếu nói về
môi trường tự nhiên)
1/ Trong văn bản "Bài toán dân số", tác giả nêu nội dung chính là gì?
2/ Từ bài toán dân số, tác giả đưa ra đề xuất nào? Vì sao?
3/ Dân số tăng nhanh đã có những ảnh hưởng nào đến môi trường sống (chủ
yếu nói về môi trường tự nhiên)
- Môi trường nước (nước sạch, nước sinh hoạt, nước canh tác, nước làm thủy

- Dân số đông ảnh hưởng như thế nào đối với tạo công ăn việc làm?
- Dân số đông ảnh hưởng như thế nào đối với giữ gìn an ninh trật tự xã hội?
- Dân số đông ảnh hưởng như thế nào đối với vấn đề an sinh xã hội (xây
dựng cuộc sống tốt đẹp cho tất cả mọi người)
- Ảnh hưởng của dân số đông đối với phát triển kinh tế của quốc gia, cộng
đồng như thế nào?
- Dân số đông có liên quan gì đến chiến tranh, dịch bệnh?
- Dân số đông có liên quan gì đến nghiên cứu khoa học (tìm vùng đất mới,
lương thực, thực phẩm mới)?
4/ Gia đình có con đông sẽ có những hậu quả không mong muốn nào? (Kinh
tế, giáo dục, giữ gìn nề nếp gia đình, niềm vui của từng thành viên, cơ hội để đầy
đủ về vật chất, cơ hội để thoải mái về mặt tinh thần, ...Ví dụ: bữa ăn, công việc,
thời gian nghỉ ngơi, thời gian điều kiện vui chơi, điều kiện ăn học, điều kiện thỏa
mãn ước mơ, sở thích,...)
5/ Gia đình là tế bào của xã hội, nếu gia đình không thể ổn định, các thành
viên trong gia đình không có điều kiện phát triển,.. thì xã hội sẽ ra sao?
6/ Mọi người phải có thái độ, hành động như thế nào với hiện thực trên?
- Dự án 4: Biện pháp để hạn chế việc bùng nổ dân số - thực hiện KHHGĐ.
1/ Trong văn bản "Bài toán dân số", tác giả nêu nội dung chính là gì?
2/ Từ bài toán dân số, tác giả đưa ra đề xuất nào? Vì sao?
3/ Ta có những biện pháp nào để hạn chế việc bùng nổ dân số, thực hiện
KHHGĐ? (Thế giới, các nhà khoa học, mỗi quốc gia, Nhà nước ta, chính quyền
địa phương, người làm công tác tuyên truyền, người làm công tác giáo dục, cá
nhân từng người (nhất là người trưởng thành), bản thân học sinh khi tìm hiểu về
vấn đề này (hiện tại phải làm gì? Tương lai phải làm được như thế nào cho bản
20


thân, gia đình, xã hội?)
* Định hướng hướng tìm tư liệu, cách thu thập thông tin, cách tiến hành dự án:

2. Kiểm tra bài cũ: (không kiểm tra)
3. Bài mới:
Hoạt động 1: Giới thiệu tiết học “Dạy- học theo dự án”.
Hôm nay, lớp ta sẽ tìm hiểu bài “Bài toán dân số” theo phương pháp mới là
dạy - học theo dự án.
Hoạt động 2: Tìm hiểu sơ lược yêu cầu bài học
- Giáo viên giới thiệu sơ lược tác giả, tác phẩm.
21


- Đọc văn bản.
- Nêu nội dung chính cần tìm hiểu từ văn bản: Đó là bài viết có nội dung gần
gũi, bức thiết đối với cuộc sống trước mắt của con người và cộng đồng trong xã
hội hiện đại. Vậy vấn đề cần nghiên cứu của văn bản này là gì? Mục tiêu cuối
cùng cần đạt được sau khi học bài này là gì? Đó cũng là những nội dung dự án
mà các nhóm nghiên cứu, tiến hành và hôm nay trình bày trước tập thể.
+ Giáo viên ghi lại tên các dự án lên bảng
Hoạt động 3: Xin mời các nhóm lên giới thiệu về mình.
- Lần lượt các nhóm giới thiệu về nhóm mình:
+ Tên nhóm.
+ Thành viên trong nhóm.
+ Giải thích lý do có tên gọi của nhóm và lý do chọn đề tài dự án.
Hoạt động 4: Lần lượt các nhóm lên trình bày dự án.
1. Nhóm 1:
- Báo cáo sản phẩm.
- Tự đánh giá kết quả nghiên cứu.
- Mời các nhóm nhận xét, đánh giá về kết quả nghiên cứu của nhóm mình.
- Mời GVBM nhận xét đánh giá kết quả hoạt động của nhóm.
* GVBM kết luận khái quát về kiến thức bài học.
2. Nhóm 2:

Có khi kết hợp dạy học thông thường với dạy học dự án, có thể chỉ tiến hành
thực hiện dự án với một phần nội dung của bài học và cũng chỉ chiếm một phần
thời gian của bài học. Ví dụ: Khi dạy văn bản: “Đấu tranh cho một thế giới hòa
bình” (Ngữ văn 9 - Tập 1), giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện 1 dự án : Cuộc
chạy đua vũ trang chuẩn bị cho CTHN đã làm mất đi khả năng để con người
sống tốt đẹp hơn
Để học sinh thực hiện tốt dự án, giáo viên cần cho học sinh chuẩn bị:
- Học sinh nghiên cứu kỹ phần 2, đoạn “Từ năm 1981 …thế giới”, dựa trên
các câu hỏi gợi ý của giáo viên (giao trước để học sinh nghiên cứu):
+ Sự tốn kém và tính chất vô lí của cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân được tác
giả chỉ ra bằng những chứng cứ nào?
+ Những biểu hiện của cuộc sống được tác giả đề cập đến những lĩnh vực
nào? Chi phí được so sánh với chi phí vũ khí hạt nhân như thế nào?
+ Em có đồng ý với nhận xét của tác giả: Việc bảo tồn sự sống trên trái đất ít
tốn kém hơn là “dịch hạch hạt nhân”? Vì sao?
+ Em có nhận xét gì về những lĩnh vực cuộc sống tác giả chọn để so sánh?
Sự so sánh này có ý nghĩa gì?
+ Cách lập luận của tác giả có gì đáng chú ý?
- Gợi ý, hướng dẫn học sinh nghiên cứu, trình bày dự án:
+ Tìm trên mạng thông tin, hình ảnh về các loại vũ khí mà tác giả nói đến.
+ Tìm thông tin, hình ảnh về sự phá hủy của bom nguyên tử, đạn hạt nhân.
Sau khi giao nhiệm vụ, nhóm phân công thực hiện dự án theo kế hoạch. Đến
tiết học, các nhóm lên báo cáo, tự đánh giá kết quả nghiên cứu; các nhóm khác
nhận xét; giáo viên nhận xét và rút ra kết luận khái quát về kiến thức bài học.
Khi tiến hành phương pháp dạy học này, giáo viên cần chú ý: Học sinh cấp
THCS (từ khối 6 đến khối 9) có trình độ, năng lực khác nhau, phát triển từ thấp
23


đến cao, nên giáo viên phải nghiên cứu đến đặc điểm này để có thể vận dụng

và trò cùng thảo luận rút kinh nghiệm về việc thực hiện các dự án của các em.
Dành 10 phút còn lại để hướng dẫn cho tiết học văn bản nhật dụng tiếp theo:
“Động Phong Nha”. Với văn bản này, giáo viên chú ý mở rộng đối tượng học sinh
thực hiện dự án, mỗi em ở nhóm thực hiện dự án ở tiết 126 sẽ là nhóm trưởng của
các dự án ở bài này. Có thể có nhiều nhóm thực hiện cùng một dự án để có thể so
sánh, nhận xét, đánh giá khả năng thực hiện của các em. Dự án có thể thực hiện:
24


“Động Phong Nha – điểm đến của mọi du khách”, “Động Phong Nha – Niềm tự
hào của người Việt”, “Bảo vệ danh lam thắng cảnh là nhiệm vụ của mọi người”,…
+ Tiết 129: văn bản “Động Phong Nha”: giáo viên cho các em trình bày dự
án và đánh giá kết quả thực hiện trước, sau đó tìm hiểu thêm nội dung bài học để
rút ra ý nghĩa khái quát. Cuối cùng, nhắc nhở học sinh rèn luyện phương pháp học
tập này để vận dụng hiệu quả cho các khối lớp 7, 8, 9.
- Đối với học sinh khối 7: Các em đã làm quen với phương pháp dạy học dự
án ở lớp 6 nên giáo viên chỉ cần gợi ý cho các em việc thực hiện dự án ở các văn
bản nhật dụng. Nhưng các văn bản nhật dụng này đa số đều được sắp xếp ngay đầu
năm học (tuần 1,2; tiết 1,2,5,6) nên không có thời gian nhiều để các em có thể thực
hiện và hoàn thành tốt dự án. Có thể, sau khi học cả 3 văn bản (“Cổng trường mở
ra”, “Mẹ tôi”, “Cuộc chia tay của những con búp bê”), giáo viên khuyến khích cho
các nhóm học sinh tích cực thực hiện 1 số dự án và trình bày vào 15 phút cuối tiết
6 theo phân phối chương trình. Các dự án có thể tham khảo: 1. Sự quan tâm của
Đảng và Nhà nước ta về giáo dục; 2. Gia đình bình yên là bến bờ hạnh phúc; 3.
Mẹ yêu; 4. Em sẽ là con ngoan, trò giỏi;… (Để cho học sinh có thời gian thực hiện
dự án, giáo viên có thể chuyển tiết học 5,6 vào cuối tuần 2 hoặc đầu tuần 3 theo
thời khóa biểu sao cho phù hợp)
+ Tiết 113: văn bản “Ca Huế trên sông Hương”: Giáo viên có thể cho học
sinh thực hiện dự án và trình bày ở giữa và cuối tiết học. Nội dung văn bản giáo
viên giúp học sinh nắm được khái quát nội dung cũng như nghệ thuật tiêu biểu. Từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status