PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC SINH HỌC - Pdf 55

Bài giảng PPDH Sinh học Th.S. Phạm Đình Văn
Phần I. ĐẠI CƯƠNG PHDH SINH HỌC
Chương 1. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ CỦA PPDH SH
 Tên gọi của môn học:
Thập kỉ 60, TK XX: - Giáo pháp học
- Phương pháp giảng dạy
Thập kỉ 70, TK XX: - Lí luận dạy học bộ môn
Hiện nay: - Phương pháp dạy học bộ môn
 Phản ánh trình độ phát triển của môn học trong từng giai đoạn lịch sử
nhất định.
 Tuy nội hàm khái niệm của các tên gọi trên là không đồng nhất với
nhau. Nhưng dù là tên gọi nào thì nội dung chủ yếu của môn học cũng gồm 2
phần:
+ Phần lí luận chung của quá trình dạy học (QTDH).
+ Phần hệ thống kĩ năng cụ thể của QTDH.
 Tùy từng giai đoạn, tùy mục đích muốn nhấn mạnh mặt này hay mặt
kia mà dùng các tên gọi khác nhau.
 “Lí luận dạy học” vẫn là tên gọi bao quát nhất, bao hàm cả PPDH
 Vị trí của môn học:
1. Đối tượng của PPDH Sinh học
Khoa Sinh - Đại học Sư phạm Đồng Tháp
1
KHGD LLDH PPDH
PPDH Toán
PPDH Sinh học
PPDH Vật lí

PPDH bộ môn
+ PPDH TVH (lớp 6)
+ PPDH ĐVH (lớp 7)
+ PPDH SLN (lớp 8)

ĐG
PT
ND
PP
TC
Vận dụng phù hợp với những đặc
điểm của việc dạy và học môn Sinh
học ở trường phổ thông
Bài giảng PPDH Sinh học Th.S. Phạm Đình Văn
sinh học, xác định khối lượng, chiều sâu, trình tự hệ thống các kiến thức để đưa
vào SGK một cách hợp lý với từng lớp học, cấp học.
Song song với việc phát triển chương trình là việc phát triển lí luận về cấu
trúc nội dung và phương pháp trình bày các bài trong sách giáo khoa theo hướng
giảm bớt chức năng thông tin, tăng cường các hoạt động độc lập của học sinh
với SGK.
* Phát triển phương pháp dạy:
Tổng kết kinh nghiệm tiên tiến về PP dạy của đội ngũ giáo viên Sinh học
nước ta, vận dụng có chọn lọc các PPHD mới của thế giới phù hợp với hoàn
cảnh Việt Nam, đưa vào thực nghiệm, thí điểm trước khi áp dụng đại trà, nhằm
phát triển các PPDH tích cực trong nhà trường phổ thông.
Đồng thời với đổi mới PP dạy là việc nghiên cứu mở rộng các hình thức
tổ chức dạy học và cải tiến bổ sung các phương tiện dạy học, cải tiến các PP
kiểm tra đánh giá theo hướng khuyến khích người học, kích thích sự phát triển
tư duy. Ngoài ra người GV cần đi sâu vào PP dạy từng phân môn SH, từng
thành phần kiến thức trong chương trình SH.
* Phát triển PP học: Việc học chỉ đạt hiệu quả khi người dạy biết khơi
dậy và phát huy tiềm năng vốn có của mỗi người học. Để phát triển PP học tập
cho HS, đặc biệt là PP tự học thì người GV cần phải tổ chức các HĐHT theo
một trình tự logic, phù hợp với năng lực của từng loại HS. Trong việc tổ chức
các HĐHT người GV có vai trò là người cố vấn, hướng dẫn, định hướng cho HS

Đối tượng của SH là nghiên cứu bản chất và các quy luật của sự sống, mà
sự sống là một hình thức vận động của vật chất, do đó nó cũng tuân theo các quy
luật chung của vật chất mà Triết học đã vạch ra. Mặt khác, trong quá trình phát
triển của khoa học SH, vẫn còn nhiều vấn đề chưa được làm sáng tỏ, vẫn tồn tại
mâu thuẫn và sự đấu tranh găy gắt giữa chủ nghĩa duy tâm siêu hình và duy vật
biện chứng. Vì thế lĩnh vực nghiên cứu của KHSH cũng như PPDHSH cần sự
chỉ đạo của Triết học biện chứng duy vật để có quan điểm, phương pháp, tư
tưởng đúng đắn trong việc nhận thức các hiện tượng, quá trình của tự nhiên cũng
như của QTDH SH.
4. Các phương pháp nghiên cứu của PPDH SH (Tự học)
PPDHSH là một khoa học, nó có đối tượng, nhiệm vụ và PP nghiên cứu
đặc thù. Sau đây là một số PPNC thường được sử dụng:
1.4.1. Quan sát sư phạm
Quan sát sư phạm là quá trình tri giác (sử dụng các giác quan để nhận biết
hiện tượng) một hiện tượng, quá trình sư phạm diễn ra trong thực tế hoạt động
dạy và học.
Khoa Sinh - Đại học Sư phạm Đồng Tháp
4
Bài giảng PPDH Sinh học Th.S. Phạm Đình Văn
Yêu cầu quan sát: Khách quan, trung thực, đầy đủ, chi tiết đảm bảo thuận
lợi cho việc phân tích sự kiện dẫn đến những kết luận khoa học chính xác.
Trước khi quan sát người nghiên cứu phải xác định mục tiêu và nội dung
quan sát, nhằm định hướng cho quá trình quan sát. Tùy mục đích nghiên cứu,
mỗi đợt quan sát thường tập trung vào một số nội dung nhất định.
Kết quả quan sát có thể được ghi chép lại hoặc sử dụng các thiết bị kĩ
thuật như máy ảnh, máy ghi âm, camera. Tuy nhiên, cần phối hợp nhiều cách
khác nhau.
1.4.2. Thực nghiệm sư phạm
Để đánh giá hiệu quả của QTDH, người nghiên cứu cần tách các yếu tố
của QTDH để tác động riêng rẽ, bằng cách tổ chức thực nghiệm sư phạm.

cải biến thực trạng đó.
Đối tượng điều tra: HS, GV, phụ huynh, cán bộ quản lí,…
Câu hỏi:
+ Câu hỏi mở: Câu hỏi chưa có đáp án sẵn, người trả lời tự đưa ra đáp án.
CHM được sử dụng để điều tra thăm dò phát hiện vấn đề.
Ví dụ: Khi thăm dò mức độ hứng thú của HS đối với môn Sinh học, sử
dụng CH mở: Trong các môn tự nhiên em thích học môn nào nhất, vì sao? Đối
với môn Sinh học, em thích học phần nào nhất, vì sao?
+ Câu hỏi đóng: Câu hỏi có sẵn đáp án, người trả lời chỉ được chọn 1
trong các đáp án đó. CH đóng được sử dụng để điều tra đi sâu nhằm khẳng định
một nhận định nào đó về thực trạng đã được đặt ra trong phần Đặt vấn đề (Lí do
chọn đề tài,…).
Ví dụ: Để điều tra thực trạng việc áp dụng PPTC trong DHSH, sử dụng
câu hỏi đóng sau: Để phát huy tính tích cực của HS trong học tập, thầy (cô) đã
sử dụng những pp nào?
a. Thuyết trình – tái hiện thông báo (TT - THTB)
b. Đàm thoại – tìm tòi
c. Biểu diễn mẫu vật – Giải thích minh họa
d. Biểu diễn vật thật – Tìm tòi bộ phận
e. Thực hành thí nghiệm – nghiên cứu
Số lượng người được điều tra phải đủ lớn, trên địa bàn rộng thì mới đảm
bảo phản ánh đúng thực trạng. Lúc đầu có thể thử phiếu trên một vài nhóm nhỏ,
điều chỉnh cho phù hợp, rồi sau đó triển khai trên diện rộng.
Mẫu phiếu điều tra:
Cơ quan … (ĐHSP Đồng Tháp
Khoa Sinh)
PHIẾU ĐIỀU TRA
Khoa Sinh - Đại học Sư phạm Đồng Tháp
6
Bài giảng PPDH Sinh học Th.S. Phạm Đình Văn

mới và hiệu quả của nó trong dạy học, phân tích sự phù hợp của kinh nghiệm
Khoa Sinh - Đại học Sư phạm Đồng Tháp
7
Bài giảng PPDH Sinh học Th.S. Phạm Đình Văn
với LLDH hiện đại, rút ra bài học, kiến nghị về khả năng phổ biến áp dụng, với
những điều kiện kèm theo.
1.4.5. Nghiên cứu lí thuyết
Là việc nghiên cứu về:
+ Đường lối, chủ trương, chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước
thông qua các Văn kiện, nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, Luật giáo dục, các
nghị quyết của Bộ GD,…
+ Kiến thức về khoa học Sinh học có liên quan đến đề tài
+ Kiến thức về KHGD làm nền tảng cho việc nghiên cứu đề tài
+ Các kiến thức liên quan trực tiếp đến đề tài đã được nghiên cứu, công
bố trên tạp chí, sách, khóa luận, luận văn, luận án,…
Mục đích:
+ Giúp tác giả định hướng đề tài, xác định nhiệm vụ, giới hạn phạm vi
nghiên cứu, xác định rõ vấn đề cần giải quyết.
+ Giúp T/giả phân tích các sự kiện đã quan sát, lí giải các kết quả thực
nghiệm, khái quát hóa kinh nghiệm được tổng kết
Có thể nói PPNC lí thuyết quyết định chiều sâu của đề tài, nó được sử
dụng từ khi xác lập đến khi kết thúc vấn đề nghiên cứu!
Để tiến hành 1 đề tài nghiên cứu, cần phải phối hợp vận dụng các PP trên
1 cách phù hợp. Vì vậy, là GV tương lai, các bạn SV cần phải làm quen, vận
dụng các PPNC trên để không ngừng hoàn thiện tay nghề, làm cho nghề GD
thực sự sáng tạo và hiệu quả!
Việc NCKH trong phạm vi LLDH nói chung và PPDHSH nói riêng
thường được thực hiện theo quy trình sau:
Khoa Sinh - Đại học Sư phạm Đồng Tháp
8

Bài giảng PPDH Sinh học Th.S. Phạm Đình Văn
Chương 2. NHIỆM VỤ DẠY HỌC SINH HỌC Ở TRƯỜNG
THCS
1. Vị trí của KHSH trong KHTN
1.1. Đối tượng, nhiệm vụ của Sinh học
SH là ngành KHTN nghiên cứu về sự sống. Đối tượng của SH là giới tự
nhiên hữu cơ.
Nhiệm vụ của SH là tìm hiểu bản chất của các sự vật, hiện tượng, quá
trình trong thế giới sống, khám phá những quy luật của giới hữu cơ, làm cơ sở
cho loài người nhận thức đúng và điều khiển được sự phát triển của Sinh vật.
1.2. Các giai đoạn phát triển của Sinh học
a) Sinh học mô tả
Từ thời Aristot (thế kỉ IV tr. CN) cho đến thế kỉ XVII, SH tập trung vào
nhiệm vụ thu thập, phân loại và mô tả các sự kiện của thế giới sống. PP chủ yếu
là quan sát. Lúc này giới sinh vật mới chỉ được phân thành giới Thực vật và giới
Động vật, với các bộ môn: Phân loại học, Hình thái học, Giải phẫu học.
b) Sinh học So sánh
Xuất hiện từ cuối TK XVII – TK XVIII, với sự phát triển rực rỡ của PP
quan sát đã dẫn tới sự ra đời cuả PP so sánh (so sánh cùng 1 loài SV sống trong
những điều kiện khác nhau, so sánh các nhóm SV khác nhau,...). PP này đã hình
thành các bộ môn: Hình thái học so sánh, Giải phẫu học so sánh, Phôi SH so
sánh. Các nghiên cứu so sánh đã xây dựng nên lí thuyết về thể thức cấu tạo
thống nhất của động vật có xương sống và Học thuyết tế bào, gợi ra ý niệm về
mối liên hệ nguồn gốc giữa các nhóm phân loại về sự biến đổi của các loài dưới
ảnh hưởng của ngoại cảnh.
c) Sinh học tiến hóa
Ở nửa đầu thế kỉ XIX, sự phát triển của SH so sánh đã dẫn đến sự ra đời
của PP lịch sử - nghiên cứu SV trong trong quá trình phát triển qua thời gian,
gắn liền với những điều kiện lịch sử trên Trái Đất). Từ đó đã ra đời Học thuyết
tiến hóa của Lamak (1809) và Darwin (1859), nêu ra những quy luật cơ bản

trong tự nhiên)  Giải thích quy luật tồn tại và phát triển của Sinh vật.
+ Có trình độ học vấn phổ thông, có cơ sở và những hiểu biết ban đầu về
kĩ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học lên THPT, THCN, học nghề hoặc đi
vào cuộc sống lao động.
Trong các môn KHTN ở THCS thì môn SH được học trước Vật lí (lớp 7),
Hóa học (lớp 8) và được dành số tiết nhiều hơn, vì thiên nhiên hữu cơ rất gần
gũi, hấp dẫn sự tìm tòi khám phá của trẻ, dễ dàng tiếp xúc và học tập, nghiên
cứu. Cũng chính vì vậy mà ở chương trình Tiểu học kiến thức SH về tự nhiên và
Khoa Sinh - Đại học Sư phạm Đồng Tháp
12
Bài giảng PPDH Sinh học Th.S. Phạm Đình Văn
con người được dành một tỷ trọng lớn hơn. Điều này tạo đà thuận lợi cho việc
tiếp xúc và phát triển môn HS ngay từ đầu cấp.
Kiến thức SH luôn cần thiết cho mọi người để sống hòa hợp với tự nhiên.
Giúp mọi người biết được nguồn lợi, vai trò của tự nhiên đối với cuộc sống của
mình, từ đó họ có ý thức bảo vệ và khai thác hợp lí, tạo sự cân bằng sinh thái và
phát triển bền vững.
Môn SH có nhiều thuận lợi trong việc giáo dục con người phát triển toàn
diện. Vẻ đẹp của thiên nhiên hữu cơ là nguồn GDTMĩ sống động, sự phong phú,
giàu có về tài nguyên sinh vật làm nảy nở tình yêu thiên nhiên, yêu tổ quốc. Như
vậy môn SH góp phần phát triển và hoàn thiện nhân cách HS, giúp thực hiện
mục tiêu phát triển toàn diện - Đức, Trí, Thể, Mĩ.
Chương trình SH ở THCS góp phần trang bị vốn kiến thức SH phổ thông
cho nguồn nhân lực Nông – Lâm – Ngư, các ngành công nghiệp chế biến, công
nghệ thực phẩm, y dược.
Kiến thức SH phổ thông là một bộ phận quan trọng cần được trang bị cho
HS THCS, cho dù sau này họ học lên hay tham gia lao động sản xuất.
3. Các nhiệm vụ dạy học SH ở trường THCS
3.1. Nhiệm vụ trang bị kiến thức phổ thông (Trí dục)
Quá trình dạy học môn Sinh học ở bậc THCS có nhiệm vụ giúp học sinh

Nguồn tri thức cung cấp cho HS thông qua con đường giáo dục là nguồn
tri thức có mục đích, đã được chọn lọc, sắp xếp có hệ thống, quy định trong
chương trình, SGK và được GV thể hiện trong quá trình hướng dẫn HS học tập
theo kế hoạch hợp lí.
3.2. Phát triển các năng lực nhân thức và năng lực hành động (Phát
triển)
Trong dạy học SH, GV phải tạo cơ hội thuận lợi để HS tập dượt, phát
triển các kĩ năng và phẩm chất trí tuệ nhằm nâng cao hiệu quả nhận thức, để HS
rèn luyện các thao tác, kĩ năng, kĩ xảo, xây dựng thói quen vận dụng kiến thức
đã học vào thực tiễn cuộc sống.
Việc phát triển các kĩ năng cần tuân theo quy luật tâm lí của quá trình
nhận thức đó là đi từ nhận thức cảm tính (Quan sát, chú ý, ghi nhớ) đến nhận
thức lí tính (So sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, cá biệt hóa, trừu tượng
hóa, cụ thể hóa, hệ thống hóa)
Trong QTDH, nhiệm vụ phát triển bao gồm hai mặt liên quan chặt chẽ
với nhau: Phát triển năng lực nhận thức và phát triển năng lực hành động.
Năng lực nhận thức: Bao gồm hệ thống các kĩ năng giúp cho quá trình
nhận thức thuận lợi và có hiệu quả hơn, như: kĩ năng quan sát, KN làm thí
nghiệp, KN suy luận, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa,…
Khoa Sinh - Đại học Sư phạm Đồng Tháp
14
Bài giảng PPDH Sinh học Th.S. Phạm Đình Văn
Năng lực hành động: Đó là các phẩm chất tư duy, biểu hiện ở tính tích
cực, độc lập, sáng tạo trong học tập: Tự học, tự nghiên cứu, năng lực phát hiện
và giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh trong thực tế.
Trong quá trình thực hiện chương trình SH ở THCS, GV cần chú ý phát
triển các kĩ năng nhận thức sau:
a. Kĩ năng quan sát:
Rèn luyện cho HS biết quan sát tinh tường, đi sâu vào từng chi tiết, tập
trung vào nhữug chi tiết quan trọng nhất của đối tượng. Từ quan sát bằng mắt,

một số lượng đủ lớn các sự kiện. Tuy nhiên trong dạy học người ta cho phép
dùng quy nạp đơn cử, nghĩa là chỉ dựa trên một vài hiện tượng, thí nghiệm để rút
ra kết luận. Đó là vì các kiến thức này đã được các nhà khoa học kiểm chứng
nhiều lần, mặt khác trong 1 tiết học thời gian có hạn không thể tái hiện lại quá
trình phát hiện của các nhà khoa học được. Khi sử dụng quy nạp đơn cử, GV
tránh để HS hiểu sai là các kiến thức này được rút ra một cách đơn giản như vậy.
Mendel làm thí nghiệm trong 8 năm liền, với 7 cặp tính trạng, đã phân tích trên
1 vạn cây lai mới rút ra được các định luật, nhưng trong mấy tiết học chúng ta
chỉ đơn cử một vài thí nghiệm để rút ra các định luật của ông!
Khi vận dụng các khái niệm, quy luật vào các trường hợp cụ thể thì lại
cần đến kĩ năng suy lí diễn dịch, tức là đi từ cái chung, khái quát đến cái cụ thể,
riêng lẻ. Trong dạy học 2 kĩ năng này luôn bổ sung cho nhau và đều cần cho quá
trình vận động của tư duy. Tuy nhiên do đặc điểm của quá trình nhận thức của
HS THCS, GV cần chú trọng phát triển tư duy thực nghiệm quy nạp trên cơ sở
rèn luyện kĩ năng quan sát, thí nghiệm.
3.3. Nhiệm vụ giáo dục các phẩm chất nhân cách (Giáo dục)
a. Giáo dục thế giới quan khoa học
Thế giới quan là quan điểm về thế giới của một chủ thể nhất định. Hạt
nhân của thế giới quan khoa học là Triết học Mác – Lênin, bao gồm chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đối tượng của SH là các quy
luật phát triển của sự sống – là một hình thức vận động của vật chất trong tự
nhiên. Do đó, Triết học và SH có mối quan hệ tác động qua lại bổ sung cho
nhau, cùng nhau phát triển.
Trong dạy học SH, nhiệm vụ giáo dục TGQKH bao gồm:
- Giáo dục quan điểm duy vật: GV cần vạch rõ cho HS rằng: Mọi sự
vật, hiện tượng trong tự nhiên nói chung và thế giới hữu cơ nói riêng đều là
những hình thức vận động của vật chất. Khi ta đã hiểu rõ CSVC và cơ chế vận
động của các quá trình diễn ra trong sự vật hiện tượng thì ắt sẽ nhận thức được
nó trên cơ sở DVBC, mà không cần một sự giải thích duy tâm thần bí nào!
- Giáo dục PP biện chứng: Mối liên hệ phổ biến, tất nhiên của mọi sự

thống nhất, có sự tác động qua lại lẫn nhau.
- Trí dục là cơ sở để thực hiện hai nhiệm vụ sau
- Phát triển năng lực nhận thức và hành động là hệ quả của quá trình
chiếm lĩnh tri thức một cách tích cực và chủ động sáng tạo và ngược lại, đó cũng
là điều kiện để HS tiếp tục chiếm lĩnh tri thức một cách sâu sắc và hiệu quả hơn.
- GD các phẩm chất nhân cách vừa là hệ quả của hai nhiệm vụ trên, là
mục đích cuối cùng của việc dạy học, vừa là yếu tố kích thích, động lực thúc đẩy
Khoa Sinh - Đại học Sư phạm Đồng Tháp
17
Bài giảng PPDH Sinh học Th.S. Phạm Đình Văn
quá trình chiếm lĩnh tri thức, phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành
động đến trình độ sáng tạo.
4. Xác định mục tiêu bài học
4.1. Quan điểm xác định mục tiêu
Phân biệt mục đích và mục tiêu?
Mục đích và mục tiêu đều muốn nói tới kết quả hướng tới của một quá
trình thực hiện một công việc nào đó.
Mục đích là muốn nói tới kết quả hướng tới một cách khái quát, dài hạn
có tính chiến lược, ví dụ: Mục đích của nền GDVN từ nay đến 2020,…
Mục tiêu là muốn nói tới một kết quả cụ thể, ngắn hạn, có thể đạt được
trong thời gian ngắn, do cá nhân hoặc tập thể nhỏ thực hiện, ví dụ: Mục tiêu bài
học, mục tiêu chương.
Theo quan điểm “công nghệ” thì mục tiêu là “đầu ra”, là “sản phẩm” tức
cũng là cái đích cụ thể của một quá trình hay một công đoạn sản xuất. Mục tiêu
là cơ sở để đánh giá kết quả cuối cùng, vì vậy cần phải xác định mục tiêu cụ thể,
rõ ràng, phù hợp.
Theo quan điểm “dạy học hướng vào học sinh” thì mục tiêu đề ra là của
học sinh chứ không phải của giáo viên.
Vì vậy:
Khoa Sinh - Đại học Sư phạm Đồng Tháp

- HS vẽ được sơ đồ cấu tạo tế bào thực vật.
c. Mục tiêu nói rõ “đầu ra” chứ không phải mô tả nội dung tiến trình bài
học.
Khoa Sinh - Đại học Sư phạm Đồng Tháp
19
Kiến thức
Kĩ năng
Thái độ
Mục tiêu
Bài giảng PPDH Sinh học Th.S. Phạm Đình Văn
Ví dụ: Bài 9. SH 6 – CÁC LOẠI RỄ
Không nên diễn đạt mục tiêu là: GV trình bày các loại rễ, tiếp theo trình
bày các miền của rễ.
Nên diễn đạt như sau: Học xong bài này, HS phải mô tả được đặc điểm
của các loại rễ. Xác định được các miền cấu tạo của rễ.
d. Mỗi mục tiêu chỉ nên phản ánh một “đầu ra” để thuận tiện cho việc
đánh giá kết quả bài học.
Ví dụ: Bài 17.SH 6 - VẬN CHUYỂN CÁC CHẤT TRONG THÂN
Không nên: HS trình bày được thí nghiệm, xác định được chiều vận
chuyển của nước và muối khoáng trong thân cây.
Nên: HS trình bày được thí nghiệm về sự vận chuyển nước trong cây
HS xác định được chiều vận chuyển của nước và muối khoáng trong cây.
e. Mỗi “đầu ra” trong mục tiêu nên được diễn đạt bằng một động từ hành
động.
- Về kiến thức: Định nghĩa, giải thích, phân biệt, trình bày, …
- Về kĩ năng: Quan sát, đo, vẽ, nhận biết, so sánh, phân loại, thu thập, tính
toán,…
- Về thái độ: Hình thành, chấp nhận, hưởng ứng, tự nguyện tham gia,…
Bài tập: Viết mục tiêu cho bài 4. SH 6 – Có phải tất cả thực vật đều
có hoa? Và một bài tự chọn trong chương trình SH THCS?

giai đoạn hiện nay?
a. Khối lượng tri thức và kinh nghiệm của loài người tích lũy được ngày
càng nhiều và nhịp độ ngày càng tăng → HVPT phải được lựa chọn trong 1 giới
hạn kiến thức hợp lí, cơ bản là dành thời gian để dạy PP học, đặc biệt là PP tự
học.
Khoa Sinh - Đại học Sư phạm Đồng Tháp
21
Bài giảng PPDH Sinh học Th.S. Phạm Đình Văn
b. Trong xã hội hiện đại, công nghệ thong tin phát triển nhanh chóng, tạo ra
những phương tiện, PP giao lưu mới, mở rộng phổ các khả năng học tập →
Người thiết kế chương trình không cần phải tính đến khối lượng tri thức các
môn học mà phải biết chọn lọc cái cần thiết nhất sao cho vừa phát huy được thế
mạnh của HVPT nhà trường, vừa tăng sức hấp dẫn hứng thú của HS.
c. Trong cuộc cách mạng KHKT đang sôi động, liên tục sinh ra những
ngành sản xuất mới, liên tục đổi mới máy móc thiết bị, quy trình công nghệ
trong mọi ngành sản xuất thì ngành GD phải chuẩn bị nguồn nhân lực có tiềm
năng thích ứng linh hoạt. Vì vậy, trang bị HVPT không chỉ chú trọng vốn kiến
thức như trước đây mà phải chú ý nhiều hơn đến việc rèn kĩ năng, kĩ xảo, năng
lực tư duy và năng lực hành động thực tế.
3.2. Những nguyên tắc xây dựng NDDH phổ thông
Nội dung dạy học được các nhà khoa học và các nhà Sư phạm gia công, tinh
lọc từ tinh hoa văn hóa của nhân loại và của dân tộc, nhằm chuyển giao kiến
thức cho thế hệ trẻ. Quá trình này được thể hiện bởi mối quan hệ chặt chẽ giữa
nền văn hóa, kinh nghiệm xã hội, NDDH, HVPT của mỗi HS, thể hiện ở hình
sau:
Khoa Sinh - Đại học Sư phạm Đồng Tháp
22
Các nhà khoa học
Các nhà sư phạm
Các chuyên gia

Chương trình này đã được xây dựng từ cuối thập niên 70 trải qua hơn 2
thập kỉ và đến nay nó đã bộc lộ nhiều bất cập trước sự phát triển của KHKT,
kinh tế, cũng như yêu cầu cuộc sống ngày càng cao và những yêu cầu trong
công cuộc CNH – HĐH đất nước.
Kiến thức quá tải, mang tính hàn lâm, tính lí thuyết cao, thiếu tính thiết thực
ứng dụng gắn với thực tiễn cuộc sống, không phù hợp với HS đang có những
biến đổi nhanh trong điều kiện kinh tế đất nước đổi mới.
Từ những bất cập của CT cũ và những yêu cầu của hoàn cảnh mới, đòi hỏi
phải đổi mới CT THCS.
3.3.2. Chương trình mới
a. Khái niệm chương trình
Chương trình đầy đủ (Curriculum) là văn bản chứa những thông tin cần
thiết về cả mục tiêu, nội dung, PP dạy học, đồng thời cả phương tiện, tổ chức
thực hiện và đánh giá kết quả học tập.
Phần cốt lõi của CTĐĐ là mục tiêu và nội dung nhưng nó được thiết kế
trong mối quan hệ qua lại với các thành tố khác của QTDH, nêu ra định hướng
cơ bản về phương pháp, tổ chức, phương tiện và đánh giá kết quả học tập.
b. Quá trình hình thành:
+ Bản dự thảo được xây dựng trong 2 năm 1997 – 1998.
Khoa Sinh - Đại học Sư phạm Đồng Tháp
23
Bài giảng PPDH Sinh học Th.S. Phạm Đình Văn
Thí điểm tại 156 trường ở 12 quận, huyện thuộc 12 tỉnh, thành phố đại diện
cho các vùng trong cả nước. Bắt đầu từ lớp 6 năm học 2000 – 2001 đến lớp 9
năm học 2003 – 2004. Triển khai đại trà đối với lớp 6 từ năm học 2002 – 2003,
kết thúc ở lớp 9 vào năm học 2005 – 2006.
c. Định hướng chỉ đạo việc xây dựng chương trình mới
Theo NQTW 2 khóa VIII, CT mới được xây dựng theo phương hướng sau:
- Loại bỏ những kiến thức không thiết thực, bổ sung những nội dung cần
thiết theo hướng đảm bảo kiến thức cơ bản.

6 Thực vật học 70 Thực vật học 66
7 Động vật học 70
Thực vật học (28 tiết)
Động vật KXS (38tiết)
66
8 Cơ thể người và vệ sinh 70 Động vật CXS 66
9
Di truyền và biến dị (39t)
Sinh vật và môi trường(22t)
Tổng kết ôn tập (9t)
70
Giải phẫu SLN và vệ sinh (79t)
Di truyền chọn giống (17t)
SH với sản xuất và đời sống (3t)
99
280 297
Nhận xét:
+ Số tiết giảm: 297 tiết  280 tiết: giảm 17 tiết;
Cụ thể:
Phần giảm: - Thực vật giảm 24 tiết;
- Động vật giảm 34 tiết;
Khoa Sinh - Đại học Sư phạm Đồng Tháp
25

Trích đoạn Dạy học đặt và giải quyết vấn đề Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ Cơ sở lựa chọn phương pháp dạy học (Tự nghiên cứu) Cấu trúc sách giáo khoa và các bài học trong SH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status