Quá trình xây dựng đời sống văn hóa ở tỉnh Lạng Sơn từ năm 1998 đến năm 2015 (Luận án tiến sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VI THÙY DỊU

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
Ở TỈNH LẠNG SƠN TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VI THÙY DỊU

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
Ở TỈNH LẠNG SƠN TỪ NĂM 1998 ĐẾN NĂM 2015
Ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số : 9229013

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VŨ QUANG HIỂN

HÀ NỘI - 2019


LỜI CAM ĐOAN

2.2. Triển khai xây dựng đời sống văn hóa trong toàn tỉnh ............................40
2.3. Các phong trào xây dựng đời sống văn hóa ...............................................56
2.3.1. Xây dựng đời sống văn hóa cá nhân .....................................................56
2.3.2. Xây dựng đời sống văn hóa gia đình .....................................................60
2.3.3. Xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng ..................................................62
2.3.4. Xây dựng môi trường văn hóa ...............................................................70
Chương 3 XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở TỈNH LẠNG SƠN TỪ
NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2015 ...................................................................................74
3.1. Một số yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới ....................................................74


3.1.1. Những tác động bất lợi của kinh tế trị trường, mở cửa, hội nhập .......74
3.1.2. Những tác động bất lợi của công nghiệp hóa, hiện đại hóa .................75
3.1.3. Những tác động bất lợi của mạng xã hội đến cuộc sống con người, nhất
là giới trẻ............................................................................................................77
3.1.4. Những hạn chế trong xây dựng đời sống văn hóa của giai đoạn trước .78
3.1.5. Chủ trương mới của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa 79
3.2. Tiếp tục xây dựng đời sống văn hóa ở tỉnh Lạng Sơn ..............................83
3.2.1. Trong những năm 2006 - 2010 ..............................................................83
3.2.2. Trong những năm 2011 - 2015 ..............................................................88
3.3. Các phong trào xây dựng đời sống văn hóa ...............................................91
3.3.1. Xây dựng đời sống văn hóa cá nhân .....................................................91
3.3.2 Xây dựng đời sống văn hóa gia đình ......................................................94
3.3.3. Xây dựng đời sống văn hóa cộng đồng ..................................................97
3.3.4. Xây dựng môi trường văn hóa ............................................................ 104
Chương 4 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM .................................................... 108
4.1. Nhận xét ...................................................................................................... 108
4.1.1. Đặc điểm ............................................................................................... 108
4.1.2. Ưu điểm, hạn chế ................................................................................. 116
4.2. Kinh nghiệm ............................................................................................... 139


: Hội đồng nhân dân

MTTQ

: Mặt trận Tổ quốc

NSVH

: Nếp sống văn hóa

NXB

: Nhà xuất bản

TDTT

: Thể dục thể thao

UBND

: Ủy ban nhân dân

UBMTTQ

: Ủy ban mặt trận Tổ quốc

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa

trong mỗi con người, mỗi gia đình và cộng đồng nhất định.
Xây dựng đời sống văn hóa là xây dựng toàn diện và đồng bộ các yếu tố cấu
thành nên đời sống văn hóa, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau, từ văn hóa vật chất
đến văn hóa tinh thần, từ văn hóa cá nhân đến văn hóa gia đình và cộng đồng, từ
văn hóa chính trị đến văn hóa giáo dục, văn hóa nghệ thuật, văn hóa khoa học tới
văn hóa tâm linh, phong tục, tập quán… Đề tài nghiên cứu xây dựng đời sống văn
hoá từ góc độ xây dựng mặt tích cực trong đời sống xã hội, góp phần nâng cao chất
lượng cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng, thông qua những nội
dung, cách thức, hình thức, tổ chức, hoạt động văn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu
hưởng thụ và sáng tạo các giá trị văn hóa vì sự phát triển của con người và cộng
đồng. Đi đôi với xây là chống, xây là phát huy, phát triển các hoạt động văn hóa,
mở rộng giao lưu, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa thế
giới để bắt kịp sự phát triển của thời đại; đi liền với xây là chống, chống những cái
lạc hậu, lỗi thời trong phong tục tập quán và lề thói cũ để bảo vệ bản sắc dân tộc.

1


Trong thời kì mở cửa, hội nhập giao lưu quốc tế, xây dựng đời sống văn hoá là
nhiệm vụ quan trọng của cả nước, từ đó góp phần tạo ra môi trường chính trị - xã
hội ổn định, an toàn và bền vững trên cơ sở đời sống kinh tế được đảm bảo. Xây
dựng đời sống văn hóa là nhiệm vụ của mọi người dân, mọi gia đình, mọi cơ quan,
đoàn thể, tổ chức xã hội và các cấp, các ngành.
Lạng Sơn là tỉnh quan tâm xây dựng đời sống văn hóa, nằm ở cửa ngõ phía
Đông Bắc của Tổ quốc, có vị chí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, chính
trị, văn hóa, xã hội, có các cửa khẩu quốc tế, là đầu mối giao lưu kinh tế giữa Việt
Nam và Trung Quốc với các nước ASEAN, Đông - Tây Âu. Tỉnh Lạng Sơn có
nhiều thành phần dân tộc sinh sống (Nùng, Tày, Kinh, Dao, Hoa, Sán Chay,
Mông...), người dân xứ Lạng có truyền thống giữ gìn và phát huy các giá trị bản sắc
văn hóa dân tộc, xây dựng đời sống văn hóa phong phú, đậm đà bản sắc riêng của

Trong giai đoạn 1998 - 2015, xây dựng đời sống văn hóa ở tỉnh Lạng Sơn đã
đạt được những kết quả đáng ghi nhận trên các nội dung xây dựng đời sống văn hóa
cá nhân, xây dựng đời sống văn hóa gia đình, xây dựng đời sống văn hóa cộng
đồng, xây dựng môi trường văn hóa. Kết quả bước đầu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
đối với việc phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh, đồng thời khẳng định nhu
cầu, nguyện vọng hướng tới những giá trị chân, thiện, mỹ trong đời sống của nhân
dân Lạng Sơn và tính đúng đắn của đường lối, chính sách văn hoá, năng lực lãnh
đạo xây dựng đời sống văn hoá ở địa phương.
Tuy nhiên, việc xây dựng đời sống văn hoá ở tỉnh Lạng Sơn cũng còn những
hạn chế, bất cập do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhiều cấp ủy đảng,
chính quyền chưa quan tâm đầy đủ lĩnh vực này; lãnh đạo, chỉ đạo chưa thật quyết liệt.
Việc cụ thể hóa, thể chế hóa Nghị quyết của Đảng còn chậm, thiếu đồng bộ và trong
một số trường hợp thiếu khả thi. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa chậm được đổi
mới, có lúc, có nơi bị xem nhẹ, thậm chí buông lỏng; kỷ luật, kỷ cương không nghiêm.
Đầu tư cho lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng và còn dàn trải; chưa nắm bắt kịp thời
những vấn đề mới về văn hóa để đầu tư đúng hướng và có hiệu quả; chưa quan tâm
đúng mức công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực văn
hóa. Bên cạnh đó, một số dân tộc ở tỉnh Lạng Sơn hiện nay còn duy trì những tập tục,
lề thói lạc hậu cổ truyền, đây là kẽ hở để các loại tội phạm lợi dụng tín ngưỡng, tôn
giáo để hoạt động mê tín dị đoan; lợi dụng quan hệ anh em họ hàng mà che dấu tội
phạm; lợi dụng phong tục tập quán mà vi phạm pháp luật; lợi dụng những nơi thuộc
vùng sâu vùng xa, vùng biên giới để ẩn náu, trốn tránh khi phạm tội hoặc bị truy nã; lợi

3


dụng điều kiện kinh tế khó khăn, trình độ hiểu biết của nhân dân còn thấp để hoạt động
buôn lậu, buôn bán ma tuý, buôn bán phụ nữ, trẻ em sang Trung Quốc...
Tỉnh Lạng Sơn đang trong thời kì đổi mới, đó là thời kì cái cũ đang mất đi và
cái mới đang hình thành, trong quá trình ấy cái gì sẽ mất đi, cái gì sẽ được kế tục,


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Thực tiễn xây dựng đời sống văn hoá ở tỉnh Lạng Sơn từ năm 1998 đến
năm 2015.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu những nhân tố tác động đến xây dựng đời sống văn
hóa ở tỉnh Lạng Sơn và thực tiễn xây dựng đời sống văn hóa từ năm 1998 đến năm
2015
Nội dung xây dựng đời sống văn hóa rất rộng, luận án tập trung vào trục chính
là: xây dựng đời sống văn hóa cá nhân, xây dựng đời sống văn hóa gia đình, xây
dựng đời sống văn hóa cộng đồng và xây dựng môi trường văn hóa.
- Về không gian: Địa bàn nghiên cứu của luận án là tỉnh Lạng Sơn, bao gồm
thành phố Lạng Sơn và 10 huyện: Tràng Định, Cao Lộc, Lộc Bình, Văn Lãng, Đình
Lập, Chi Lăng, Hữu Lũng, Văn Quan, Bình Gia, Bắc Sơn.
Luận án có sự liên hệ với các địa phương khác, nhất là các tỉnh trong khu vực
(như Bắc Kạn, Cao Bằng) để làm rõ những đặc điểm của tỉnh Lạng Sơn trong xây
dựng đời sống văn hóa.
- Về thời gian: Luận án lấy mốc thời gian từ năm 1998, là năm Lạng Sơn
chính thức triển khai xây dựng đời sống văn hóa trong toàn tỉnh theo tinh thần Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII về xây dựng
và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó tập
trung nhiều cho xây dựng đời sống văn hóa.
Năm 2015 là năm tỉnh Lạng Sơn kết thúc thực hiện kế hoạch 5 năm 2011 –
2015 về xây dựng đời sống văn hóa.
Để làm nổi bật quá trình xây dựng đời sống văn hóa ở tỉnh Lạng Sơn từ năm
1998 đến năm 2015, luận án có đề cập đến thời gian trước năm 1998 ở mức độ cần
thiết, nhằm tìm hiểu tình hình xây dựng đời sống văn hóa trước khi tỉnh Lạng Sơn
triển khai chính thức trong toàn tỉnh.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

văn hóa.
Làm sáng tỏ những đặc điểm của quá trình xây dựng đời sống văn hóa ở tỉnh
Lạng Sơn từ năm 1998 đến năm 2015.
Phân tích ý nghĩa của xây dựng đời sống văn hóa, nhất là tác động đối với việc
cải thiện đời sống nhân dân, giữ gìn bản sắc dân tộc, giữ vững an ninh - trật tự.
Bước đầu tổng kết một số kinh nghiệm từ những thành công và chưa thành
công trong xây dựng đời sống văn hóa từ năm 1998 đến năm 2015, giúp cho địa

6


phương hoạch định chủ trương, chính sách, kế hoạch tiếp tục xây dựng đời sống
văn hóa.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Về lý luận
Góp phần khẳng định vai trò, vị trí, tầm quan trọng của đời sống văn hóa và
xây dựng đời sống văn hóa, nhất là giá trị nhân văn của đời sống văn hóa vì con
người, cải thiện đời sống con người.
Những kinh nghiệm được tổng kết từ thực tiễn xây dựng đời sống văn hóa
giúp cho việc tiếp tục đẩy mạnh xây dựng đời sống văn hóa ở địa phương trong
chặng đường tiếp theo.
6.2. Về thực tiễn
Bổ sung, làm phong phú thêm cho chuyên ngành lịch sử Việt Nam nguồn tài
liệu tham khảo về lịch sử xây dựng đời sống văn hóa, dùng làm tài liệu tham khảo
cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập về lịch sử địa phương và những vấn đề
có liên quan đến xây dựng đời sống văn hóa.
Cung cấp luận cứ khoa học giúp cho công tác lãnh đạo, quản lý, hoạch định
chủ trương, chính sách về xây dựng đời sống văn hóa.
Kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị tham khảo đối với việc xây dựng đời
sống văn hóa ở địa phương và các tỉnh lân cận trong giai đoạn hiện tại và thời gian tới.

đẩy mạnh xây dựng gia đình văn hoá với những tiêu chí phù hợp với yêu cầu,
nhiệm vụ của công cuộc đổi mới đất nước. Đáng chú ý là những bài phân tích về
vai trò của nguồn lực gia đình trong quá trình CNH, HĐH đất nước, nhất là kinh
nghiệm trong quá trình xây dựng gia đình văn hóa ở Việt Nam.
Liên quan đến các nội dung xây dựng đời sống văn hóa, cuốn sách Hỏi và đáp
về làng văn hoá, gia đình văn hoá, đời sống văn hoá, tổ chức lễ hội truyền thống
của Trần Hữu Tòng, Hà Văn Tăng (Nxb Chính trị quốc, Hà Nội, 1998) giải đáp
những vấn đề cơ bản về xây dựng làng văn hoá, gia đình văn hoá, đời sống văn
hoá và tổ chức lễ hội truyền thống. Nội dung nổi bật của cuốn sách là giải đáp
những vướng mắc trong xây dựng đời sống văn hóa, nhấn mạnh nội dung xây
dựng làng văn hoá, gia đình văn hoá, tổ chức lễ hội truyền thống phù hợp với chủ
trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Nghiên cứu về đời sống văn hóa ở nông thôn, cuốn sách Một số giá trị văn hóa
truyền thống với đời sống văn hóa ở cơ sở nông thôn hiện nay của hai tác giả Phạm

8


Việt Long và Nguyễn Đạo Toàn (Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1998) nghiên cứu về
văn hóa truyền thống trong thời kì đổi mới gắn với đời sống văn hóa cơ sở ở nông
thôn. Trong nghiên cứu, hai tác giả nhấn mạnh một số giá trị văn hóa truyền thống
với đời sống văn hóa ở cơ sở nông thôn hiện nay, tiêu biểu như giá trị văn hóa ở một
số loại hình lễ hội, di tích, hương ước và các hình thức sinh hoạt nghệ thuật dân gian.
Nghiên cứu về lí luận xây dựng đời sống văn hóa gắn với thực tiễn, cuốn sách
Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng đời sống văn hóa ở nước ta của Hoàng
Vinh (Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1999) nghiên cứu về vai trò của việc tổ chức
đời sống văn hóa ở cơ sở, làm rõ hơn những vấn đề lý luận về đời sống văn hóa;
thực tiễn xây dựng đời sống văn hóa ở Việt Nam, đồng thời đưa ra những gợi mở
giải pháp thực xây dựng đời sống văn hóa.
Viết về những tấm gương điển hình trong xây dựng đời sống văn hóa, cuốn

Viết về chủ đề xây dựng môi trường văn hóa, cuốn sách Về xây dựng môi
trường văn hoá cơ sở của Văn Đức Thanh (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004)
nghiên cứu môi trường văn hóa ở Việt Nam, khẳng định xây dựng môi trường văn
hóa là thực hiện quan điểm của Đảng về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt
Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, văn hóa là mục tiêu, động lực thúc đẩy
kinh tế - xã hội phát triển.
Cùng chủ đề xây dựng môi trường văn hóa, tác giả Nguyễn Hữu Thức có
nhiều quan điểm giống với tác giả Văn Đức Thanh. Cuốn sách Về văn hóa và xây
dựng đời sống văn hóa (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005) hệ thống những chủ
trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng đời sống văn hóa qua từng giai đoạn, từ
đó, tác giả đi phân tích về công tác xây dựng môi trường văn hóa là một nội dung
điển hình trong các nội dung xây dựng đời sống văn hóa. Điểm nổi bật là tác giả
nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa
truyền thống trong xây dựng môi trường văn hóa hiện nay.
Nghiên cứu về xây dựng lối sống văn hóa, cuốn sách Xây dựng lối sống ở Việt
Nam hiện nay của Võ Văn Thắng (Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2006) đưa ra
quan điểm xây dựng lối sống ở Việt Nam nhằm phát triển văn hóa trong thời kỳ hội
nhập; coi văn hóa là động lực phát triển xã hội, phương hướng, giải pháp kế thừa và
phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống ở Việt
Nam. Tác giả làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra trong xây dựng lối sống ở
Việt Nam, qua đó nhấn mạnh vai trò của gia đình trong việc kế thừa và phát huy các
giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, coi đó là vấn đề cần quan tâm trong bối cảnh
Việt Nam thực hiện chính sách mở cửa, hội nhập, giao lưu quốc tế.

10


Tìm hiểu về tác động của CNH, HĐH đến xây dựng đời sống văn hóa các dân
tộc thiểu số, cuốn sách Đời sống văn hóa các dân tộc thiểu số trong quá trình công
nghiệp hóa - hiện đại hóa của Trần Văn Bính (Nxb Lí luận chính trị, Hà Nội,



nếp sống văn hóa, đời sống mới... Những nội dung cơ bản về xây dựng đời sống
văn hóa; kĩ năng của cán bộ đang làm công tác văn hóa - xã hội ở cơ sở; phương
pháp tiếp cận, nghiên cứu, vận dụng thực tiễn ở địa phương được trình bày trong
cuốn sách khá chi tiết.
Từ góc độ pháp luật về xây dựng đời sống văn hóa, cuốn sách Hỏi, đáp pháp
luật về xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn do Cục văn hóa cơ sở thuộc Bộ Văn
hóa, Thể thao và Du lịch biên soạn (Nxb Lao động, Hà Nội, 2016) hệ thống một
cách cơ bản kiến thức pháp luật liên quan đến việc xây dựng đời sống văn hóa ở
nông thôn. Những nội dung xây dựng đời sống văn hóa như thực hiện nếp sống văn
minh trong việc cưới, việc tang, tổ chức lễ hội; xây dựng gia đình văn hóa, làng,
thôn, bản văn hóa; xây dựng xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới… được phân tích
kĩ hơn dưới góc độ các quy định của pháp luật.
Bên cạnh những công trình nghiên cứu nêu trên, có một số bài viết phân tích
khá kĩ về xây dựng đời sống văn hóa ở phạm vi, góc độ khác nhau, tiêu biểu như:
Bài viết Nghĩ về phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hóa” của tác giả Lê Tiến Dũng (Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 12, 2007) phân tích,
luận giải những vấn đề nảy sinh trong quá trình thực hiện phong trào “Toàn dân
đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, phản biện một số quan niệm chưa đúng về
nội dung, bản chất phong trào xây dựng đời sống văn hóa, cho rằng phong trào là
của toàn dân nên phải thống nhất, tập trung tất cả các phương pháp hoạt động của
các đối tượng khác nhau thành một nội dung tổng hợp; hoặc cho rằng không cần
quan tâm đến các hoạt động chung của phong trào lớn mà chỉ cần quan tâm đến các
phong trào nhỏ vì hầu hết các phong trào nhỏ đang phát triển rất tốt. Tác giả khẳng
định đây là những nhận thức lệch lạc, cần phải làm tốt công tác tuyên truyền, nâng
cao nhận thực trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về nội dung, bản chất của phong
trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”.
Ở góc nhìn thành công trong xây dựng đời sống văn hóa, tác giả Đỗ Ngọc
Khanh khảo sát thực tế của người dân đánh giá về những ưu điểm sau 15 năm thực

niệm khác nhau về đời sống văn hóa và quan niệm cơ sở trong xây dựng đời sống
văn hóa; qua đó tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của xây dựng đời sống văn hóa
chính là thực hiện nhiệm vụ đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống, làm cho văn
hóa ngày càng trở thành yếu tố khăng khít của đời sống xã hội.
Nghiên cứu về những bất cập trong xây dựng đời sống văn hóa gắn với xây
dựng nông thôn mới ở miền núi phía Bắc, bài viết Xây dựng đời sống văn hóa gắn

13


với nông thôn mới ở miền núi phía Bắc của tác giả Vũ Diệu Trung (Tạp chí Văn hóa
nghệ thuật, số 395, 2017) làm rõ hơn những bất cập trong công tác xây dựng đời
sống văn hóa gắn với xây dựng nông thôn mới ở khu vực miền núi phía Bắc, nhất là
ở vùng sâu, vùng xa thể hiện qua các nội dung như: xây dựng gia đình văn hóa; xây
dựng làng (xóm, thôn, bản, tổ dân phố) văn hóa; xây dựng nông thôn mới… đây là
những nội dung miền núi khó đạt được theo 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới;
qua đó tác giả đưa ra một số kiến nghị góp phần nghiên cứu cho phù hợp khi điều
chỉnh lại một số tiêu chí trong 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới đối với khu vực
miền núi phía Bắc.
Cùng viết về chủ đề xây dựng đời sống văn hóa ở miền núi, tác giả Trần Hữu
Sơn có bài viết Đặc điểm miền núi với vấn đề xây dựng đời sống văn hóa cơ sở
(Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, số 398, 2017) phân tích đặc điểm miền núi (các tỉnh
phía Bắc và Tây Nguyên) ảnh hưởng đến xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn,
trong đó tác giả chú trọng phân tích đặc thù của miền núi chi phối đến xây dựng đời
sống văn hóa ở cơ sở gắn với việc xây dựng nông thôn mới; một số tiêu chí xây
dựng nông thôn mới không phù hợp với miền núi dẫn đến tính trạng không thực
hiện được tiêu chí hoặc thực hiện được nhưng lại bỏ hoang các công trình văn hóa,
điều đó làm cho công tác xây dựng đời sống văn hóa gặp nhiều khó khăn.
Có thể nói, từ những khía cạnh tiếp cận khác nhau, những công trình nghiên
cứu đã cho thấy vị trí, vai trò, tầm quan trọng của xây dựng đời sống văn hóa. Kết

Nghiên cứu tổng thể về tỉnh Lạng Sơn, cuốn sách Địa chí Lạng Sơn do Ủy ban
nhân dân tỉnh Lạng Sơn tổ chức biên soạn (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999).
Đây là công trình nghiên cứu công phu, nội dung cơ bản giới thiệu lịch sử, văn hóa
tỉnh Lạng Sơn, trong đó tập trung nhấn mạnh nhiều đến đời sống vật chất và tinh
thần của các dân tộc Lạng Sơn như: tín ngưỡng, lễ hội, phong tục tập quán, văn học
- nghệ thuật, danh lam thắng cảnh... Đây là công trình nghiên cứu tổng quát nhất về
về địa lý, tự nhiên, lịch sử, dân tộc, con người, văn hóa, xã hội và những biểu hiện
của đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội ở Lạng Sơn qua các thời kỳ lịch sử.
Tìm hiểu về âm nhạc truyền thống góp phần xây dựng đời sống văn hóa ở
Lạng Sơn, cuốn sách Âm nhạc dân gian các dân tộc Tày - Nùng - Dao Lạng Sơn
của Nông Thị Nhình (Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 2000) nghiên cứu sâu về âm
nhạc dân gian trong các dân tộc Tày - Nùng - Dao ở Lạng Sơn; làm rõ những hình
thức sinh hoạt âm nhạc dân gian; sự hình thành các dạng giai điệu, mối quan hệ
giữa giai điệu với thơ ca, các nhạc cụ dân gian và dàn nhạc cũng được tác giả làm
rõ. Âm nhạc dân gian các dân tộc Tày - Nùng - Dao ở Lạng Sơn là một trong những

15


đặc trưng văn hóa cần được bảo tồn và phát huy trong bối cảnh mở cửa, giao lưu,
hội nhập hiện nay.
Làm nổi bật những nét đặc trưng văn hóa xứ Lạng, cuốn sách Lạng Sơn vùng
văn hóa đặc sắc của Phạm Vĩnh (Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2001) nghiên cứu
những nét đặc sắc trong văn hóa xứ Lạng, từ vị trí địa lý, hành chính, lịch sử qua
các thời kỳ. Tác giả cũng làm rõ hơn khái niệm về văn hóa, đặc trưng văn hóa, chức
năng văn hóa, di sản văn hóa, bản sắc văn hóa, dân tộc và đoàn kết dân tộc ở tỉnh
Lạng Sơn; những tín ngưỡng tôn giáo, di sản khảo cổ và lịch sử cách mạng; thơ ca
về Lạng Sơn cũng được trình bày khá rõ trong cuốn sách. Những vấn đề về văn hóa
Lạng Sơn hiện tại được tác giả đề cập, trong đó nhấn mạnh văn hóa Lạng Sơn đang
bị mai một, vì vậy cả cộng đồng cần chung tay trong việc gìn giữ và phát huy nét

giao lưu tiếp giữ những yếu tố du nhập và yếu tố bản địa, trong mối liên hệ giao lưu
ảnh hưởng qua lại giữa các địa phương. Tác giả tập trung đánh giá thực trạng, vai
trò của các hình thức sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng trong đời sống tinh thần của
người Tày, Nùng để từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất phát huy trong giai đoạn
hiện nay. Điểm nổi bật trong công trình nghiên cứu này là cách tác giả đề cập về tín
ngưỡng dân gian, về các sinh hoạt lễ nghi của người Tày, Nùng ở tỉnh Lạng Sơn khi
so sánh với các tỉnh cùng khu vực như: Cao Bằng, Bắc Kạn...
Từ góc độ Dân tộc học, lễ hội lồng tồng đã được tác giả Hoàng Văn Páo phục
dựng lại một cách khá tổng thể qua luận án tiến sĩ Lễ hội Lồng Thồng của dân tộc
Tày ở Lạng Sơn (Viện Dân tộc học thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội,
2009). Tác giả nghiên cứu về lễ hội lồng tồng trong dân tộc Tày ở Lạng Sơn, phục
dựng lễ hội lồng tồng trong đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc Tày, các trò
chơi, nghi lễ, quy mô, thời gian, không gian đã được tác giả trình bày khá chi tiết,
qua đó làm sáng tỏ vai trò, vị trí và mối quan hệ của lễ hội trong đời sống kinh tế,
chính trị, văn hoá, xã hội của người Tày ở Lạng Sơn. Ngoài ra, tác giả nghiên cứu,
so sánh lễ hội lồng tồng với một số lễ hội truyền thống khác của người Tày, qua đó
đề cập vấn đề bảo tồn và phát triển lễ hội lồng tồng cùng các lễ hội truyền thống ở
tỉnh Lạng Sơn.
Nghiên cứu về tầng lớp quý tộc thế tập trong dân tộc Tày, Nùng ở tỉnh Lạng
Sơn, đề tài khoa học Các dòng họ, Thổ ty Lạng Sơn trong lịch sử của Nguyễn
Quang Huynh (cơ quan chủ trì: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Lạng Sơn, Lạng
Sơn, 2010) nghiên cứu về các dòng họ, Thổ ty (tức là tầng lớp quý tộc thế tập ở các
vùng dân tộc Tày, Nùng ở Lạng Sơn). Tác giả khẳng định, dòng họ là nòng cốt liên
kết giữa các cá nhân, gia đình với làng xã, tạo nên sức mạnh làng, xã. Điểm nổi bật
của cuốn sách là tác giả làm rõ hơn về chính sách dân tộc, chế độ phiên tần và phiên
tần thế tập, thổ ty trong lịch sử, đồng thời làm rõ vai trò, vị trí của dòng họ Thổ ty

17




18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status