LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu
của riêng nghiên cứu sinh. Các số liệu, kết quả trình
bày trong luận án là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ
rõ ràng, không trùng lặp với các công trình khoa học
đã được công bố.
Tác giả luận án
Hoàng Văn Vân
1
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU
Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.
Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án
1.2.
Khái quát kết quả các công trình khoa học đã được công bố
và những vấn đề đặt ra luận án tập trung giải quyết
Chƣơng 2 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ
TỈNH NGHỆ AN VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ
TRỊ DI TÍCH LỊCH SỬ CÁCH MẠNG (1996 - 2005)
2.1.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
5
12
12
28
32
32
49
58
73
73
82
90
115
115
139
159
162
163
180
2
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết đầy đủ
Chữ viết tắt
6
Di tích lịch sử văn hóa
DTLSVH
7
Di tích lịch sử cách mạng
DTLSCM
8
Di sản văn hóa
DSVH
9
Đảng Cộng sản Việt Nam
ĐCSVN
10
Kinh tế - xã hội
KT - XH
tuyên truyền, giáo dục về truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, truyền
thống yêu nước, dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc. Hệ thống
DTLSCM là nguồn lực cho phát triển KT - XH; nếu được khai thác, sử dụng
hiệu quả, hợp lý sẽ góp phần không nhỏ cho phát triển kinh tế đất nước. Đây
là yêu cầu cấp thiết khi đất nước cần phát huy tối đa nội lực để phát triển.
Nghệ An là một trong những tỉnh in đậm dấu ấn văn hoá - lịch sử của đất
nước trong suốt cả quá trình dựng nước và giữ nước. Trên địa bàn tỉnh Nghệ An có
nhiều loại hình di tích như: DTLSVH, DTLSCM, di tích kiến trúc nghệ thuật. Đây
là những chứng cứ thể hiện cội nguồn, truyền thống và bản sắc văn hoá xứ Nghệ.
Trước năm 1996, trên địa bàn tỉnh Nghệ An có 28 DTLSCM cấp quốc gia.
Các DTLSCM đã được Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An bước đầu quan tâm
bảo tồn và phát huy giá trị. Hoạt động trùng tu, tôn tạo di tích diễn ra nhiều nơi,
5
6
do nhiều lực lượng tiến hành. Một số DTLSCM đã được đầu tư chống xuống
cấp, phục hồi, tôn tạo ở các mức độ và trình độ khác nhau. Tiêu biểu có các di
tích Tràng Kè, di tích nghĩa trang liệt sỹ 12/9/1930... Hoạt động tri ân, tưởng
niệm, giáo dục truyền thống, nghiên cứu, học tập, tham quan ngoại khóa...
được tổ chức có nề nếp. Các DTLSCM đã và đang trở thành nguồn lực để phát
triển; là nhân tố quan trọng trong giáo dục truyền thống cách mạng, hình
thành và hoàn thiện nhân cách con người, góp phần xây dựng và phát triển
kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh Nghệ An.
Tuy nhiên, nhiều DTLSCM đã và đang xuống cấp nghiêm trọng do tác
động của thời tiết, khí hậu, các biến cố lịch sử và sự xâm hại của con người;
hay trong quá trình tu bổ, tôn tạo lại xảy ra hư hỏng, thất lạc, mất mát và sai
lệch so với di tích gốc. Việc phát huy giá trị gặp nhiều khó khăn, hiệu quả
quản lý, cán bộ chuyên trách. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về
bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa
phương theo chuyên ngành khoa học Lịch sử ĐCSVN. Đây vẫn là một “khoảng
trống” cần được nghiên cứu.
Từ những lý do trên, Tác giả chọn đề tài: “Đảng bộ tỉnh Nghệ An lãnh
đạo bảo tồn và phát huy giá trị các di tích lịch sử cách mạng từ năm 1996 đến
năm 2015” làm luận án tiến sĩ Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử ĐCSVN.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy
giá trị các DTLSCM từ năm 1996 đến năm 2015; đúc rút kinh nghiệm để
tham khảo, vận dụng vào hiện tại.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Trình bày, luận giải những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ
tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM (1996 - 2015).
- Hệ thống hóa và phân tích làm rõ chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh
Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM từ năm 1996 đến năm 2015.
- Nhận xét, đúc rút những kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An
lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị DTLSCM giai đoạn 1996 - 2015.
7
8
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Nghệ An về bảo tồn và phát huy giá trị
các DTLSCM.
* Phạm vi nghiên cứu:
1996 và sau năm 2015.
Tác giả đặt trọng tâm nghiên cứu trong giai đoạn từ 1996 đến năm 2015
vì đây là khoảng thời gian Đảng bộ tỉnh Nghệ An có sự quan tâm, chăm lo
nhiều hơn cho nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị DLSCM. Năm 1991, tỉnh
Nghệ An được tái lập, giai đoạn 1991 - 1995, UBND tỉnh Nghệ An tập trung
kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước, khắc phục những khó khăn trong phát
triển KT - XH, nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM chưa được
coi trọng đúng mức, nhiều di tích bị xuống cấp nghiêm trọng.
1, Mốc mở đầu để nghiên cứu là năm 1996, năm Đảng bộ tỉnh Nghệ An
tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIV (nhiệm kỳ 1996
- 2000), Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIV đánh
dấu sự quan tâm nhiều hơn của Đảng bộ đến nhiệm vụ bảo tồn và phát huy
giá trị các DTLSVH nói chung và DTLSCM nói riêng.
2, Phân kỳ lịch sử 2 giai đoạn nghiên cứu là 1996 - 2005 và 2006 2015; vì đến thời điểm 2005, Đảng bộ tỉnh Nghệ An đã có chủ trương và sự
chỉ đạo khắc phục sự xuống cấp của một số DTLSCM quan trọng, quan tâm
đầu tư bảo tồn và phát huy giá trị một số DTLSCM trọng điểm phục vụ cho
năm du lịch Nghệ An 2005. Từ năm 2006, Đảng bộ tỉnh Nghệ An có sự điều
chỉnh về chủ trương và chỉ đạo về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM
gắn liền với Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVI (Năm 2006).
3, Mốc thời gian kết thúc để nghiên cứu luận án là năm 2015; Đây là
thời điểm kết thúc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần
thứ XVII (năm 2015), Theo đánh giá của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh
Nghệ An lần thứ XVIII, nhiệm vụ bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM
cấp quốc gia trọng điểm trên địa bàn tỉnh đạt được nhiều thành tựu quan
trọng, các di tích tiêu biểu được đầu tư bảo tồn, tôn tạo bằng việc thành lập và
thực hiện dự án. Hoạt động phát huy giá trị DTLSCM trong giáo dục truyền
thống cách mạng, phát triển văn hóa, gắn bảo tồn di tích với phát triển du lịch
đạt được những kết quả nhất định.
9
nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó.
Đúc rút những kinh nghiệm có thể tham khảo, vận dụng vào lãnh đạo bảo
tồn và phát huy giá trị các DTLSCM hiện nay.
10
11
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
* Ý nghĩa lý luận:
Luận án góp phần tổng kết lý luận, thực tiễn quá trình Đảng bộ tỉnh Nghệ An
lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
* Ý nghĩa thực tiễn:
- Những kinh nghiệm rút ra trong luận án có giá trị tham khảo, vận dụng
trong lãnh đạo bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSCM của đảng bộ địa phương.
- Luận án góp phần bổ sung vào lịch sử Đảng bộ tỉnh Nghệ An trên lĩnh
vực văn hóa; là nguồn tư liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy Lịch
sử ĐCSVN và Lịch sử đảng bộ địa phương.
7. Kết cấu của luận án
Luận án bao gồm: Mở đầu, 4 chương (10 tiết), Kết luận, Danh mục các
công trình của tác giả đã công bố liên quan đến đề tài luận án, Danh mục tài
liệu tham khảo và Phụ lục.
11
12
Chƣơng 1
13
DTLS trong dạy học lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở; mối quan
hệ giữa các DTLS với nội dung, chương trình lịch sử dân tộc ở các trường
trung học cơ sở. Đề xuất những hình thức và phương pháp sử dụng các DTLS
trong dạy học lịch sử dân tộc ở các trường trung học cơ sở.
Tác giả Từ Mạnh Lương (2003), nghiên cứu về Một số chính sách và giải
pháp kinh tế - xã hội chủ yếu nhằm bảo tồn, tôn tạo và nâng cao hiệu quả khai
thác di tích lịch sử văn hóa của dân tộc giai đoạn phát triển mới của đất nước
[87]. Tác giả trình bày những vấn đề lý luận và thực tiễn về các chính sách, giải
pháp KT - XH trong bảo tồn, tôn tạo và nâng cao hiệu quả khai thác các DTLSVH.
Nêu lên thực trạng về một số chính sách và giải pháp KT - XH chủ yếu để bảo tồn,
tôn tạo, nâng cao hiệu quả khai thác các DTLSVH ở Việt Nam. Đưa ra một số
chính sách và giải pháp KT - XH chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả bảo tồn, tôn tạo
và khai thác DTLSVH trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Tác giả Đinh Trung Kiên (2003), “Di tích lịch sử và tư liệu lịch sử với
việc phát triển du lịch Việt Nam” [79]. Tác giả chỉ rõ: DTLS và tư liệu lịch sử
là nguồn tài nguyên du lịch sẵn có và hấp dẫn trong phát triển du lịch. Đưa ra
một số biện pháp khai thác hiệu quả DTLS và tư liệu lịch sử cho phát triển
kinh tế du lịch Việt Nam. Cùng nghiên cứu về vai trò của di tích trong phát
triển du lịch, tác giả Nguyễn Văn Đức (2013) với đề tài: Tổ chức các hoạt
động du lịch tại một số di tích lịch sử văn hóa quốc gia của Hà Nội theo
hướng phát triển bền vững [53]. Công trình đã làm rõ cơ sở khoa học tổ chức
các hoạt động du lịch tại các khu DTLSVH; trình bày thực trạng tổ chức các
hoạt động du lịch tại một số DTLSVH quốc gia của Hà Nội; đi sâu khảo sát
tại: đền Ngọc Sơn, Văn miếu Quốc tử giám, thành Cổ Loa. Tác giả nêu lên
bốn quan điểm vừa bảo tồn vừa khai thác bền vững các di tích: Bảo tồn và
phát huy giá trị của DTLS phải bảo đảm tính trung thực lịch sử hình thành di
tích, không được làm sai lệch các giá trị và đặc điểm vốn có của di tích, phải
đã làm rõ một số vi phạm thường xảy ra trong bảo tồn di tích như: xâm phạm
khu vực khoanh vùng bảo vệ và giải tỏa trong khu vực di tích; sai phạm trong tu
bổ, quản lý các hoạt động văn hoá, lễ hội tại các di tích. Chỉ ra nguyên nhân của
14
15
những vi phạm trên. Đề xuất một số giải pháp chủ yếu khắc phục và xử lý vi
phạm trong hoạt động quản lý, tu bổ, tôn tạo di tích.
Tác giả Nguyễn Thịnh (2012), Di sản văn hóa Việt Nam, bản sắc và
những vấn đề về quản lý, bảo tồn [116]. Nguyễn Đình Thanh, Lê Thị Minh Lý
(2008), Di sản văn hóa bảo tồn và phát triển [111]. Các tác giả tập trung luận giải
khái niệm về DSVH và bản sắc riêng có của nó; nêu lên chức năng và phân loại
các DSVH. Có sự tham khảo một số kinh nghiệm bảo tồn DSVH ở nước ngoài và
đề xuất phương hướng, giải pháp trong quản lý và bảo tồn các DSVH ở Việt Nam.
Nghiên cứu của Ngô Thị Ngà (2013), về “Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên lãnh
đạo công tác bảo tồn và phát huy di tích lịch sử văn hóa từ năm 2001 đến năm
2010” [89]. Tác giả nêu lên thực trạng công tác bảo tồn, tôn tạo DTLSVH ở tỉnh
Thái Nguyên trước năm 2001. Hệ thống hóa chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng
bộ tỉnh Thái Nguyên về bảo tồn và phát huy giá trị các DTLSVH (2001 - 2010).
Nhận xét, rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo và đề xuất
một số kiến nghị về công tác bảo tồn và phát huy DTLSVH trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên trong thời gian tới. Tuy nhiên, Thái Nguyên là tỉnh có số lượng di
tích khá lớn với hơn 700 DTLSVH, trong nghiên cứu tác giả có đề cập đến một
số DTLSCM tiêu biểu trên địa bàn tỉnh nhưng chưa đi sâu nghiên cứu về bảo tồn
và phát huy giá trị các DTLSCM.
Nghiên cứu về bảo tồn di tích bằng hình thức bảo tàng, tác giả Nguyễn Thu
Trang (2013) trong bài “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa bằng hình thức bảo