HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ HOA PHƯỢNG
ĐẢNG BỘ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2018
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ HOA PHƯỢNG
ĐẢNG BỘ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2015
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Mã số: 62 22 03 15
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. PGS.TS. ĐOÀN NGỌC HẢI
2. TS. TRẦN THỊ VUI
HÀ NỘI - 2018
liên quan đến đề tài và những nội dung luận án tập trung nghiên cứu
29
Chương 2: CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO PHÁT TRIỂN KINH TẾ
BIỂN CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU (2000-2010)
31
2.1. Những yếu tố tác động đến quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế biển của
Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
31
2.2. Chủ trương phát triển kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
46
2.3. Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chỉ đạo phát triển kinh tế biển
60
Chương 3: QUÁ TRÌNH ĐẢNG BỘ TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU LÃNH
ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN (2010-2015)
78
3.1. Những yếu tố mới tác động đến quá trình lãnh đạo kinh tế biển của Đảng
bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
152
PHỤ LỤC
173
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
ASEAN
: Association of Southeast Asian Nations - Hiệp hội các nước Đông
Nam Á
BC/KT
: Báo cáo/Kinh tế
BCH TW
: Ban Chấp hành Trung ương
CNXH
: Chủ nghĩa xã hội
CT/TU
: Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm quốc nội
HĐND
: Hội đồng nhân dân
KT-XH
: Kinh tế - xã hội
NQ/TU
: Nghị quyết/Tỉnh ủy
NQ/TW
: Nghị quyết/Trung ương
ODA
: Official Development Assistance - Hỗ trợ phát triển chính thức
QĐ/HĐND : Quyết định/Hội đồng nhân dân
QĐ/UB
: Quyết định/Ủy ban
TEU
: Twenty foot Equivalent Unit - Đơn vị chuyển đổi tương đương
hơn cho các ngành kinh tế biển; có nhiều giải pháp khả thi hơn nữa để phát
triển kinh tế biển ngày càng hiệu quả, góp phần phát huy tiềm lực kinh tế
2
quốc gia. Đồng thời, phấn đấu thực hiện mục tiêu: “Đến năm 2020, kinh tế
biển đóng góp khoảng 53 - 55% tổng GDP, 55 - 60% kim ngạch xuất khẩu
của cả nước” [43, tr.76].
Bà Rịa - Vũng Tàu là một trong 28 tỉnh, thành phố có biển của Việt
Nam; là địa phương có nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế biển. Trong
những năm gần đây, trong xu thế chung của cả nước quan tâm đến phát triển
kinh tế biển, Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã quán triệt các chủ trương
phát triển kinh tế biển của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa ra những biện pháp,
giải pháp nhìn chung là kịp thời và phù hợp nhằm phát triển nhanh, mạnh
kinh tế biển của tỉnh. Phát huy thế mạnh của địa phương có biển, Đại hội
Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lần thứ V nhiệm kỳ 2010-2015, đề ra mục
tiêu phát triển kinh tế biển đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020: “Phấn
đấu xây dựng, phát triển tỉnh trở thành tỉnh công nghiệp, mạnh về kinh tế
biển, với hệ thống thương cảng quốc gia và quốc tế vào đầu thời kỳ 20102015” [34, tr.29]. Với chủ trương trên, Đảng bộ tỉnh đã đặt kinh tế biển đúng
với vị thế của nó trong tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và trong
Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Bên cạnh nhiều thành tựu to lớn trong lãnh đạo phát triển kinh tế biển,
Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vẫn không tránh khỏi những thiếu sót, những
lúng túng nhất định. Trong bối cảnh thế giới, khu vực và các quốc gia biển
đang hướng ra biển với các chiến lược phát triển kinh tế biển quy mô, hiện đại,
thì chủ trương, mục tiêu phát triển kinh tế biển của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu vẫn
còn hạn chế về tầm nhìn; công tác dự báo, định hướng chiến lược, liên kết giữa
các địa phương, kết nối giữa các vùng, miền… còn nhiều bất cập; việc giải
quyết mối quan hệ giữa phát triển du lịch, cảng biển với bảo vệ cảnh quan môi
trường còn nhiều lúng túng, khiến cho việc sử dụng và khai thác tiềm năng,
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu hoạt động lãnh đạo (chủ trương và sự chỉ đạo)
phát triển kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu từ năm 2000 đến
năm 2015.
4
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Các ngành kinh tế biển Việt Nam hiểu
theo nghĩa rộng thì đa dạng, phong phú. Tuy nhiên, căn cứ vào điều kiện cụ
thể của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, luận án tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo
của Đảng bộ tỉnh đối với các ngành kinh tế biển được coi là thế mạnh của
tỉnh như: 1. Kinh tế hàng hải, bao gồm nhiều lĩnh vực như: Cảng biển, dịch
vụ cảng biển, vận tải biển và đóng tàu biển. Tuy nhiên, xét thấy trong thời
gian luận án nghiên cứu, thế mạnh tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu về kinh tế hàng
hải là lĩnh vực cảng biển, nên nghiên cứu sinh chỉ tập trung vào lĩnh vực
này; 2. Khai thác, nuôi trồng và chế biến hải sản; 3. Du lịch biển; 4. Kinh
tế hải đảo. Bên cạnh đó, luận án cũng trình bày ngắn gọn sự lãnh đạo của
Đảng bộ tỉnh đối với những vấn đề góp phần quan trọng vào thúc đẩy các
ngành kinh tế biển của tỉnh phát triển như: Công tác tuyên truyền biển, đảo;
công tác đào tạo nguồn nhân lực cho kinh tế biển; công tác bảo vệ môi
trường; công tác tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh gắn với phát
triển kinh tế biển và công tác hợp tác quốc tế và mở rộng liên kết vùng để
phát triển kinh tế biển.
Riêng ngành khai thác, chế biến dầu khí, tuy đóng trên địa bàn tỉnh, nhưng
là ngành thuộc sự đầu tư, quản lý của Trung ương không đề cập trong luận án vì
không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án.
- Về không gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu trong phạm vi tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Về thời gian nghiên cứu: Luận án nghiên cứu quá trình Đảng bộ
logíc là chủ yếu, kết hợp với các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh,
đối chiếu, thống kê.
Phương pháp lịch sử được sử dụng chủ yếu trong chương 2 và chương
3 khi phân kỳ các giai đoạn lịch sử 2000-2010 và 2010-2015; hệ thống hóa
các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Đảng bộ tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu theo tiến trình lịch sử trong từng chương, tiết để thấy rõ sự
hình thành và phát triển đường lối, chủ trương phát triển kinh tế biển.
6
Phương pháp logic được sử dụng trong các chương, chủ yếu ở chương 4
của luận án. Thông qua các sự kiện lịch sử, quá trình lịch sử, luận án khái quát
thành những luận điểm, quan điểm… đánh giá ưu điểm, hạn chế, làm rõ
nguyên nhân và đúc kết kinh nghiệm lịch sử, làm rõ giá trị lịch sử, hiện thực
của những nhận xét, kinh nghiệm rút ra.
Đồng thời, các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê…
được kết hợp sử dụng ở các chương nhằm làm rõ quá trình lãnh đạo, chỉ đạo
phát triển kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh trong từng giai đoạn lịch sử.
5. Đóng góp mới của luận án
- Luận án làm rõ được những yếu tố tác động đến việc hoạch định chủ
trương và quá trình chỉ đạo triển khai phát triển kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu từ năm 2000 đến năm 2015
- Luận án khái quát được những chủ trương quan trọng và phục dựng
khá cụ thể quá trình chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trên các lĩnh
vực kinh tế biển do tỉnh đầu tư và quản lý: Hàng hải (chủ yếu là cảng biển);
khai thác nuôi trồng và chế biến thủy, hải sản; du lịch biển và kinh tế hải đảo.
- Đánh giá khách quan các ưu điểm và hạn chế, khiếm khuyết; làm rõ
được một số nguyên nhân khách quan, chủ quan của ưu điểm, hạn chế trong
quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế biển của Đảng bộ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
từ năm 2000 đến 2015. Từ đó, luận án đúc kết những kinh nghiệm, có thể
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
Vấn đề biển và đại dương là vấn đề thời sự của nhân loại, đặc biệt trong
thế kỷ XXI. Do vậy, biển và phát triển kinh tế biển luôn là mối quan tâm hàng
đầu của nhiều quốc gia, tổ chức và cá nhân các nhà khoa học. Khảo cứu những
công trình khoa học liên quan đến đề tài luận án đã được công bố, có thể chia
thành các nhóm:
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về kinh tế biển nói chung
Võ Nguyên Giáp có cuốn Kinh tế biển và khoa học kỹ thuật về biển ở
nước ta [51]. Theo tác giả, trong suốt chiều dài hàng nghìn năm lịch sử, biển đã
đóng vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển, với công cuộc
dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Từ đó, tác giả chỉ rõ nhiệm vụ
khoa học kỹ thuật về biển là phải góp phần xây dựng và phát triển kinh tế - xã
hội vùng biển trong thời gian trước mắt và lâu dài. Ngành khoa học và kỹ thuật
về biển phải ngày càng được chú trọng nhằm góp phần nghiên cứu, ứng dụng,
thúc đẩy kinh tế biển phát triển nhanh chóng, xứng đáng với tiềm năng, lợi thế
của biển Việt Nam.
Công trình Đổi mới và phát triển kinh tế vùng ven biển của Lê Cao Đoàn
[49]. Tác giả nghiên cứu trực tiếp quá trình phát triển vùng kinh tế ven biển dưới
góc độ kinh tế học phát triển ở vùng nước lợ ven biển tỉnh Thái Bình - là nơi
trong lịch sử đã diễn ra nhiều cuộc khai hoang lấn biển nhằm mục đích nuôi
trồng và kinh doanh hải sản. Vì vậy, ngày nay cần phải tiếp tục phát triển nghiên
cứu lĩnh vực khai hoang lấn biển vùng nước lợ để mở rộng diện tích phát triển
lĩnh vực khai thác, nuôi trồng thủy, hải sản với quy mô lớn. Từ đó, tác giả đề
xuất những kiến nghị về chính sách kinh tế - xã hội nhằm biến vùng kinh tế ven
biển thành một vùng kinh doanh phát triển hiệu quả, bền vững.
10
nhận thức của các tầng lớp nhân dân, làm thay đổi quan niệm về biển và vị trí,
vai trò của kinh tế biển.
Cuốn Nền kinh tế các vùng ven biển của Việt Nam của Thế Đạt [47] đã
giới thiệu toàn cảnh môi trường của phức hệ sinh thái - kinh tế các tỉnh vùng ven
biển Việt Nam, từ các tỉnh, thành phố vùng biển phía Đông Bắc như Quảng
Ninh, Hải Phòng, Thái Bình… đến các tỉnh, thành phố vùng biển Nam Bộ như
Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng…
Đặc biệt, tác giả đã khái quát đặc điểm kinh tế gắn liền với biển của các tỉnh,
vùng biển Việt Nam. Tác giả đã vẽ nên một bức tranh khá đầy đủ về tiềm năng
kinh tế biển, về sự phát triển kinh tế gắn liền với phát huy lợi thế về biển của các
tỉnh, thành phố ven biển Việt Nam.
Vũ Văn Phái với công trình Biển và phát triển kinh tế biển Việt Nam: Quá
khứ, hiện tại và tương lai [76]. Cuốn sách đã phác họa hoạt động kinh tế biển
của Việt Nam từ xa xưa đến nay. Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh, từ khi Đảng lãnh
đạo công cuộc đổi mới đất nước, hoạt động kinh tế biển đã có sự khởi sắc đáng
kể đối với các lĩnh vực như: Nghề cá, khai thác khoáng sản biển, giao thông vận
tải và du lịch giải trí trên biển. Các hoạt động kinh tế biển đã góp phần tăng tỷ
trọng của kinh tế biển từ nguồn thu của nhà nước cho đến thu nhập của người lao
động. Đồng thời, một số vấn đề xã hội cũng được giải quyết, như: tăng việc làm,
giảm lao động thất nghiệp,… Tuy nhiên, quá trình này cũng bộc lộ một số vấn
đề về môi trường như: Việc sử dụng các nguồn tài nguyên biển chưa hợp lý dẫn
đến sự suy thoái môi trường tự nhiên của biển và vùng đất ven biển; sự xung đột
giữa các lĩnh vực kinh tế biển với nhau, như: nghề cá - phát triển công nghiệp giao thông vận tải - du lịch… Vì thế, cần phải đánh giá và dự báo những biến
động về các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên… Từ đó, tiến hành xây
dựng quy hoạch chiến lược phát triển chung cho cả nước, các địa phương căn cứ
chiến lược chung để xây dựng quy hoạch hành động riêng cho địa phương,
ngành mình.
trò của biển, đảo trong quá trình dựng nước, và trong xây dựng chủ nghĩa xã
hội hiện nay; những văn bản của quốc tế, của Việt Nam về Luật biển, quá trình
12
ký kết và nội dung các hiệp định phân định biển giữa Việt Nam với các nước
trong khu vực… Đồng thời, tiếp tục cung cấp thêm những tài liệu khẳng định
chủ quyền biển đảo của Việt Nam, đồng thời cũng nêu lên quan điểm nhất quán
của Đảng, Nhà nước trước việc một số nước vi phạm chủ quyền trên biển đảo
của Việt Nam.
Công trình Quy hoạch cảng của Phạm Văn Giáp [52] đã nghiên cứu, đề
xuất quy hoạch cảng đối với các vùng biển trong cả nước, do vai trò, tầm quan
trọng của cảng biển trong phát triển kinh tế biển, vị trí địa lý và những ưu đãi tự
nhiên cho phát triển cảng biển. Từ đó, tác giả cũng nêu lên một số vấn đề cần
quan tâm trong quy hoạch, xây dựng cảng như: lượng cảng biển, tàu thủy và
lượng hàng qua các cảng hiện nay, đồng thời nêu ra các phương pháp dự báo
lượng hàng, quy hoạch bể cảng, luồng vào cảng và quy hoạch lãnh thổ cảng…
Phạm Hoàng Hải với cuốn Những mô hình phát triển kinh tế hải đảo
Việt Nam [53]. Tác giả tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn phát
triển bền vững kinh tế - xã hội dải ven biển, hải đảo và các khu vực trọng điểm,
đồng thời xác lập các tuyến và các mô hình thực tiễn phát triển bền vững kinh
tế - xã hội dải ven biển và hải đảo Việt Nam. Từ đó, tác giả đưa ra một số giải
pháp, định hướng phát triển vùng ven biển, đảo theo hướng bền vững, đảm bảo
vững chắc quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia. Những giải pháp này
đặc biệt có ý nghĩa đối với các đảo ven bờ Tây Nam Bộ.
Phạm Trương Hoàng với bài “Định vị du lịch biển Việt Nam” [54]. Theo
tác giả, Việt Nam là nước khai thác du lịch muộn hơn so với các nước trong khu
vực Đông Nam Á, vì vậy, điều kiện để phát triển du lịch còn nhiều hạn chế. Mặt
khác, tài nguyên du lịch biển Việt Nam rất lớn, nhưng đến nay vẫn chưa tạo lập
được một chỗ đứng, một vị thế rõ ràng đối với khách du lịch, đặc biệt là khách
triển vọng kinh tế biển Việt Nam thời gian tới. Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập
đến những quan điểm, chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế biển và những
giải pháp cơ bản để phát triển kinh tế biển Việt Nam.
14
Luận án tiến sĩ Lịch sử: Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo bảo vệ chủ
quyền biển, đảo Tổ quốc từ năm 2001 đến năm 2011 của Nguyễn Đức Phương
[78]. Luận án đã trình bày và phân tích khá rõ những chủ trương của Đảng về
bảo vệ chủ quyền biển, đảo; tư duy phát triển kinh tế biển và những kinh nghiệm
được rút ra từ quá trình lãnh đạo bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Đảng từ năm
2001 đến năm 2011.
Phạm Nguyên Trường dịch cuốn sách Sức mạnh biển đối với lịch sử thời
kỳ 1660-1783 của Alfred Thayer Mahan [66]. Tác giả cho rằng, các quốc gia
muốn phát triển mạnh thì phải kiểm soát biển, phải giành lấy và giữ được quyền
kiểm soát các tuyến giao thông biển huyết mạch liên quan tới lợi ích và ngoại
thương của quốc gia mình. Muốn thế, phải có lực lượng hải quân và đội thương
thuyền mạnh cùng một mạng lưới các căn cứ địa trên biển. Mahan đã có quá
trình nghiên cứu và nghiên cứu công phu quá trình trở thành cường quốc biển
của nước Anh, Tây Ban Nha… Tác giả đi đến kết luận: Các quốc gia trên sớm
trở thành cường quốc vì đã biết phát huy sức mạnh của biển, biết kiểm soát biển
từ rất sớm, nên đã sớm trở thành cường quốc biển. Sách của Mahan có thể coi là
cuốn cẩm nang cho các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách về biển ở bất cứ
châu lục nào trên thế giới.
Lại Lâm Anh với đề tài luận án Quản lý kinh tế biển: Kinh nghiệm quản
lý và vận dụng vào Việt Nam [3]. Tác giả nghiên cứu các mô hình quản lý kinh
tế biển của một số nước như: Singapore, Malaysia…, từ đó, rút ra những kinh
nghiệm cho việc quản lý kinh tế biển của Việt Nam. Đối với từng lĩnh vực cụ
thể, tác giả đều có các gợi ý chính sách nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia
mạnh về biển. Nội dung và những đề xuất của luận án rất có ý nghĩa đối với
quá chậm, hoặc quá nhanh nhưng thiếu quy hoạch, thiếu đồng bộ dẫn đến phát
triển tràn lan, lãng phí…; công tác quản lý, điều hành còn chồng chéo, thiếu tập
trung,… Qua đó, cho thấy, Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 là một chủ
trương đúng đắn của Đảng, nhằm đưa kinh tế biển vào đúng vị trí, vai trò quan
trọng của nó để Việt Nam thực sự trở thành quốc gia mạnh về biển, có các ngành
Luận án đầy đủ ở file: Luận án full