Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ từ thực tiễn thành phố hồ chí minh - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ THỊ TỨ

THỦ TỤC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VŨ THỊ TỨ

THỦ TỤC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍNH MINH
Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. THÁI THỊ TUYẾT DUNG

HÀ NỘI, năm 2019


1.4.1. Thủ tục xử phạt có lập biên bản .............................................................. 16
1.4.2. Thủ tục xử phạt không lập biên bản ........................................................ 32
Chương 2: THỰC TRẠNG THỦ TỤC XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH .............................................................................................. 35
2.1. Các yếu tố đặc thù của Thành phố Hồ Chí Minh và tình hình vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở Thành phố Hồ Chí Minh ................ 35
2.1.1. Các yếu tố đặc thù của Thành phố Hồ Chí Minh ảnh hưởng đến thủ tục xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ......................... 35


2.1.2. Tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở Thành
phố Hồ Chí Minh ............................................................................................... 39
2.2. Bất cập pháp luật về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Giao
thông đường bộ ...................................................... Error! Bookmark not defined.
2.2.1. Bất cập về cơ sở pháp lý của thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực Giao thông đường bộ ........................................................................... 40
2.2.2. Bất cập về thủ tục dừng phương tiện ....................................................... 43
2.2.3. Bất cập về thủ tục lập biên bản vi phạm hành chính ............................... 45
2.2.4. Bất cập về thủ tục xác minh tình tiết vụ việc ........................................... 46
2.2.5. Bất cập về thủ tục giải trình .................................................................... 47
2.2.6. Bất cập về thủ tục ra quyết định xử phạt và thi hành quyết định xử
phạt .................................................................................................................... 49
2.2.7. Bất cập về thủ tục xử phạt không lập biên bản ....................................... 51
2.3. Thực tiễn thực hiện thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Giao
thông đường bộ tại Thành phố Hồ Chí Minh ........................................................ 55
2.4. Nguyên nhân của sự bất cập pháp luật và thực trạng thực hiện thủ tục xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực Giao thông đường bộ .................................... 52
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN THỦ TỤC XỬ PHẠT
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG

giao thông đường bộ và đường sắt.
Vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường bộ (GTĐB) là loại vi phạm
rất thường xuyên. Nó diễn ra hàng giờ, hàng phút, thậm chí là hàng giây trên bất kì
con đường nào. Nó là nguyên nhân chính của các vụ tai nạn giao thông đường bộ.
Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê, năm 2017, trên địa bàn cả nước đã xảy ra
20.280 vụ tai nạn giao thông, làm 8.279 người chết, 17.040 người bị thương. Trung
bình mỗi năm, tai nạn giao thông còn làm giảm đi khoảng 2,5 – 2,9% GDP. Do đó,
giảm thiểu tai nạn giao thông và tăng cường an toàn giao thông luôn là mối quan tâm
lớn của Nhà nước và xã hội. Một trong những giải pháp hữu hiệu là hoàn thiện các
quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB, trong đó có
chế định thủ tục xử phạt.
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB là loại vi phạm rất phổ biến, loại vi
phạm mà ai cũng có thể mắc phải dù là “vô tình” hay cố ý. Xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực GTĐB là một trong những lĩnh vực có tỉ lệ tham nhũng, tiêu cực
cao. Từ đó kéo theo là các quy định pháp luật về xử phạt loại vi phạm này có tẩm ảnh
hưởng rất rộng, có tác động đến rất nhiều chủ thể trong xã hội, một trong những
1


nguyên nhân là do thủ tục xử phạt chưa phù hợp thực tiễn. Điều đó làm giảm hiệu
quả, hiệu lực quản lý của Nhà nước, tạo tâm lý coi thường pháp luật. Do đó, cần
nghiên cứu và cần hoàn thiện thủ tục xử phạt loại vi phạm này để đảm bảo sự công
bằng, đảm bảo trật tự quản lý nhà nước về GTĐB, góp phần vào công cuộc đấu tranh
phòng chống tham nhũng nói chung.
Với những lý do nêu trên nên tác giả đã chọn đề tài “Thủ tục xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí
Minh” làm luận văn thạc sỹ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm vừa qua đã có nhiều công trình khoa học liên quan đến đề
tài nghiên cứu như:

3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là nhằm làm rõ các vấn đề lý luận và pháp
lý cũng như tìm hiểu những bất cập về pháp luật và những khó khăn, vướng mắc
trong thực tiễn, từ đó đề xuất một số biện pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về thủ tục
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB và tháo gỡ một số vướng mắc.
Nhiệm vụ của nghiên cứu của đề tài này là bám sát các quy định của có liên
quan và tình hình thực tiễn để từ đó có những đề xuất phù hợp có giá trị tham khảo
và ứng dụng trong công công tác quản lý.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh. Như phần trên đã đề cập, thủ
tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB có phạm vi khá rộng nên trong
phạm vi của luận văn này chỉ nghiên cứu các thủ tục được quy định trong Luật Xử lý
vi phạm hành chính 2012 từ giai đoạn phát hiện vi phạm, tiếp nhận vụ việc vi phạm,
xử lý vi phạm đến thi hành quyết định xử phạt trên địa bàn TPHCM từ năm 2013 đến
nay.
5. Cơ sở lý luận Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lê nin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước và pháp luật.

3


Ngoài ra, quá trình nghiên cứu tác giả cũng đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống như phương pháp phân tích, tổng hợp, so
sánh… để thực hiện đề tài.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn này là nguồn tài liệu tham khảo cho bất kì ai quan tâm hay nghiên
cứu các vấn đề có liên quan. Những đề xuất trong luận văn có giá trị tham khảo để

thông đường bộ và đường sắt (sau đây gọi tắt là Nghị định 46/2016/NĐ-CP), quy
định về hành vi vi phạm hành chính; hình thức, mức xử phạt, biện pháp khắc phục
hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền lập biên bản, thẩm
quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức danh đối với hành vi vi phạm
hành chính trong lĩnh vực GTĐB. Và Bộ Giao thông vận tải ban hành ban hành Thông
tư số 06/2016/TT-BGTVT ngày 08 tháng 4 năm 2016 Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia
về báo hiệu đường bộ và Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về báo hiệu đường bộ QCVN
41:2016/BGTVT quy định về hệ thống báo hiệu đường bộ, bao gồm: hiệu lệnh của
người điều khiển giao thông, tín hiệu đèn giao thông, biển báo hiệu, vạch kẻ đường,
cọc tiêu, tường bảo vệ và rào chắn, cột kilômét, cọc H, mốc lộ giới, gương cầu lồi,
dãy phân cách có lan can phòng hộ. Bằng Thông tư 91/2015/TT-BGTVT ngày 31
tháng 12 năm 2015 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an
toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ, Nhà nước

5


quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham
gia GTĐB.
Ngoài ra, liên quan đến GTĐB các cơ quan có thẩm quyền còn ban hành một
số văn bản khác để cùng điều chỉnh về lĩnh vực này như: Nghị định 65/2016/NĐ-CP
ngày 01 tháng 7 năm 2016 của Chính phủ quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ
đào tạo lái xe ô tô và dịch vụ sát hạch lái xe, Thông tư 12/2017/TT-BGTVT ngày 15
tháng 4 năm 2017 của Bộ Giao thông vận tải quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy
phép lái xe cơ giới đường bộ, v.v…
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB là những hành vi của cá nhân, tổ
chức vi phạm quy định của pháp luật trong lĩnh vực GTĐB một cách cố ý hoặc vô ý
mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm
hành chính, bao gồm: các hành vi vi phạm quy tắc GTĐB, các hành vi vi phạm quy
định về kết cấu hạ tầng GTĐB, các hành vi vi phạm quy định về phương tiện tham

pháp lý cho cán bộ, công chức thực hiện các công việc cụ thể để tiến hành hoạt động
hành chính nào đó, đồng thời tránh sự tùy tiện, lạm quyền từ phía các chủ thể có thẩm
quyền. Mặt khác, giúp cho các chủ thể có liên quan biết được quyền và nghĩa vụ của
mình trong hoạt động này là gì và nên làm hay phải làm những gì và có thể biết trước
kết quả sẽ đạt được vào lúc nào trong tương lai. Ngoài ra, với một thủ tục đã được
quy định rõ ràng, cụ thể còn giúp cho các đại biểu dân cử, Nhân dân dễ dàng theo dõi
để thực hiện quyền giám sát của mình.
Cũng giống như các hoạt động hành chính khác, hoạt động xử phạt vi phạm
hành chính cũng phải được tiến hành theo một trình tự nhất định của các bước và phải
được thực hiện theo những cách thức nhất định. Quy trình này gọi là thủ tục xử phạt
vi phạm hành chính. Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính là dạng thủ tục ngăn cấm
hay cưỡng chế thi hành. Đây là loại thủ tục khi cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi
phạm hành chính hay cố tình không thi hành các quyết định hành chính thì các cơ
quan hành chính hoặc cán bộ, công chức có thẩm quyền được thực hiện các biện pháp
ngăn chặn, xử phạt hay cưỡng chế thi hành. Nó được xếp vào loại thủ tục hành chính
liên hệ [21, tr. 18].
Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng
hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện
hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành

7


chính [28, Khoản 2 Điều 2]. Từ đó có thể hiểu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực GTĐB là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp
khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính
trong lĩnh vực GTĐB theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.
Từ những phân tích trên, có thể rút ra khái niệm như sau: Thủ tục xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB là trình tự các bước và cách thức thực hiện
mà người có thẩm quyền xử phạt phải tuân theo để áp dụng hình thức xử phạt, biện

nhưng thực hiện thủ tục này chủ yếu là do Công an nhân dân (với vai trò chính là lực
lượng Cảnh sát giao thông đường bộ) và Thanh tra giao thông vận tải tiến hành. Trước
hết xuất phát từ nguyên nhân GTĐB là lĩnh vực quản lý của họ nên họ là những chủ
thể chủ yếu thực hiện việc xử phạt. Ngoài ra, xuất phát từ yêu cầu là vi phạm hành
chính trong lĩnh vực GTĐB phải được phát hiện và xử lý nhanh chóng để kịp thời giải
quyết số vụ vi phạm rất lớn mỗi ngày. Và để làm được điều đó, các chiến sĩ Cảnh sát
giao thông và Thanh tra viên phải “xuống đường” để thực hiện nhiệm vụ. Và cũng chỉ
có họ mới có quyền dừng phương tiện đang tham gia giao thông để xử lý vi phạm.
Những chủ thể khác không làm được việc này (việc “xuống đường” và việc dừng
phương tiện) nên ít có trường hợp để xử lí.
1.2.3. Nhiều trường hợp được áp dụng thủ tục xử phạt không lập biên bản, do
đó thủ tục xử phạt diễn ra nhanh gọn
Khảo sát qua các Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực thì
thấy rằng trong lĩnh vực GTĐB là có số trường hợp vi phạm có thể áp dụng thủ tục
xử phạt không lập biên bản là nhiều nhất. Thủ tục này được áp dụng trong trường hợp
xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối
với tổ chức. Với 19 Điều, 37 khoản, 147 điểm (khoảng 200 hành vi vi phạm) của
Nghị định 46/2016/NĐ-CP thì trong lĩnh vực GTĐB là có nhiều khả năng áp dụng
thủ tục xử phạt không lập biên bản nhất. Điều này xuất phát từ nguyên nhân là do
trong lĩnh vực này có rất nhiều hành vi vi phạm nhỏ (có mức phạt thấp), tình tiết đơn
giản nên đáp ứng điều kiện để được quy định áp dụng thủ tục xử phạt không lập biên
bản. Sau đây là bảng thống kê số trường hợp có thể áp dụng thủ tục xử phạt không
lập biên bản trong các Nghị định quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh

9


vực (Một điểm được tính là một trường hợp, nếu khoản không chia thành các điểm hoặc
điều không chia thành các khoản thì cũng tính là một trường hợp. Thông thường một điểm
quy định một hành vi vi phạm, đôi khi một điểm có thể quy định vài hành vi vi phạm).

3
4

131/2013/NĐ-CP
28/2017/NĐ-CP
120/2013/NĐ-CP
102/2014/NĐ-CP

Tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng
sản phẩm, hàng hóa

0

Dầu khí, kinh doanh xăng dầu và khí

0

Quyền tác giả, quyền liên quan

0

Quốc phòng, cơ yếu

1

5

79/2015/NĐ-CP

Giáo dục nghề nghiệp

147/2013/NĐ-CP

Hàng không dân dụng

2

10

173/2013/NĐ-CP

Khí tượng thủy văn, đo đạc bản đồ

2

64/2013/NĐ-CP

Hoạt động khoa học và công nghệ,

94/2014/NĐ-CP

chuyển giao công nghệ

11
12
13

127/2013/NĐ-CP
45/2016/NĐ-CP

Hải quan


144/2013/NĐ-CP
103/2013/NĐ-CP
41/2017/NĐ-CP

Bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ,
chăm sóc trẻ em
Thủy sản
Chứng khoán và thị trường chứng

145/2016/NĐ-CP

khoán

18

107/2013/NĐ-CP

Năng lượng nguyên tử

19

134/2013/NĐ-CP

21

79/2013/NĐ-CP
95/2016/NĐ-CP

4


24

96/2014/NĐ-CP

Tiền tệ và ngân hàng

9

25

50/2016/NĐ-CP

Kế hoạch và đầu tư

10

26

102/2014/NĐ-CP

Đất đai

10

27

169/2013/NĐ-CP

Quản lí, bảo vệ biên giới quốc gia

hành tiết kiệm, chống lãng phí; dự trữ 12
quốc gia; kho bạc nhà nước

99/2013/NĐ-CP

Sở hữu công nghiệp

98/2013/NĐ-CP

Kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ

48/2018/NĐ-CP

số

11

14
15


33
34
35

163/2013/NĐ-CP

Hóa chất, phân bón và vật liệu nổ công

155/2016/NĐ-CP


Hoạt động báo chí, xuất bản

23

38

33/2017/NĐ-CP

Tài nguyên nước và khoáng sản

24

39

40

41

42

95/2013/NĐ-CP
88/2015/NĐ-CP
185/2013/NĐ-CP
124/2015/NĐ-CP
174/2013/NĐ-CP
11/2013/NĐ-CP
67/2015/NĐ-CP

Lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người

45

176/2013/NĐ-CP

Y tế

65

An ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng,
46

167/2013/NĐ-CP

chống tệ nạn xã hội; phòng và chữa 71
cháy; phòng, chống bạo lực gia đình

47

46/2016/NĐ-CP

Giao thông đường bộ

12

147


Bảng 1.: Thống kê số trường hợp có thể áp dụng thủ tục xử phạt không lập
biên bản trong các lĩnh vực
Qua bảng thống kê trên thì thấy rằng trong lĩnh vực GTĐB có số trường hợp

tiến trình, tuần tự thực hiện ra sao đều được quy định cụ thể và vì vậy, những người
thi hành công vụ biết họ phải làm gì và làm như thế nào để đi đến đích là hoàn thành
việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB.
Thứ ba, đối với cá nhân, tổ chức vi phạm, thủ tục này cung cấp cho họ những
công cụ pháp lý hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước sự
“buộc tội” và khả năng lạm quyền của chủ thể có thẩm quyền. Thật vậy, hàng loạt
các câu hỏi mà người bị xử phạt có thể đặt ra như sau: tôi có hành vi vi phạm gì,
chứng cứ đâu, tôi được xử phạt theo thủ tục đơn giản hay thông thường, tôi có được
giải trình hay không, tôi có được nộp phạt nhiều lần hay không,… Những câu hỏi ấy
đều được thủ tục này giải đáp. Và căn cứ vào đó, người vi phạm biết họ nên làm hay
phải làm những gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xử phạt.
Ngoài ra, với khả năng lạm quyền từ phía chủ thể có thẩm quyền, tức chủ thể này phá
vỡ quy trình theo hướng gây bất lợi cho người vi phạm thì với những quy định của
thủ tục này, người vi phạm hoàn toàn có thể nhận ra điều đó và từ đó có những biện
pháp thích hợp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
1.4. Pháp luật hiện hành về thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực Giao thông đường bộ
Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB không được quy
định tập trung mà được quy định rải rác ở nhiều văn bản. Đây cũng là đặc điểm đặc
trưng của thủ tục hành chính nói chung và điều này gây không ít khó khăn cho quá
trình áp dụng [21, tr. 13]. Trước hết phải kể đến là Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Đây là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất và cũng là văn bản áp dụng chung cho thủ
tục xử phạt vi phạm hành chính trong mọi lĩnh vực. Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày
19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định
97/2017/NĐ-CP ngày 18 tháng 8 năm 2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số
điều và biện pháp thi hành Luật Xử lý vi phạm hành chính (sau đây gọi tắt là Nghị
định 81/2013/NĐ-CP được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 97/2017/NĐ-CP). Nghị
định 46/2016/NĐ-CP, ngoài những quy định chung của các văn bản nêu trên thì đây
được coi là văn bản trung tâm về những quy định riêng áp dụng trong lĩnh vực GTĐB.


đối với xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB. Đó là thủ tục xử phạt có

15


lập biên bản (hay còn gọi là thủ tục thông thường) và thủ tục xử phạt không lập biên
bản (hay còn gọi là thủ tục đơn giản).
1.4.1. Thủ tục xử phạt có lập biên bản
Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản là loại thủ tục thông
thường với đầy đủ các bước (trừ những bước không bắt buộc hoặc không thuộc trường
hợp phải thực hiện) trong quy trình xử phạt vi phạm hành chính. Việc xử phạt vi phạm
hành chính theo thủ tục này phải được người có thẩm quyền xử phạt lập thành hồ sơ
xử phạt vi phạm hành chính. Hồ sơ bao gồm biên bản vi phạm hành chính, quyết định
xử phạt hành chính, các tài liệu, giấy tờ có liên quan và phải được đánh bút lục. Thủ
tục này được áp dụng trong trường hợp phạt tiền trên 250.000 đồng đối với cá nhân,
trên 500.000 đồng đối với tổ chức; tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe, Giấy phép
thi công, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ, Giấy phép
kinh doanh vận tải, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kĩ thuật và bảo vệ môi trường
và Tem kiểm định của phương tiện, Giấy chứng nhận Trung tâm sát hạch lái xe đủ
điều kiện hoạt động, chứng chỉ Đăng kiểm viên, Giấy chứng nhận hoạt động kiểm
định xe cơ giới; tịch thu thiết bị phát tín hiệu ưu tiên lắp đặt sử dụng trái quy định,
tịch thu phương tiện, tịch thu còi, tịch thu Giấy đăng ký xe, biển số không đúng quy
định, tịch thu Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái
xe bị tẩy xóa, tịch thu phù hiệu (biển hiệu) đã hết giá trị sử dụng hoặc không do cơ
quan có thẩm quyền cấp, tịch thu giấy phép lưu hành đã hết giá trị sử dụng hoặc
không do cơ quan có thẩm quyền cấp, tịch thu biển số, phương tiện sản xuất, lắp ráp
trái phép, tịch thu hồ sơ, các loại giấy tờ, tài liệu giả mạo, tịch thu hóa chất độc hại,
chất dễ cháy, nổ, hàng nguy hiểm, hàng cấm lưu thông mang theo trên xe chở khách;
đình chỉ thi công, đình chỉ tuyển sinh (đối với cơ sở đào tạo lái xe) [ 28, khoản 1 Điều
57, khoản 1 Điều 56, khoản 1 Điều 21][10]. Với quy định tại khoản 1 Điều 57 và khoản

tố tụng hình sự hoặc cơ quan khác chuyển đến. Tiếp nhận tin báo, tố cáo vi phạm là
việc chủ thể có thẩm quyền ghi nhận được vụ việc vi phạm do cá nhân khác báo, cung
cấp. Trường hợp đặc biệt và cũng ít thấy trên thực tế là chủ thể có thẩm quyền tiếp
nhận tin báo là sự “tự thú” của chính người vi phạm. Nhận hồ sơ do cơ quan tiến hành
tố tụng hình sự chuyển đến là việc người có thẩm quyền xử phạt nhận hồ sơ vụ việc
do trong quá trình giải quyết cơ quan tiến hành tố tụng hình sự không khởi tố vụ án
hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định đình chỉ điều

17


tra hoặc quyết định đình chỉ vụ án nếu hành vi có dấu hiệu vi phạm hành chính. Đây
là bước nhất định phải có trong thủ tục xử phạt vi phạm hành chính nói chung vì nó
là bước khởi động của quy trình xử phạt vi phạm hành chính. Nếu không có bước này
thì chẳng có vụ việc vi phạm để làm phát sinh thủ tục xử phạt. Tuy nhiên, trong lĩnh
vực GTĐB thì quy trình xử phạt vi phạm hành chính chủ yếu được khởi động bằng
việc phát hiện vi phạm (ít khi tiếp nhận vụ việc vi phạm). Cảnh sát giao thông trong
lúc đang tuần tra, kiểm soát, Thanh tra giao thông trong lúc đang thanh tra, kiểm tra
thông thường sẽ là người trực tiếp phát hiện vi phạm. Việc phát hiện vi phạm có thể
bằng mắt thường hoặc thông qua phương tiện, thiết bị kĩ thuật nghiệp vụ.
Khoản 1 Điều 64 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định: Cơ quan, người có
thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính được sử dụng phương tiện, thiết bị kĩ thuật
nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ
môi trường. Trong lĩnh vực GTĐB có nhiều hành vi vi phạm hành chính nếu không
được trang bị phương tiện, thiết bị kĩ thuật nghiệp vụ thì khó mà phát hiện ra, ví dụ
như hành vi chạy quá tốc độ, điều khiển xe mà trong hơi thở có nồng độ cồn vượt
mức quy định, xe chở hàng quá tải trọng cho phép,… Các loại phương tiện, thiết bị
kĩ thuật nghiệp vụ bao gồm: cân kiểm tra tải trọng xe cơ giới, máy đo tốc độ có ghi
hình ảnh, phương tiện đo nồng độ cồn trong hơi thở, thiết bị ghi âm và ghi hình, thiết
bị định vị vệ tinh, thiết bị đo, thử chất ma túy, thiết bị ghi đo bức xạ, thiết bị đánh dấu

định. Do vậy, pháp luật quy định khá chặt chẽ về thẩm quyền cũng như điều kiện
dừng phương tiện [ 3, khoản 1 Điều 12]. Sau đây là những chủ thể có quyền dừng
phương tiện.
Thứ nhất là Cảnh sát giao thông đường bộ. Cảnh sát giao thông đường bộ thực
hiện việc tuần tra, kiểm soát để kiểm soát người và phương tiện tham gia GTĐB, xử
lý vi phạm pháp luật về GTĐB đối với người và phương tiện tham gia GTĐB. Và
theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Thông tư 01/2016/TT-BCA thì Cảnh sát giao thông
đường bộ có quyền dừng phương tiện. Tuy nhiên không phải trong mọi trường hợp
Cảnh sát giao thông đường bộ đều được dừng phương tiện mà phải thuộc một trong
các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 12 Thông tư 01/2016/TT-BCA, cụ thể là:
- Trực tiếp phát hiện hoặc thông qua phương tiện, thiết bị kĩ thuật nghiệp vụ
phát hiện, ghi nhận được các hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường bộ;

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status