VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN HIẾU NGHĨA
CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM Ở KHÍA CẠNH PHÁP LUẬT VÀ XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
HÀ NỘI, Năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦNN HIÉU NGHĨA
CÁC TÌNH TIẾT TĂNG NẶNG
TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM Ở KHÍA CẠNH PHÁP LUẬT VÀ XÃ HỘI
Chuyên ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA
3.2. Nâng cao nhận thức của cơ quan áp dụng pháp luật về các tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự .................................................................................................. 65
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 74
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thị trường hiện nay, sự gia
nhập và tiếp nhận một số hình thức văn hóa xã hội của các nước ngoài thì sự gia
tăng và biến đổi của tội phạm cũng ngày càng tăng. Đặc biệt phát sinh và hình thành
thêm nhiều tội phạm mới, đa dạng, phức tạp, tăng tính chất và mức độ nguy hiểm
của tội phạm.
Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự tại Khoản 1 Điều 48. Đồng thời quy định tại khoản 2 là: “Những tình tiết đã
là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng
nặng”. Đến Bộ luật hình sự 2015, cơ bản các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
được giữ nguyên, tuy nhiên đối với một số tình tiết đã được quy định rõ và cụ thể
hơn, phù hợp hơn trong quá trình áp dụng để xác định tính chất và mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Tuy nhiên, Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 vừa chính thức có hiệu lực
ngày 01/01/2018 quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 52 có
một số tình tiết gây hiểu sai trong cách áp dụng, đòi hỏi cần phải có hướng dẫn áp
dụng thống nhất.
Quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có những ý nghĩa nhất định về
mặt pháp lý và xã hội. Đó là cơ sở pháp lý để cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc
áp dụng pháp luật, đồng thời là một trong những dấu hiệu thể hiện sự công bằng khi
xử lý tội phạm, thể hiện tính răn đe, giáo dục cao đối với những cá nhân, pháp nhân
phạm tội có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, thể hiện tính phòng ngừa tội
phạm.
Thùy Trang (2015); Luận văn thạc sĩ của Thạc sĩ Đức Hồng Hà (1991) về Áp dụng
tình tiết định tội, tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng - giảm nhẹ trong luật hình
sự Việt Nam; Luận văn thạc sĩ của Thạc sĩ Trần Mạnh Toàn (2011) về Các tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội; Luận văn
thạc sĩ của Thạc sĩ Bùi Văn Lam (2002) về Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
trong Luật hình sự Việt Nam; Luận văn thạc sĩ của Thạc sĩ Phan Hồng Thúy (2010)
về Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam - một số
6
vấn đề lý luận và thực tiễn; Luận văn thạc sĩ của Thạc sĩ Nguyễn Thị Phương về
Phạm tội vì động cơ đê hèn với tư cách là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự trong Luật hình sự Việt Nam; Thạc sĩ Lê Văn Luật (2007) về Bàn về tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội đối với trẻ em”.
Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (2018), Trường Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất
bản Công an nhân dân.
Những công trình này nghiên cứu chủ yếu tiếp cận dưới góc độ tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự theo nghĩa hẹp, chủ yếu theo khía cạnh pháp luật, chứ chưa có
nghiên cứu nào về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cả về khía cạnh pháp luật
và xã hội. Tuy nhiên, các bài viết này thực sự là những tài liệu có giá trị tham khảo
lớn đối với luận văn tốt nghiệp mà bản thân đang nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận văn là thông qua việc làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và pháp
lý về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự dựa trên hai khía cạnh, đó là khía cạnh
pháp luật và khía cạnh xã hội. Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra những đề xuất hoàn
thiện về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trên hai khía cạnh pháp luật và
khía cạnh xã hội, nhất là các quy định chưa rõ ràng, các tình tiết liên quan cần được
bổ sung hoặc việc hướng dẫn áp dụng chưa cụ thể, rõ ràng và thuyết phục.
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ nghiên
6. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận về tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự, giúp cho các nhà nghiên cứu có góc nhìn toàn diện
hơn, đầy đủ hơn về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và việc áp dụng quy định
về các tình tiết này ở khía cạnh pháp luật và xã hội. Luận văn cũng bổ sung nguồn
tài liệu tham khảo, giảng dạy, trao đổi kinh nghiệm, nghiên cứu các vấn đề có liên
quan đến tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và thực tiễn áp dụng quy định này.
Kết quả nghiên cứu của luận văn giúp các nhà quản lý, hoạch định chính sách, xây
dựng pháp luật có cách tiếp cận đầy đủ về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
quy định trong pháp Luật hình sự. Từ đó, có thể hoàn thiện pháp luật, đưa ra và thực
hiện các giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự trong giải quyết các vụ án hình sự. Ngoài ra, còn giúp các cán bộ làm công
tác thực tiễn nhất là Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân hiểu thấu đáo và vận dụng
8
chính xác các quy định của pháp luật hiện hành về các tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự 2015.
7.
Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo thì luận văn có bố cục
gồm 3 Chương:
Chương 1: Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: khía cạnh pháp luật.
Chương 2: Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: khía cạnh xã hội.
Chương 3: Các giải pháp tăng cường khía cạnh pháp luật và xã hội của các tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự.
sự với tính chất là tình tiết tăng nặng chung và là một trong những căn cứ để Tòa án
10
quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo hướng nghiêm khắc hơn trong
phạm vi một khung hình phạt nếu trong vụ án hình sự có tình tiết này.
Từ khái niệm trên có thể rút ra được các đặc điểm của tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự bao gồm:
Thứ nhất, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phải là các tình tiết được quy định
cụ thể trong Bộ luật hình sự. Ngoài Bộ luật hình sự, không có văn bản pháp lý nào
được quy định về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà chỉ có văn bản hướng
dẫn việc áp dụng và Tòa án cũng không được quyền quyết định một tình tiết ngoài
các tình tiết được quy định trong Bộ luật hình sự là tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự.
Thứ hai, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là một trong những căn cứ quan
trọng để Tòa án xem xét quyết định hình phạt đối với cá nhân, pháp nhân phạm tội
nếu trong vụ án xuất hiện tình tiết này. Còn nếu tình tiết tăng nặng xuất hiện nhưng
không liên quan đến vụ án thì Tòa án sẽ không xem xét.
Thứ ba, trong một vụ án cụ thể và đối với người phạm tội cụ thể thì tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự chỉ làm cho tội phạm thay đổi mức độ nguy hiểm theo
hướng nghiêm trọng hơn.
Thứ tư, khi tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được luật quy định là tình tiết
định khung làm thay đổi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và là căn cứ cho
phép Tòa án tăng mức hình phạt đối với người phạm tội chuyển sang khung hình
phạt khác nặng hơn thì Tòa án không được sử dụng tình tiết đó với tính chất là tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung khi quyết định hình phạt. Vì như vậy là
trái với mục đích và nguyên tắc của Bộ luật hình sự.
Thứ năm, khi tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được luật quy định là tình tiết
định tội thì nghĩa là tình tiết tăng nặng này đã làm thay đổi tính chất nguy hiểm của
số cấu thành tội phạm cụ thể quy định rõ về chủ thể của tội phạm ngoài hai điều
kiện về tuổi và năng lực trách nhiệm hình sự còn phải thoả mãn thêm các dấu hiệu
như: Có chức vụ, giới tính, nghề nghiệp, quan hệ gia đình… Những chủ thể này gọi
là chủ thể đặc biệt của tội phạm. Dấu hiệu chủ thể đặc biệt có thể quy định là dấu
hiệu định tội, dấu hiệu định khung hoặc dấu hiệu tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tuy nhiên, chủ thể đặc biệt với tư cách là một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình
sự chỉ được áp dụng đối với người có chức vụ, quyền hạn.
-
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc về mặt khách quan của tội
phạm. Khách quan của tội phạm bao gồm hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả
nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả, công cụ, phương tiện,
phương pháp, thủ đoạn phạm tội, thời gian và hoàn cảnh phạm tội. Những dấu hiệu
này đều có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của người thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội ở nhiều mức độ khác nhau. Trong các dấu hiệu trên thì dấu hiệu
12
hành vi nguy hiểm được quy định trong tất cả các cấu thành tội phạm với ý nghĩa là
dấu hiệu định tội. Hậu quả nguy hiểm cho xã hội không phải là dấu hiệu có tính chất
bắt buộc trong tất cả các cấu thành tội phạm cụ thể, nhưng trong nhiều trường hợp
việc xác định hậu quả lại đóng vai trò quyết định.
-
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc về mặt chủ quan của tội phạm.
Mặt chủ quan của tội phạm là hoạt động tâm lý bên trong của người phạm tội bao
gồm lỗi, động cơ, mục đích phạm tội. Trong đó lỗi được phản ánh trong tất cả các
Nam, quy định những nguyên tắc, nội dung tổng quát nhất làm cơ sở cho việc xây
dựng các Bộ luật, đạo Luật trong mọi lĩnh vực như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự,
Luật thương mại, Luật đất đai… Bộ luật hình sự 2015 nói chung, quy định các tình
tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nói riêng cũng được các nhà làm luật nghiên cứu
xây dựng dựa trên nội dung của Hiến pháp, không được trái với nguyên tắc, nội
dung của Hiến pháp.
Thứ hai, căn cứ một số Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Pháp luật Việt
Nam nói chung, Bộ luật hình sự Việt Nam nói riêng, khi được nghiên cứu xây dựng
đều phải cân nhắc, xem xét đến các Điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia là
thành viên. Đối với trường hợp người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại
giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được
giải quyết theo quy định của Điều ước quốc tế; Trường hợp Điều ước quốc tế đó
không quy định thì được giải quyết bằng con đường ngoại giao, do đó.
Thứ ba, quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Bộ luật hình sự
2015 còn được xây dựng mang tính kế thừa từ các Văn bản pháp luật được ban hành
trước đó như “Pháp lệnh trừng trị các tội phản Cách Mạng” (ngày 30/10/1967), sau
đó đến “Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản XHCN”, “Pháp lệnh trừng trị
các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân” (ngày 21/10/1970); Bản tổng kết thực
tiễn vận dụng các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ kèm theo Công văn số 38/NCPL
ngày 16/01/1976 của Tòa án nhân dân tối cao (năm 1976); Bộ luật hình sự năm
1985; Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi), bổ sung năm 2009 và nay là Bộ luật hình
sự 2015 [30, tr.12-14].
Bộ luật Hình sự năm 2015 đã kế thừa, hoàn thiện, bổ sung những điểm mới về các
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phù hợp với yêu cầu của thực tiễn để đảm
14
15
vật chất, tinh thần, công tác hoặc các mặt khác; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh,
tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã
hội để phạm tội; Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, tàn ác để phạm tội; Dùng thủ
đoạn, phương tiện có khả năng gây nguy hại cho nhiều người để phạm tội; Xúi giục
người dưới 18 tuổi phạm tội; Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn
tránh hoặc che giấu tội phạm.Và các tình tiết đã được Bộ luật hình sự quy định là
dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng
nặng.
Đặc biệt, lần đầu tiên Bộ luật hình sự 2015 quy định chủ thể của tội phạm ngoài cá
nhân còn có pháp nhân phạm tội, và dành hẳn một chương để quy định truy cứu
trách nhiệm hình sự, xử lý hình sự đối với pháp nhân phạm tội. Trong đó có quy
định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân tại Điều 85 như
sau:
Đối với pháp nhân thương mại thì chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng
trách tnhiệm hình sự: Cấu kết với pháp nhân thương mại khác để phạm tội; Cố ý
thực hiện tội phạm đến cùng; Phạm tội 02 lần trở lên; Tái phạm hoặc tái phạm nguy
hiểm; Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc
những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội; Dùng thủ đoạn tinh vi để
phạm tội hoặc nhằm trốn tránh, che giấu tội phạm.
Và cũng như đối với cá nhân phạm tội, các tình tiết đã được Bộ luật hình sự quy
định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt đối với pháp nhân thì không
được coi là tình tiết tăng nặng.
Như vậy, cơ sở pháp lý để xây dựng quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự năm 2015 trước hết chính là Hiến pháp 2013 quy định về những nguyên tắc
chung, thẩm quyền của Quốc Hội, cơ quan lập hiến, lập pháp. Trên cơ sở Hiến
pháp, một số Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên và kế thừa các quy định
pháp luật về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự trong các văn bản pháp lý được
chung, mối liên hệ chặt chẽ hữu cơ giữa chúng để có thể đưa ra quyết định hình
phạt chính xác, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Đây cũng là một trong
những ý nghĩa pháp lý quan trọng của quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm
hình sự mà các nhà làm luật xây dựng trong Bộ luật hình sự.
17
Đối với một vụ án hình sự cụ thể, chỉ sau khi xác định được tình tiết định tội mới
xác định được tình tiết định khung và tình tiết định khung có tác dụng là căn cứ để
đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội một cách cụ thể, rõ ràng hơn. Khi
đã xác định được tội danh và khung hình phạt cụ thể thì mới có cơ sở xem xét các
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự chung (và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự), đây là bước cụ thể hóa tiếp theo để đánh giá mức độ nguy hiểm hành vi
phạm tội, giúp Tòa án đưa ra được một biện pháp xử lý đúng.
1.4. Quy định của pháp luật hình sự về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay quy định về các tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự đối với cá nhân phạm tội tại Điều 52 Bộ luật hình sự 2015.
Muốn xác định đúng và chính xác các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khi
chứng minh tội phạm và để có căn cứ quyết định hình phạt thì phải nắm rõ và hiểu
được đặc điểm, tính chất của từng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội có tổ chức
Phạm tội có tổ chức là trường hợp có từ hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một
tội phạm, các đối tượng này có sự cấu kết chặt chẽ với. Theo Nghị quyết 02HĐTP/NQ ngày 16/11/1988 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, sự
câu kết này có thể thể hiện dưới các dạng sau đây:
a) Những người đồng phạm đã tham gia một tổ chức phạm tội như: Đảng phái, hội,
đoàn phản động, băng, ổ trộm, cướp… Có những tên chỉ huy, cầm đầu. Tuy nhiên,
cũng có khi tổ chức phạm tội không có những tên chỉ huy, cầm đầu mà chỉ là sự tập
hợp những tên chuyên phạm tội đã thống nhất cùng nhau hoạt động phạm tội. Ví
dụ: Sau khi đã hết hạn tù, một số tên chuyên trộm cắp đã tập hợp nhau lại và thống
hoạch che giấu tội phạm; Rủ rê, lôi kéo người khác cùng thực hiện tội phạm; Phân
công trách nhiệm cho những đồng phạm khác để thống nhất thực hiện tội phạm;
Điều khiển, chỉ huy hành động của những đồng phạm khác; Đôn đốc, thúc đẩy
người đồng phạm khác thực hiện tội phạm [26].
Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Trực tiếp thực hiện tội phạm
là trực tiếp có hành vi thuộc khách quan của cấu thành tội phạm như: Trực tiếp cầm
dao chém nạn nhân, cầm súng bắn nạn nhân, trực tiếp chiếm đoạt tài sản, trực tiếp
nhận hối lộ. Người thực hành là người có vai trò quyết định việc thực hiện tội
19
phạm. Nếu không có người thực hành thì tội phạm chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị
phạm tội, mục đích tội phạm không được thực hiện, hậu quả vật chất của tội phạm
chưa xảy ra và trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm khác sẽ được
xem xét theo quy định khác của Bộ luật hình sự. Trách nhiệm hình sự của những
người đồng phạm khác phụ thuộc rất lớn vào hành vi của người thực hành.
Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.
Người xúi giục chỉ chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội có tổ chức
khi hành vi xúi giục có liên quan trực tiếp đến toàn bộ hoạt động tội phạm của
những người đồng phạm khác và người thực hiện tội phạm trước khi bị xúi giục
chưa có ý định tội phạm nhưng vì có người xúi giục nên họ mới nảy sinh ý định tội
phạm. Tuy nhiên, không phải trường hợp thực hiện hành vi kích động, dụ dỗ nào
cũng là người xúi giục. Nếu việc xúi giục không liên quan trực tiếp đến hoạt động
tội phạm của những người đồng phạm khác và người thực hiện tội phạm đã có sẵn ý
định tội phạm, thì đó không phải là người xúi giục trong vụ án có đồng phạm có
tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội có tổ chức. Ví dụ: Như A đi nhậu ở
nhà bạn về thấy có hai nhóm thanh niên đang đuổi đánh nhau, mặc dù không biết họ
là ai nhưng thấy có đánh nhau, A liền hô hào “Đánh chết chúng nó đi”. Hậu quả là
hai nhóm thanh niên đánh nhau dẫn đến một người trong đó bị thương tích nặng
Hướng dẫn cung cấp cho người phạm tội những thông tin nhằm tạo sự thuận lợi, dễ
dàng để thực hiện hành vi phạm tội như nói cho người phạm tội biết chủ nhà thường
vắng nhà vào giờ nào để đến trộm cắp, thói quen sinh hoạt của các bị hại... Tạo điều
kiện vật chất cho việc thực hiện tội phạm là việc thực hiện hành vi cung cấp phương
tiện tội phạm như dao, xe máy, xe ô tô... Để người phạm tội thực hiện tội phạm.
Tuy nhiên, dù là hành vi tạo điều kiện tinh thần hay vật chất cho việc thực hiện tội
phạm thì đó cũng chỉ là nhằm giúp người thực hiện tội phạm dễ dàng hơn trong việc
thực hiện tội phạm chứ không trực tiếp thực hiện. Do đó, hành vi của người giúp
sức trong vụ án đồng phạm có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội có tổ
chức không phải là hành vi đóng vai trò chủ chốt.
Đối với một số tội phạm như tổ chức đánh bạc, tổ chức đua xe trái phép… Thì “tổ
chức” quy định trong các tội phạm cụ thể nêu ở trên là hành vi phạm tội. Tình tiết
tăng nặng phạm tội có tổ chức, nhất thiết phải có từ hai người trở lên, là một hình
thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ, có sự phân công trách nhiệm... Còn tổ chức
21
đánh bạc, tổ chức đua xe trái phép... Có thể chỉ có một người cũng có thể thực hiện
được hành vi tổ chức để phạm tội. Như vậy, hành vi tổ chức trong các tội phạm này
không coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự do đó tình tiết tăng nặng trách
nhiệm hình sự “phạm tội có tổ chức” vẫn có thể áp dụng đối với các tội này nếu có
đủ dấu hiệu về tình tiết “phạm tội có tổ chức”.
Và khi xem xét quyết định hình phạt đối với trường hợp phạm tội có tình tiết tăng
nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội có tổ chức” thì cần phải chú ý là: Với vai trò
nào thì tất cả những người phạm tội trong vụ án đều bị áp dụng tình tiết tăng nặng
trách nhiệm hình sự là "phạm tội có tổ chức". Mức độ tăng nặng nhiều hay ít của
từng người tuỳ thuộc vào vai trò của họ trong vụ án. Đối với vụ án có nhiều bị can
và bị kết án về nhiều tội khác nhau thì cần phân biệt trường hợp nào là phạm tội có
tổ chức, trường hợp nào không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức và bị cáo nào
nguồn thu nhập chính hoặc chủ yếu, chứ không cần yếu tố người đó lấy việc phạm
tội là nghề sống chính. Hoặc chúng ta chỉ cần xác định được người đó phạm tội vì
vụ lợi, làm giàu bất chính và lấy việc phạm tội làm nghề sống chính là đủ mà không
cần phải chứng minh thêm yếu tố người đó lấy kết quả của việc phạm tội làm nguồn
thu nhập chính hoặc chủ yếu. Giải quyết vấn đề này vừa có căn cứ khoa học đồng
thời cũng không gây khó khăn lớn cho các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án trong
việc xác định tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, bảo đảm việc đấu tranh
chống tội phạm này.
Về thời hiệu thực hiện tội phạm, thì không phân biệt các lần phạm tội đó về cùng
một tội phạm (hoặc một số tội phạm) đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị
truy cứu trách nhiệm hình sự nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự
hoặc chưa được xóa án tích.
Về nhân thân người phạm tội, người bị áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất
chuyên nghiệp có nhân thân rất xấu, thể hiện tính chống đối xã hội cao. Người có
nhân thân xấu theo pháp luật hình sự Việt Nam về nguyên tắc chung là người có
tiền án, tiền sự (hoặc cả tiền án, tiền sự).
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội.
23
Lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội là việc người có chức vụ đã lợi dụng vị trí
công tác, lợi dụng quyền hạn trong khi thực hiện công vụ để phạm tội.
Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình
thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công
vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ. Chức vụ,
quyền hạn là điều kiện thuận lợi để người phạm tội thực hiện tội phạm một cách dễ
dàng [11].
Lợi dụng chức vụ quyền hạn để phạm tội được quy định trong một số loại tội phạm
cụ thể, có tính chất đặc thù, đặc biệt là nhóm tội phạm tham nhũng, chức vụ. Đây là
dụng với con người có bản chất côn đồ là kẻ luôn coi thường pháp luật, thích gây
gổ, hành hung xâm phạm tính mạng, danh dự, sức khỏe người khác. Còn đối với
người “phạm tội có tính chất côn đồ” được pháp Luật hình sự quy định là tình tiết
tăng nặng trách nhiệm hình sự, là tình tiết được xem xét khi quyết định hình phạt thì
không áp dụng điểm c khoản 1 Điều 3 Bộ luật hình sự 2015. Đây là điểm thể hiện
sự nghiêm minh của pháp luật nhưng vẫn bảo đảm tính nhân đạo, khoan hồng của
pháp luật hình sự Việt Nam.
Hiện nay, kể từ khi Bộ luật hình sự 2015 có hiệu lực pháp luật thì vẫn chưa có Văn
bản nào hướng dẫn về việc áp dụng tình tiết “Phạm tội có tính chất côn đồ” quy
định trong Bộ luật hình sự 2015. Do đó, để vận dụng đúng và khách quan đối với
tình tiết này đòi hỏi cần phải đánh giá dựa trên nhiều yếu tố, như nguyên nhân, điều
kiện dẫn đến hành vi phạm tội; Thời gian, địa điểm, không gian tội phạm được thực
hiện; Nhân thân người phạm tội… Để từ đó đánh giá ý thức thực hiện hành vi phạm
tội của họ là có coi thường pháp luật hay không, có thách thức pháp luật hay không
và ở mức độ nào? Động cơ, mục đích, công cụ, phương tiện, thủ đoạn phạm tội là
gì? Tương quan lực lượng, hậu quả pháp lý mà tội phạm gây ra. Như vậy, việc áp
dụng tình tiết “phạm tội có tính chất côn đồ” mới được đúng đắn, đạt được hiệu quả
trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Phạm tội vì động cơ đê hèn
Phạm tội vì động cơ đê hèn là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, quyền tự do của công dân, do người có năng
lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện dưới hình thức
25