Vai trò người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự từ thực tiễn thành phố hồ chí minh - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ HỒNG SINH

VAI TRÒ NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA
VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ


HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ HỒNG SINH

VAI TRÒ NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA
VỤ ÁN HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành : Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS. VÕ KHÁNH VINH


HÀ NỘI, năm 2019

Minh trong bốn năm ( 2015-2018). .....................................................................31
2.3. Thực trạng tác động đến việc thực hiện quy định của pháp luật Tố tụng hình
sự về vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự tại thành


phố Hồ Chí Minh .................................................................................................42
2.4. Vai trò của người bào chữa là luật sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
của một số nước trên thế giới ...............................................................................51
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM VAI TRÒ CỦA NGƯỜI BÀO
CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ...........................59
3.1. Hoàn thiện quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của
người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự........................................59
3.2. Hoàn thiện tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về
địa vị pháp lý của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ..........67
3.3. Các giải pháp khác ........................................................................................68
KẾT LUẬN ............................................................................................................72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS

: Bộ luật hình sự

BLTTHS

: Bộ luật tố tụng hình sự

CQĐT


VAHS

: Vụ án hình sự

VKS

: Viện kiểm sát


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng số liệu về số lượng luật sư và tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn
cả nước trong bốn năm ( 2015 - 2018 ).
Kết quả khảo sát hoạt động bào chữa của luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành
phố Hồ Chí Minh trong bốn năm ( 2015 - 2018 ).


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ quyền con người luôn là nhiệm vụ quan trong của nhà nước Xã hội
Chủ nghĩa ở nước ta, ngày nay nhiệm vụ này càng quan trọng hơn bao giờ,trong
bối cảnh lịch sử Việt nam đang tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập sâu rộng
cùng bạn bè trong khu vực và trên thế giới. Song song với nhiệm vụ phát triển
kinh tế Đảng và Nhà nước ta chú trọng xây dựng một nhà nước pháp quyền ” của
dân, do dân, vì dân”, xây dựng hệ thống pháp luật nhằm đảm bảo cho việc phát
triển các quyền tự do, dân chủ của công dân. Quyền bào chữa của người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo là quyền cơ bản quan trọng của công dân khi tham gia vào quá
trình tố tụng. Đảm bảo quyền bào chữa luôn là nguyên tắc Hiến định được thể chế
hoá từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013. Đặc biệt trong giai đoạn

công dân, bảo đảm sự cân bằng, minh bạch và lành mạnh giữa các lợi ích trong
mối quan hệ giữa Nhà nước với con người, công dân, cá nhân và phù hợp với các
công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.
Tố tụng hình sự nhằm giải quyết vụ án hình sự mà mục tiêu là đấu tranh
phòng và chống tội phạm. Trong hoạt động ấy đã hình thành một bên nhân danh
nhà nước, gồm có: Cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan có thẩm quyền tiến hành
tố tụng. Theo đó, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng gồm cơ quan tiến hành
2


tố tụng và cơ quan có chức năng, nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
Cơ quan tiến hành tố tụng là: Cơ quan điều tra; Viện kiểm sát; Tòa án. Như
vậy, phạm vi chủ thể của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bao hàm cả cơ
quan tiến hành tố tụng trong đó.
Một bên thực hiện việc buộc tội đối với bị can, bị cáo còn bên kia thực hiện
chức năng gỡ tội (gọi chung là người bào chữa bao gồm: Luật sư, BCVND,
TGVPL ...). Trong hoạt động tố tụng, đều có chung một mục đích là làm rõ sự thật
của vụ án, chính xác, khách quan, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi
hành vi phạm tội, đảm bảo xét xử đúng người đúng tội, không để lọt tội phạm,
không làm oan người vô tội.
Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 và Nghị
quyết số 49/NQ-TW ngày 2-6-2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
Hoạt động bào chữa, vai trò của người bào chữa là không thể thiếu và cần phải
được phát huy có hiệu quả. Việc nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn để làm sáng tỏ
các hoạt động trong quá trình tố tụng hình sự, thông qua vai trò của người bào
chữa trong giai đoạn điều tra VAHS là cần thiết và cấp bách.
Vì lý do đó tác giả chọn đề tài: “Vai trò của người của người bào chữa
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự từ thực tiễn thanh phố Hồ Chí
Minh“ để làm luận văn Thạc sĩ của tác giả .
2. Tình hình nghiên cứu :



Từ những nội dung trên tìm hiểu về vai trò của người bào chữa trong giai
đoạn điều tra VAHS trong thực tiễn áp dụng theo luật định hiện hành,trên cơ sở
kết quả nghiên cứu và những đánh giá về thực trạng tranh hiện nay, luận văn đề
xuất một số giải pháp về vai trò của người bào chữa nhằm nâng cao hiệu quả vai
trò người bào chữa trong giai đoạn điều tra VAHS ở nước ta trước yêu cầu cải
cách tư pháp.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu tập trung ở đề tài ” Vai trò của người của người bào
chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự”theo quy định của Bộ luật tố tụng
hình sự năm 2015 ( BLTTHS ) và Thông tư 70/2011/TT/BCA ngày 10 tháng 10
năm 2011 của Bộ trưởng Bộ công an quy định chi tiết thi hành các quy định của
Bộ luật tố tụng hình sự liên quan đến việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự và một số van bản Quy phạm pháp luật khác.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu, phân tích làm rõ nguyên tắc bảo đảm quyền bào
chữa trong giai đoạn điều tra, các biện pháp bảo đảm quyền bào chữa trong giai
đoạn điều tra. Một số tồn tại, hạn chế trong thực tiễn bảo đảm quyền bào chữa đến
từ phía cơ quan điều tra, người bào chữa, người bị tạm giữ, bị can. Nguyên nhân
và giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự.
Để cho hoạt động của người bào chữa có hiệu quả thì nhiều vấn đề cả về
5


pháp lý, lý luận và thực tiễn cần phải được làm rõ,đó là vấn đề lớn.Trong phạm vi
của một luận văn thạc sĩ không thể xem xét và giải quyết hết mọi vấn đề mà chỉ
dừng lại nghiên cứu một vấn đề: “Vai trò của người của người bào chữa trong

nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình điều tra vụ án, bảo đảm bất cứ hành vi
phạm tội nào xâm phạm đến quyền con người đều phải được phát hiện, xử lý
trước pháp luật và các hoạt động điều tra. Vai trò của người bào chữa rất cần thiết,
để đảm bảo các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người bị bắt, bị tạm giữ, bị can
được tuân thủ đúng quy định của pháp luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục các chữ viết tắt, bảng biểu, kết luận và danh
mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và lịch sử pháp luật về vai trò người bào
chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Chương 2: Thực trạng vai trò của người bào chữa trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Các giải pháp bảo đảm vai trò của người bào chữa là Luật sư
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
7


8


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ
NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm người bào chữa
1.1.1. Khái niệm người bào chữa
Vấn đề định nghĩa người bào chữa: xung quanh khái niệm này có nhiều ý
kiến khác nhau, cho rằng “Người bào chữa là người tham gia tố tụng để giúp đỡ
tòa án” hay“Người bào chữa là người giúp đỡ tòa án trong việc xác định các tình
tiết cần thiết về vụ án để cuối cùng tòa án ra một bản án có căn cứ pháp luật”,
thậm chí có quan điểm còn cho rằng. Người bào chữa tham gia tố tụng là nhằm để

của luật sư trong xã hội, trong hệ thống chính trị và trong hoạt động nghề nghiệp.
Điều 3 của Luật luật sư (sửa đổi năm 2012) quy định như sau : “Hoạt động nghề
nghiệp của luật sư góp phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công
dân... Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ,
công bằng, văn minh”.
Luật sư là một nghề tự do được xã hội tôn trọng,hoạt động độc lập, chịu
trách nhiệm cá nhân. Uy tín và thương hiệu của mỗi luật sư là cơ sở quan trọng
nhất để luật sư phát triển nghề nghiệp và đóng góp cho xã hội. Nó gắn liều uy tín
10


và danh dự nghề nghiệp. Luật sư là một nghề dịch vụ có tính đặc thù vì có liên
quan đến quyền và lợi ích của khách hàng và pháp luật của Nhà nước - các cơ
quan THTT, các cơ quan nhà nước khác. Vì vậy luật sư một mặt phải bảo vệ
quyền lợi tốt nhất cho khách hàng, mặt khác phải ứng xử và phối hợp với các cơ
quan nhà nước để cùng nhau góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế. Nghề luật
sư va chạm với nhiều mặt trái xã hội, những vấn đề kinh tế và thể chế xã hội. Luật
luật sư: “ Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn,điều kiện hành nghề theo quy định của
Luật ��m quyền tố tụng thu thập chứng cứ của người bào
chũa trong giai đoạn điều tra.
Điều 73 đã mở rộng quyền của người bào chữa quy định quyền như: Điểm h
khoản 1 “Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu”; Điểm i khoản 1
“Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu
cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá”; Điểm k khoản 1 “Đề
nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ”. Quyền thu thập,
đưa ra chứng cứ: Pháp luật TTHS quy định chứng cứ theo điều 86, 87 phải thỏa mãn
dấu hiệu quy định tại điều 88 BLTTHS 2015.
Việc thu thập chứng cứ phải tuân thủ quy định tại khoản 1 – chứng cứ và khoản
2 – nguồn chứng cứ. Tuy nhiên, thực tế không dễ gì khi người bào chữa tự mình thu
thập chứng cứ, tài liệu vì quan điểm “quyền” giữa cơ quan, người có thẩm quyền

điều 109 BLTTHS 2015 để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ
63


NBBT sẽ gây khó khăn cho việc điều tra... Việc người bị tạm giữ, bị can để tạm
giam theo quy định tại Điều 113 BLTTHS 2015 phải thông qua nhiều thủ tục chặt
chẽ theo quy định của pháp luật TTHS.

Đặc biệt lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi
hành, do đó trong giai đoạn điều tra VAHS, khi người bào chữa đặt ra đề nghị thay
đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn từ biện pháp tạm giam sang biện pháp khác phải có
đầy đủ căn cứ theo quy định tại điều 125 BLTTHS 2015.
Căn cứ này phải bảo đảm tính xác thực và tính có căn cứ. Thực trạng, trong
quá trình thực hiện từ giai đoạn điều tra, theo tác giả kết quả đạt được chưa đến 1%
trên tổng số các VAHS mà người bào chữa tham gia trong một năm.
Về quyền đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác được
quy định tại điểm g khoản 1 điều 73 BLTTHS 2015: Thực trạng khi thực hiện quyền
đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác trong giai đoạn điều
tra, CQĐT hiếm khi chấp nhận đề nghị. Vì cho rằng BLTTHS năm 2003 không quy
định quyền này, đồng thời CQĐT không muốn luật sư cản trở hoạt động điều tra của
họ. Do đó, luật sư cần chủ động thuyết phục ĐTV theo hướng triệu tập những người
này chỉ để làm rõ lời khai (đối với người làm chứng quy định tại Điều 66 BLTTHS
2015, người chứng kiến quy định tại Điều 67 BLTTHS 2015) hoặc nghe họ giải
thích về kiến thức chuyên môn về lĩnh vực của họ (người giám định quy định tại
Điều 68 BLTTHS 2015, người định giá tài sản Điều 69 BLTTHS 2015).Bên cạnh đó
chưa kể người làm chứng lại là bị can đang bị tạm giam tại cơ sở giam giữ, thủ tục
64


tiếp xúc cũng rất khó khăn khi luật sư phải giải trình với cơ quan tiến hành tố tụng

vướng quy định trên.
Vì không quy định thẩm quyền cấp văn bản thông báo người bào chữa mà chỉ
quy định nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của điều tra viên như “Yêu cầu
hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa” hoặc quy định chung chung“…cơ
quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm tra giấy tờ …thì vào sổ đăng
ký bào chữa …gửi ngay văn bản thông báo người bào chữa cho người đăng
ký bào chữa...”. Cần ban hành các văn bản dưới luật theo hướng đơn giản hóa và
tạo thuận lợi thủ tục đăng ký bào chữa khi NBBT đang bị tạm giam trong giai
đoạn điều tra về giấy tờ xác định quan hệ về mối quan hệ của người đại diện của
NBBT với NBBT ... Đây chính là sự thể hiện rõ nhất việc thực hiện cải cách tư
pháp, tạo thuận lợi cho NBBT thực hiện quyền bào chữa của mình. Mặt khác
BLTTHS năm 2015 chưa thống nhất sử dụng giấy yêu cầu luật sư hoặc đơn yêu
cầu người bào chữa, khi thì sử dụng giấy yêu cầu luật sư khi thì sử dụng đơn yêu
cầu người bào chữa hoặc đơn yêu cầu nhờ ngưởi bào chữa. Trong giai đoạn điều
66


tra, việc lựa chọn NBC do NBBT, người đại diện hoặc người thân thích của họ lựa
chọn.

3.2. Hoàn thiện tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng hình
sự về địa vị pháp lý của người bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình
sự
3.2.1. Hoàn thiện việc thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu
Cần Luật hóa các văn bản hướng dẫn dưới luật việc chế tài xử lý với Điều tra
viên, Kiểm sát viên trong trường hợp “cản trở” luật sư thực hiện nghĩa vụ người
bào chữa được pháp luật TTHS bảo đảm thực hiện như quy định tại điều 26
BLTTHS năm 2015 “…trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều
tra viên, kiểm sát viên…, người bào chữa đều có quyền bình đẳng trong việc
đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách

thống CQĐT nói riêng. Theo đó, hệ thống CQĐT cần được tổ chức theo phân
công, phân cấp phân quyền thẩm quyền điều tra. Đổi mới hợp lý tổ chức và hoạt
động của cơ quan cảnh sát điều tra hình sự. Theo đó, cần tăng cường xây dựng
CQĐT hình sự vững mạnh bao gồm đội ngũ Điều tra viên có hiểu biết sâu về pháp
68



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status