bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự - Pdf 30

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
----------

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA 2011-2015
Đề tài:

BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ

Giảng viên hướng dẫn:
Trần Hồng Ca
Bộ môn Luật Tư pháp

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Hữu Nguyễn
MSSV: 5115914
Lớp Luật Tư pháp 2 - K37

Cần Thơ, 11/2014


Bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành Luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật này, em xin gửi lời cám ơn chân
thành đến Cô Trần Hồng Ca, khoa Luật, Bộ môn Luật Tư pháp, trường Đại học Cần Thơ.
Trong suốt quá trình làm Luận văn em đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của Cô, dù
bận rộn với công việc nhưng Cô vẫn dành rất nhiều thời gian cũng như tâm huyết để
hướng dẫn cho em. Cho đến hôm nay, nhờ sự nhắc nhở, đôn đốc, chỉ dạy tận tình của
Cô, Luận văn tốt nghiệp của em đã được hoàn thành. Một lần nữa em xin gửi lời cám ơn

............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
GVHD: Trần Hồng Ca

SVTH: Nguyễn Hữu Nguyễn


Bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................
............................................................................................................................................

SVTH: Nguyễn Hữu Nguyễn


Bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLTTHS: Bộ luật Tố tụng hình sự
BLTTDS: Bộ luật Tố tụng dân sự
BLHS: Bộ luật hình sự
LTGPL: Luật trợ giúp pháp lý
CHXHCNVN: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
BCVND: Bào chữa viên nhân dân
GCNNBC: Giấy chứng nhận người bào chữa
Thông tư 70: Thông tư số 70/2011/TT-BCA của Bộ trưởng Bộ Công an quy định chi tiết
thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự liên quan đến việc bảo đảm quyền bào
chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Thông tư 01: Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày
27/8/2010 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Tòa án nhân dân tối cao
hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ
sung

GVHD: Trần Hồng Ca

SVTH: Nguyễn Hữu Nguyễn


Bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
MỤC LỤC
 
LỜI NÓI ĐẦU .................................................................................................................... 1


Bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
1.3.2. Sự cần thiết phải bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án
hình sự ......................................................................................................................... 19
CHƯƠNG 2
BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN
HÌNH SỰ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ
2.1. Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự... 23
2.1.1. Tuân thủ quy định của pháp luật ..................................................................... 23
2.1.2. Tôn trọng và bảo vệ quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa của
người bị tạm giữ, bị can; quyền của người bào chữa ............................................... 25
2.1.3. Bảo đảm sự vô tư, khách quan trong hoạt động bào chữa ............................. 27
2.2. Biện pháp bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ..... 28
2.2.1. Bảo đảm quyền tự bào chữa ............................................................................ 28
2.2.1.1. Bản chất pháp lý và ý nghĩa của quyền tự bào chữa ................................... 28
2.2.1.2. Biện pháp bảo đảm quyền tự bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình
sự............................................................................................................................... 31
2.2.2. Bảo đảm quyền nhờ người khác bào chữa ..................................................... 35
2.2.2.1. Những người được bào chữa cho người khác ............................................. 35
2.2.2.2. Biện pháp để người bào chữa bảo đảm quyền bào chữa cho người bị tạm
giữ, bị can ................................................................................................................. 39
2.2.3. Bảo đảm quyền được cử người bào chữa ........................................................ 46
2.2.3.1. Các trường hợp được cử người bào chữa và biện pháp bảo đảm quyền
đựơc cử người bào chữa ........................................................................................... 46
2.2.3.2. Quyền yêu cầu thay đổi, từ chối người bào chữa được cử .......................... 51
CHƯƠNG 3
MỘT SỐ TỒN TẠI TRONG VIỆC BẢO ĐẢM THỰC HIỆN QUYỀN
BÀO CHỮA, NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP GÓP PHẦN NÂNG CAO
HIỆU QUẢ VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ


SVTH: Nguyễn Hữu Nguyễn


Bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ quyền con người luôn là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong các giai đoạn
của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, ngày nay nhiệm vụ ấy ngày càng quan trọng hơn
nữa, trong bối cảnh Việt Nam đang trên con đường đổi mới, hội nhập sâu và rộng cùng
bạn bè trong khu vực và trên thế giới. Song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế, Đảng và
Nhà nước ta cũng chú trọng việc xây dựng một nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì
dân, xây dựng một hệ thống pháp luật nhằm bảo đảm cho việc phát triển các quyền tự do
dân chủ của công dân.
Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là quyền cơ bản và quan
trọng của công dân khi tham gia vào quá trình tố tụng. Bảo đảm quyền bào chữa luôn
được coi là một quyên tắc Hiến định được thể chế hóa từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp
2013. Đặc biệt là trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự thì việc bảo đảm quyền bào chữa
càng có ý nghĩa quan trọng đối với người bị tam giữ và bị can. Điều tra là giai đoạn trước
giai đoạn truy tố trong quá trình tố tụng hình sự, chính vì vậy việc bảo đảm quyền bào
chữa trong giai đoạn điều tra sẽ giúp cho việc gỡ tội, chứng minh sự vô tội, làm giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự của người bị tạm giữ, bị can, đồng thời bảo vệ được quyền và lợi ích
hợp pháp của các đối tượng này.
Trách nhiệm bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự thuộc
về phía Cơ quan điều tra. Để bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra, Cơ quan
điều tra phải bảo đảm được quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa của người
bị tạm giữ, bị can, đồng thời phải bảo đảm quyền được cử người bào chữa của họ. Tuy
nhiên, thực tiễn việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự vẫn
chưa được thực hiện một cách đầy đủ và triệt để. Cơ quan điều tra, người bào chữa,
người bị tạm giữ, bị can vẫn còn xem nhẹ vấn đề này, từ đó dẫn đến những tồn tại, hạn

tư 70) và một số văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan.
Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích, làm rõ nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa
trong giai đoạn điều tra, các biện pháp bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra,
một số tồn tại, hạn chế trong thực tiễn bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra
đến từ phía Cơ quan điều tra, người bào chữa, người bị tạm giữ, bị can, nguyên nhân và
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài Luận văn này, người viết đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
phân tích luật viết, phân tích, so sánh, tổng hợp, liệt kê, thống kê số liệu. Đồng thời vận
dụng quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
tinh thần Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam để giải quyết các vấn
đề đặt ra trong đề tài Luận văn.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề
tài được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự
Trong Chương 1, người viết tập trung làm rõ một số vấn đề lý luận về bảo đảm
quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Cụ thể người viết đã lần lượt trình
bày những kiến thức cơ bản, những vấn đề lý luận chung về quyền bào chữa, bao gồm
GVHD: Trần Hồng Ca

Trang 2

SVTH: Nguyễn Hữu Nguyễn


Bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
những quan điểm về quyền bào chữa, lịch sử hình thành và phát triển chế định quyền bào

Trang 3

SVTH: Nguyễn Hữu Nguyễn


Bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN BÀO CHỮA
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái quát chung về quyền bào chữa
Bào chữa là một trong những quyền cơ bản và đặc trưng của mỗi công dân, bảo
đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là nguyên tắc quan trọng của tố tụng hình sự
xã hội chủ nghĩa. Việc thực hiện nguyên tắc bảm đảm quyền bào chữa không những thể
hiện tính dân chủ mà còn thể hiện tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa trong hoạt động tư pháp
xã hội chủ nghĩa. Để đảm bảo xã hội dân chủ, công bằng, văn minh thì yêu cầu đặt ra đối
với các cơ quan tiến hành tố tụng, trước hết là phải bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp
của người tham gia tố tụng.
1.1.1. Những quan điểm về quyền bào chữa trong tố tụng hình sự
1.1.1.1. Một số quan điểm về quyền bào chữa trong nước và trên thế giới
Về khái niệm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự hiện nay có rất nhiều quan
điểm khác nhau. Ở mỗi chế độ khác nhau thì quan điểm giai cấp cũng khác nhau, và
trong mỗi giai đoạn khác nhau thì có những quan điểm khác nhau về quyền bào chữa:
Quan điểm thứ nhất thì quyền bào chữa không chỉ dừng lại ở việc bác bỏ sự buộc
tội và xác định bị can không có lỗi hay làm giảm trách nhiệm của bị can mà nó còn thể
hiện được trong cả việc đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp được pháp luật bảo vệ
của bị can kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan tới việc làm giảm trách nhiệm của bị
can trong vụ án.1
Quan điểm thứ hai cho rằng: “Quyền bào chữa là tổng hòa các hành vi tố tụng
hướng tới việc bãi bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc làm giảm trách
nhiệm của bị can”.2

hiện trên cơ sở phù hợp với các quy định của pháp luật nhằm phủ nhận một phần hay
toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng, làm giảm nhẹ hoặc loại trừ trách
nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự”.5
Cả ba quan điểm nói trên về quyền bào chữa đều mở rộng phạm vi đối tượng được
hưởng quyền bào chữa. Quan điểm thứ ba thì bên cạnh bị can đã quy định thêm bị cáo.
Quan điểm thứ tư thì quy định thêm người bị hại, nhân chứng, giám định viên và cả
những người khác. Còn quan điểm thứ năm thì bên cạnh bị can, bị cáo còn có thêm người
bị tạm giữ và người bị kết án. Theo quan điểm của người viết thì quan điểm thứ năm về
quyền bào chữa là đẩy đủ và rõ ràng hơn, cả về phạm vi đối tượng và nội dung của quyền
bào chữa.
Ngoài các quan điểm nêu trên về quyền bào chữa trong tố tụng hình sự đã được đề
cập trong các tài liệu pháp lý, hiện nay còn nhiều quan điểm khác nhau về quyền bào
chữa thể hiện trong văn bản pháp lý của một số nước trên thế giới.
Theo BLTTHS Nhật Bản thì quyền bào chữa thuộc về bị cáo và người bị tình
nghi, cụ thể là: “bị cáo hoặc người bị tình nghi có thể lựa chọn luật sư bào chữa bất kì
lúc nào”.6

LuanVan.co, Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, [truy cập ngày 20-7-2014].
4
Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Về khái niệm quyền bào chữa và việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị
cáo, Hoàng Thị Sơn, [truy cập ngày 20-7-2014].
5
Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Về khái niệm quyền bào chữa và việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị
cáo, Hoàng Thị Sơn, [truy cập ngày 20-7-2014].
6
Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Về khái niệm quyền bào chữa và việc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị
cáo, Hoàng Thị Sơn, [truy cập ngày 20-7-2014].
3

GVHD: Trần Hồng Ca

Cho đến nay chưa có một tài liệu pháp lý hay quan điểm nào đề cập đến khái niệm
quyền tự bào chữa. Trong phạm vi nghiên cứu của mình thì người viết xin đưa ra quan
điểm của bản thân về quyền tự bào chữa như sau: Quyền tự bào chữa là quyền của người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo vận dụng các quyền mà pháp luật cho phép cùng với kiến thức
pháp luật của mình để chứng minh cho sự vô tội của bản thân, chứng minh sự thật không

Hoàng Thị Sơn, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Về khái niệm quyền bào chữa và việc bảo đảm quyền bào chữa
của bị can, bị cáo, [truy cập ngày 20-7-2014].
8
Hoàng Thị Sơn, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội, Về khái niệm quyền bào chữa và việc bảo đảm quyền bào chữa
của bị can, bị cáo, [truy cập ngày 20-7-2014].
9
Xem đoạn 1 Điều 11 BLTTHS 2003.
7

GVHD: Trần Hồng Ca

Trang 6

SVTH: Nguyễn Hữu Nguyễn


Bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
đúng như trong hồ sơ vụ án hay chứng minh để làm giảm trách nhiệm hình sự cho mình,
đồng thời bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình trong quá trình tố tụng.
Quyền nhờ người khác bào chữa là một bảo đảm quan trọng cho người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo có thể có được người bào chữa cho mình trong các trường hợp mà tự bản
thân họ không thể bào chữa cho chính mình vì những lí do khác nhau. Đồng thời quyền
này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa thực hiện các quyền tố tụng mà
pháp luật đã quy định để bào chữa cho thân chủ của mình trước sự cáo buộc của cơ quan


Trang 7

SVTH: Nguyễn Hữu Nguyễn


Bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
“1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về
sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất
kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân
phẩm;
2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc
phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt,
giam, giữ người do luật định”.
Khi các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân có thể hoặc đã bị xâm phạm, họ
sẽ bằng nhiều cách khác nhau để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khi tham
gia tố tụng người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng có quyền và lợi ích hợp pháp như những
người tham gia tố tụng khác (bị đơn dân sự, nguyên đơn dân sự). Nếu những quyền này
của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo bị xâm hại thì họ có quyền bảo vệ bằng những biện
pháp theo quy định của pháp luật.
Ví dụ: họ có thể khiếu nại tới các cơ quan nhà nước hoặc các cá nhân có thẩm
quyền nếu các quyền và lợi ích của họ bị xâm phạm. Cụ thể trong quá trình điều tra, Cơ
quan điều tra đã tiến hành khám người, khám chỗ ở không theo quy định của pháp luật
hoặc giữ trái phép đồ vật của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không có tác dụng là vật
chứng hay liên quan trực tiếp đến vụ án. Nếu hành vi xâm phạm đó nghiêm trọng đến
mức vi phạm hoặc là tội phạm (dùng nhục hình bức cung xâm phạm đến sức khỏe , nhân
phẩm của bị can…), họ có quyền yêu cầu giải quyết theo trình tự luật định của Tòa án.
Như đã biết, quyền bào chữa là một quyền được ghi nhận trong Hiến pháp, điều
này chứng tỏ tầm quan trọng của quyền này trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của mỗi
công dân khi rơi vào vòng lao lý. Trong Hiến pháp 2013, quyền bào chữa của công dân

1.1.2.1. Giai đoạn trước khi Ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988
Trước khi ban hành BLTTHS 1988 thì chính quyền lúc bấy giờ rất quan tâm đến
vấn đề bảo vệ các quyền dân chủ của công dân, đặc biệt là quyền bào chữa. Ngày
13/9/1945 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân Chủ cộng hòa khi đó là Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh 33C về việc thiết lập các Tòa án quân sự, tại đoạn
4 Điều V Sắc lệnh này quy định: “Bị cáo có thể tự bào chữa hay nhờ một người khác
bênh vực cho”.
Ngày 10/10/1945 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân Chủ cộng hòa tiếp
tục ban hành Sắc lệnh số 46 quy định các tổ chức các đoàn thể Luật sư, tại Điều thứ 2 Sắc
lệnh trên quy định: “Các luật sư có quyền bào chữa ở trước tất cả các toà án hàng tỉnh
trở lên và trước các toà án quân sự”.
Ngày 24/1/1946 Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân Chủ cộng hòa ban
hành Sắc lệnh số 13 về việc tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán, quy định trên
về quyền bào chữa của Luật sư trước các Tòa án trong Sắc lệnh số 46 vẫn được giữ lại và
được thể chế hóa trong Điều 46 Sắc lệnh này như sau: “Các Luật sư có quyền biện hộ
trước tất cả các Toà án trừ những Toà sơ cấp”.
Sắc lệnh số 21 ngày 14/2/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân
Chủ cộng hòa ban hành về việc tổ chức các Tòa án quân sự bổ sung cho các Sắc lệnh về
tổ chức các Tòa án quân sự trước đó, chế định về quyền bào chữa được quy định một các
rõ ràng hơn. Điều 5 Sắc lệnh này nêu rõ: “bị cáo có quyền tự bênh vực lấy hay nhờ Luật
sư hoặc người khác bên vực cho”.
Như vậy theo quy định của các văn bản nêu trên, chúng ta thấy rằng bị cáo có
quyền bào chữa, quyền bào chữa của bị cáo bao gồm quyền tự bào chữa hoặc nhờ người
khác bào chữa cho mình (người khác là luật sư hoặc không phải luật sư). Qua đó có thể
GVHD: Trần Hồng Ca

Trang 9

SVTH: Nguyễn Hữu Nguyễn


ban hành, đó là Pháp lệnh tổ chức Luật sư, kèm theo quy chế đoàn luật sư trong Nghị
định 15-HĐBT ngày 21/2/1989 đã giải thích cụ thể quyền, nghĩa vụ, cơ chế hoạt động
của luật sư và tổ chức Luật sư.
Tóm lại, từ những Sắc lệnh đầu tiên quy định về quyền bào chữa của bị cáo cho
đến thời điểm này quyền bào chữa của bị cáo đã được mở rộng và phát triển hơn, đồng
thời thể hiện được tính nhân đạo và dân chủ trong pháp luật tố tụng hình sự nước ta. Tuy
nhiên những văn bản pháp luật trong thời kì này vẫn còn những hạn chế nhất định như
chỉ quy định quyền bào chữa thuộc về bị cáo, chưa có quy định cụ thể về quyền tự bào
chữa của bị cáo, chưa có cách hiểu đầy đủ về chế định quyền bào chữa…Do vậy, quyền
bào chữa của bị cáo cũng như quyền và lợi ích của nhân dân là chưa được bảo đảm.
1.1.2.2. Giai đoạn sau khi Bộ luật Tố tụng hình sự 1988 có hiệu lực đến trước khi
Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 được ban hành
Việc Nhà nước ta ban hành quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật, Sắc lệnh cũng
gây khó khăn cho việc quản lý như sự chồng chéo, mâu thuẫn…trong các quy định. Đứng
trước những hạn chế đó, yêu cầu đặt ra là cần phải có một văn bản thống nhất quy định
chi tiết, cụ thể về các thủ tục tố tụng hình sự, trong đó có các quy định cần thiết, xác thực
để bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, cũng như quyền và lợi ích của công dân. Ngày
28/6/1988, tại kì họp thứ 3 Quốc hội khóa VIII của nước CHXHCNVN đã thông qua
BLTTHS Việt Nam. BLTTHS ra đời đánh dấu một bước phát triển mới, quan trọng trong
việc từng bước hoàn thiện chế định bào chữa và là một bước tiến trong lịch sử lập pháp tố
GVHD: Trần Hồng Ca

Trang 11

SVTH: Nguyễn Hữu Nguyễn


Bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
tụng hình sự nước ta. Quyền bào chữa được ghi nhận trong BLTTHS 1988 không chỉ
thuộc về bị cáo mà còn thuộc về bị can. Cụ thể tại Điều 12 quy định: “Bị can, bị cáo có

năm thì BLTTHS 2003 ra đời thay thế cho BLTTHS 1988 đã khẳng định điều đó. Điều
11 BLTTHS 2003 quy định: “người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc
nhờ người khác bào chữa. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có nhiệm vụ bảo đảm
GVHD: Trần Hồng Ca

Trang 12

SVTH: Nguyễn Hữu Nguyễn


Bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của
bộ luật này”. Đây là một quy định thể hiện sự tiến bộ rất lớn trong nhận thức của các nhà
làm luật về vấn đề bảo đảm quyền bào chữa trong tố tụng hình sự.
Cho tới thời điểm hiện tại, BLTTHS 2003 vẫn là văn bản pháp luật thể hiện tính
ưu việt nhất của nền pháp luật xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tốt nhất quyền bào chữa của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Cùng với sự đổi mới của BLTTHS, Luật luật sư 2006 cũng được ban hành để thay
thế cho Pháp lệnh luật sư 2001 với những quy định mới thiết thực hơn, cụ thể hơn về
quyền và nghĩa vụ của đội ngũ luật sư. Luật luật sư 2006 ra đời khẳng định ưu thế cũng
như vị trí của luật sư trong công tác bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo.
Hiến pháp 2013 được ban hành, quyền bào chữa tiếp tục được khẳng định và nhấn
mạnh, cụ thể tại khoản 4 Điều 31 quy định như sau: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam,
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào
chữa”. Như vậy có thể thấy Hiến pháp mới đã mở rộng phạm vi các đối tượng được đảm
bảo quyền bào chữa, không chỉ bị can, bị cáo mới có quyền bào chữa như các bản Hiến
pháp cũ quy định, mà ngay từ khi một người bị bắt, đã phát sinh quyền tự bào chữa, hoặc
nhờ luật sư bào chữa đối với họ, được đảm bảo bởi đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất là
Hiến pháp.10
Qua việc nghiên cứu sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của chế định

việc liên quan đến vụ án. Thông qua các quyền cụ thể của mình, người bị tạm giữ, bị can,
bị cáo sẽ có sự vận dụng có hiệu quả để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Nếu quyền bào chữa được thực hiện tốt thì ảnh hưởng của nó đến người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo là không thể phủ nhận. Qua việc thực hiện quyền bào chữa, người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo ngoài việc tự bảo vệ cho mình còn giúp cho các cơ quan tiến hành
tố tụng tìm ra được sự thật của vụ án. Việc có người bào chữa tham gia vào quá trình tố
tụng sẽ hạn chế đến mức thấp nhất sự vi phạm tố tụng có thể xảy ra của các cơ quan tiến
hành tố tụng. Người bào chữa với những hiểu biết pháp luật của mình không những bảo
đảm cho quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo được thực hiện tốt mà còn
đảm bảo cho quyền bào chữa của họ không bị vi phạm.
Mặc khác, để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện và
đầy đủ, không để lọt kẻ phạm tội, không làm oan người vô tội thì việc bào chữa là vô
cùng cần thiết. Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo không chỉ là sự đảm
bảo khỏi sự buộc tội mà còn là một phương tiện quan trọng để nhận biết sự thật khách
quan của vụ án. Một khi sự thật khách quan của vụ án đã được làm sáng tỏ sẽ giúp cho
việc xét xử được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Qua đó đảm bảo tính công minh
của luật pháp, hoạt động tư pháp vì vậy mà đạt được mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra là bảo vệ
quyền lợi của công dân, trong đó có quyền bào chữa. Bên cạnh đó, việc thực hiện tốt
quyền bào chữa còn mang lại những ảnh hưởng nhất định cho xã hội. Khi quyền lợi của
công dân được bảo đảm tốt thì sự tin tưởng vào hệ thống pháp luật của Nhà nước từ phía
nhân dân càng ngày càng lớn hơn, tin vào tính công minh của pháp luật, qua đó làm cho ý
thức pháp luật của mọi người ngày càng được nâng cao hơn nữa.
Qua những phân tích trên cho thấy việc bảo đảm lợi ích, danh dự, nhân phẩm của
con người luôn là vấn đề rất được quan tâm. Vì vậy việc buộc tội và xét xử không đúng
pháp luật một công dân sẽ gây thiệt hại không chỉ cho họ mà còn cho cả xã hội. Nếu pháp
luật tố tụng hình sự chỉ quan niệm buộc tội là chức năng duy nhất của tố tụng hình sự mà
không cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo quyền gỡ tội (quyền bào chữa) thì sẽ dẫn đến
sai lầm là các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ chú ý tới các chứng cứ buộc tội mà quên đi
các chứng cứ gỡ tội hoặc giảm tội. Hậu quả của việc không có quyền bào chữa dễ nhận
thấy nhất là quyền lợi của công dân, cụ thể là quyền lợi của người bị tạm giữ, bị can, bị

tra sẽ căn cứ vào các quy định của luật tố tụng hình sự và dưới sự kiểm sát của Viện
kiểm sát để tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố chứng cứ nghiên
cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như
người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm tội để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời
bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó
quyết định: Đình chỉ điều tra vụ án hình sự hoặc là; Chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ
án đó cho Viện kiểm sát kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can.12
Để thu thập chứng cứ, trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra được tiến hành
các hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003. Viện kiểm sát
thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra bảo đảm mọi hoạt động điều tra đúng pháp
luật. Hoạt động điều tra là cần thiết đối với tất cả các vụ án hình sự. Thiếu hoạt động
Hoàng Thị Minh Sơn, Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Trường Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân
dân, 2007, tr. 265.
12
Luật Hình Sự, Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng hình sự, Lê Cảm,
[truy
cập ngày 4-8-2014].
11

GVHD: Trần Hồng Ca

Trang 15

SVTH: Nguyễn Hữu Nguyễn


Bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
điều tra, viện kiểm sát không có cơ sở để truy tố, tòa án không có cơ sở để xét xử vụ án.
Để viện kiểm sát có thể ra bản cáo trạng, truy tố người phạm tội, toán án có thể xét xử
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì trước đó, giai đoạn điều tra phải thu thập được

tiền.
GVHD: Trần Hồng Ca

Trang 16

SVTH: Nguyễn Hữu Nguyễn


Bảo đảm quyền bào chữa trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
 Lập hồ sơ, đề nghị truy tố bị can
Để ra quyết định truy tố và tiến hành xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
viện kiểm sát và tòa án phải dựa vào hồ sơ vụ án. Hồ sơ điều tra hình sự tập hợp hệ
thống các văn bản, tài liệu được thu thập hoặc lập trong quá trình khởi tố, điều tra, được
sắp xếp theo trình tự nhất định, phục vụ cho việc giải quyết vụ án và lưu trữ lâu dài. Nếu
hồ sơ điều tra hình sự không đầy đủ, viện kiểm sát sẽ gặp khó khăn trong việc đưa ra các
quyết định và yêu cầu hợp lý trong và sau quá trình điều tra như khởi tố bổ sung, thay
đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, thay đổi điều tra viên, ra bản cáo trạng truy tố bị
can…Hồ sơ điều tra hình sự có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng sẽ làm cho
kết quả của hoạt động điều tra không chính xác, tòa án không có cơ sở để xem xét ra bản
án hoặc quyết định cần thiết. Vì vậy, việc lập và củng cố hồ sơ điều tra hình sự là nhiệm
vụ quan trọng của giai đoan điều tra. Cơ quan điều tra phải lập hồ sơ ngay sau khi có
quyết định khởi tố vụ án và thường xuyên củng cố hồ sơ để các tài liệu thu thập được
hoặc các văn bản tố tụng được lập ra bảo đảm đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy
định. Khi đã có đầy đủ chứng cứ để xác định tội phạm và bị can thì Cơ quan điều tra có
nhiệm vụ làm bản kết luận điều tra, trình bày diễn biến hành vi phạm tội, nêu rõ các
chứng cứ chứng minh tội phạm, những lí do và căn cứ đề nghị truy tố. Bản kết luận điều
tra đề nghị truy tố là cơ sở pháp lí xác định tội phạm và bị can đề nghị truy tố đã được
điều tra và có đầy đủ chứng cứ để chứng minh. Căn cứ bản kết luận điều tra, viện kiểm
sát chỉ ra bản cáo trạng truy tố những bị can về các tội phạm đã được điều tra có đủ
chứng cứ chứng minh. Những tội phạm và bị can chưa được điều tra sẽ không bị truy tố.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status