ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
BÙI QUỐC DÂN
b¶o vÖ quyÒn cña ng-êi ch-a thµnh niªn ph¹m téi
trong giai ®o¹n ®iÒu tra vô ¸n h×nh sù -
thùc tiÔn t¹i thµnh phè h¶i phßng Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN
CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 7
1.1. Người chưa thành niên phạm tội và thủ tục giải quyết vụ
án đối với người chưa thành niên 7
1.1.1. Người chưa thành niên phạm tội 7
1.1.2. Thủ tục giải quyết vụ án đối với người chưa thành niên 12
1.2. Pháp luật quốc tế về quyền của người chưa thành niên
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 15
1.2.1. Quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự 15
1.2.2. Các quyền riêng biệt đối với người chưa thành niên trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự 18
1.3. Lược sử hình thành và phát triển những quy định của
pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành
niên phạm tội 23
1.3.1. Pháp luật Việt Nam thời kỳ Phong kiến (thế kỷ X đến giữa thế
kỷ XIX) về bảo vệ quyền của người chưa thành niên phạm tội 23
1.3.2. Pháp luật Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc về bảo vệ quyền của
người chưa thành niên phạm tội 24
1.3.3. Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền của người chưa thành
niên phạm tội từ năm 1945 đến 1985 26
1.3.4. Pháp luật Việt Nam từ năm 1985 đến nay về bảo vệ quyền của
người chưa thành niên phạm tội 29
2.2.6. Thực tiễn hoạt động lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị
can là người chưa thành niên 61
Kết luận chương 2 63
Chương 3: CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ QUYỀN
CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 65
3.1. Hoàn thiện các quy định của luật hình sự về bảo vệ quyền
của người chưa thành niên 65
3.2. Hoàn thiện các quy định của luật tố tụng hình sự bảo vệ
quyền cho người chưa thành niên 67
3.2.1. Về phạm vi áp dụng của Bộ luật tố tụng hình sự 67
3.2.2. Về điều tra, truy tố và xét xử 68
3.2.3. Về bắt, tạm giữ, tạm giam 70
3.2.4. Về giám sát bị can, bị cáo 72
3.2.5. Việc tham gia tố tụng của gia đình, nhà trường và các tổ chức xã hội 74
3.3. Các giải pháp đảm bảo 77
3.3.1. Nâng cao hiệu quả mô hình điều tra thân thiện đối với vụ án do
người chưa thành niên thực hiện 77
3.3.2. Nâng cao ý thức pháp luật của người chưa thành niên và cho
nhân dân 81
3.4. Tăng cường hợp tác quốc tế 82
Kết luận chương 3 84
KẾT LUẬN 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCA
BLHS
BLTTHS
ĐTTT
NCTN
Bảng số liệu về người chưa thành niên bị khởi tố đã bỏ
học và lang thang trong tổng số người chưa thành niên
bị khởi tố
56 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền con người là một trong những vấn đề thiêng liêng, cơ bản và
luôn luôn là khát vọng của toàn thể nhân loại. Quyền con người từ khi được
sinh ra và được bảo đảm thực hiện như một lẽ tự nhiên. Cho nên, nó không
chỉ là vấn đề của một quốc gia, một dân tộc mà là trách nhiệm của cả nhân
loại trong việc bảo vệ quyền thiêng liêng ấy.
Ở Việt Nam, Tuyên ngôn độc lập năm 1945 do Chủ tịch Hồ Chí minh
đọc tại Quảng trường Ba Đình có đoạn: “Tất cả mọi người đều sinh ra có
quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm
được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu
cầu hạnh phúc”. Trên tinh thần đó các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 và
Hiến pháp 2013 ở những mức độ khác nhau đó ghi nhận và cam kết tôn trọng,
bảo vệ quyền con người.
Quyền con người đòi hỏi được bảo vệ không chỉ khi họ chấp hành tốt
pháp luật, khi họ thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhà nước, xã hội mà
ngay cả khi họ vi phạm pháp luật, hay phạm tội phải chịu những biện pháp
cưỡng chế của cơ quan bảo vệ pháp luật thì những quyền ấy vẫn cần phải
được bảo vệ. Đó là bản chất tốt đẹp của Nhà nước pháp quyền với hệ thống
pháp luật vì con người, con người là trung tâm của xã hội.
Quyền con người luôn là lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp nên bảo đảm
thực hiện nó không phải chỉ dừng lại ở việc ghi nhận quyền con người mà cần
quả với tội phạm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị xâm hại thì
đồng thời phải có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can là
người chưa thành niên trong các vụ án hình sự. Chính vì vậy trên cả hai
3
phương diện lý luận và thực tiễn tôi chọn đề tài “Bảo vệ quyền của người
chưa thành niên phạm tội trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự - thực tiễn
tại thành phố Hải Phòng” cho luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, việc điều tra đối với những vụ
án mà người bị tạm giữ, bị can là người chưa thành niên là một trong những
nội dung quan trọng. Bởi vì, ngoài việc áp dụng các biện pháp điều tra làm rõ
nội dung vụ án, các tình tiết liên quan, truy tố bị can trước pháp luật. Cơ quan
điều tra cũng phải thực hiện việc giáo dục họ để nhận thức, sửa chữa lỗi lầm,
phát triển lành mạnh về thể chất và tinh thần, tạo điều kiện giúp họ sớm hòa
nhập cuộc sống bình thường.
Trước khi chọn đề tài “Bảo vệ quyền của người chưa thành niên phạm
tội trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự - thực tiễn tại thành phố Hải
Phòng” cho luận văn thạc sĩ của mình, tác giả đã tham khảo một số nghiên
cứu về lĩnh vực tư pháp đối với người chưa thành niên như: Nguyễn Trần
Bích Phượng "Thủ tục tố tụng về những vụ án mà bị can, bị cáo là người
chưa thành niên và thực tiễn áp dụng tại thành phố Hà Nội", Luận văn cử
nhân Luật, Trường Đại học Luật Hà Nội; Phạm Thị Khánh Toàn - "Thủ tục tố
tụng về những vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên - một số vấn
đề lý luận và thực tiễn", Luận văn cử nhân Luật, Trường Đại học Luật Hà
Nội, 2003; Đỗ Thị Phượng "Thủ tục tố tụng đối với bị can, bị cáo là người
chưa thành niên trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam", Luận án tiến sĩ
Luật học, Khoa Luật Hà Nội, ĐHQG Hà nội, 2008; Nguyễn Thị Thanh“Bảo
vệ quyền của người chưa thành niên trong tư pháp hình sự Việt Nam”, Luận
văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia hà Nội.
5
3.3. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu: Các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến
việc bảo vệ quyền của bị can là người chưa thành niên trong hoạt động điều
tra giai đoạn hiện nay như: thủ tục tố tụng tố tụng đối với người chưa thành
niên phạm tội; vai trò của cơ quan điều tra, điều tra viên; yếu tố kinh tế…
Nghiên cứu thực tiễn hoạt động điều tra đối với bị can là người chưa thành
niên của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng trong những
năm gần đây.
3.4. Phạm vi nghiên cứu
Từ mục đích nêu trên, luận văn xác định phạm vi nghiên cứu là các quan
điểm, học thuyết, qui định của pháp luật quốc tế và Việt Nam về quyền con
người và bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên trong TTHS đặc
biệt là trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Luận văn cũng giới hạn phạm vi
khảo sát thực tiễn bảo vệ quyền con người của người chưa thành niên trong
TTHS tại địa bàn thành phố Hải Phòng những năm gần đây (từ 2009 đến 2013).
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng cộng sản Việt Nam
về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu: Khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các
phương pháp: Hệ thống, phân tích, tổng hợp, lịch sử, thống kê, so sánh pháp
luật… để giải quyết các nhiệm vụ đề tài đặt ra.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Nội dung của luận văn được trình bày một cách có hệ thống các quy
định pháp luật về việc bảo vệ quyền của người chưa thành niên, quy định tố
tụng hình sự và thực tiễn hoạt động điều tra vụ án mà người bị tạm giữ, bị can
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN
CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Người chưa thành niên phạm tội và thủ tục giải quyết vụ án
đối với người chưa thành niên.
1.1.1. Người chưa thành niên phạm tội
1.1.1.1. Người chưa thành niên
Người chưa thành niên là thuật ngữ phổ biến được sử dụng trong đời
sống cũng như trong các ngành khoa học nghiên cứu. Dưới nhiều góc độ
nghiên cứu cũng như mục đích nghiên cứu khác nhau mà ở mỗi ngành khoa
học lại có cách hiểu riêng về thuật ngữ này. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Vị
thành niên là người chưa đến tuổi được pháp luật công nhận là công dân với
đầy đủ các quyền và nghĩa vụ hay nói cách khác là người chưa đủ 18 tuổi”.
Định nghĩa này phù hợp với tinh thần của Công ước của Liên Hợp Quốc về
quyền trẻ em thông qua ngày 20/11/1989: “Trong phạm vi của Công ước này,
trẻ em có nghĩa là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp
dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [4, Điều 1, tr.1]. Theo
cách hiểu thông thường, từ “trẻ em” nghĩa là người chưa thành niên, hay vị
thành niên. Thế nhưng trong Công ước này trẻ em lại bao gồm tất cả những
người chưa phải người lớn. Công ước nhấn mạnh rằng tất cả những ai dưới 18
tuổi thì được hưởng mọi quyền lợi đã được ghi nhận trong Công ước.
Tuy nhiên, những quy định khác nhau về khái niệm người chưa thành
niên lại nằm trong các văn bản pháp luật truyền thống của các quốc gia trên
thế giới. Sở dĩ có sự quy định khác nhau như vậy là do xuất phát từ truyền
thống lịch sử văn hóa cũng như các quan niệm về đạo đức, phong tục tập quán
8
của các quốc gia khác nhau. Mặt khác, còn do điều kiện kinh tế - xã hội, sự
khi con người đạt đến một độ tuổi nhất định và năng lực đó sẽ được hoàn
thiện ở một độ tuổi tiếp theo. Người chưa thành niên, hay vị thành niên hoặc
có nơi coi là trẻ em về thể chất và tâm sinh lý đã có sự phát triển đáng kể, có
khả năng hiểu biết nhất định để có những xử sự phù hợp với quy định của
pháp luật. Theo nguyên tắc công bằng của pháp luật, họ phải chịu trách nhiệm
về hành vi do chính mình thực hiện.
“Người chưa thành niên phạm tội” là thuật ngữ sử dụng trong khoa học
PLHS, PLTTHS và các khoa học gần gũi khác. Mặc dù BLTTHS và BLHS
đều có dành một chương riêng để quy định về người chưa thành niên phạm
tội, nhưng lại đều không có khái niệm lập pháp chính thức thế nào là người
chưa thành niên phạm tội. BLHS 1985 cũng như BLHS 1999 khi nói tới
người chưa thành niên phạm tội chỉ đưa ra một khái niệm gián tiếp thông qua
việc quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Điều 12 BLHS năm 1999 thì người từ đủ 16 tuổi trở lên mới phải chịu
trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, còn người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16
tuổi thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố
ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. BLHS năm 1999 cũng quy định:
“Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm
hình sự theo những quy định của chương này” [25, Điều 68].
Với quy định trong các điều khoản trên có thể hiểu người chưa thành
niên phạm tội bao gồm những người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi.
Nhưng cũng cần phải lưu ý rằng: Người chưa thành niên trong pháp luật hình
sự Việt Nam phải được nhìn nhận chính xác từ hai góc độ, không nên đồng
nhất thuật ngữ “người chưa thành niên” trong pháp luật hình sự với thuật ngữ
“người chưa thành niên phạm tội”. Ở góc độ thứ nhất, người chưa thành niên
10
là người bị hại, người xúi giục, “người chưa thành niên” sẽ bao gồm tất cả
những người ở độ tuổi dưới 18 tuổi. Nhìn từ góc độ thứ hai, “người chưa
thành niên” bằng năng lực, nhận thức của mình thực hiện hành vi bị pháp luật
tinh thần con người Việt Nam và kinh nghiệm đấu tranh phòng chống tội
phạm ở nước ta.
Thuật ngữ “người chưa thành niên phạm tội” vốn đã phức tạp lại càng
phức tạp thêm vì vấn đề này không chỉ có ý nghĩa về phương diện đạo đức,
pháp lý mà còn có ý nghĩa về phương diện thực tế hoặc thống kê. Trong thực
tế, còn tồn tại nhiều vướng mắc gây tranh cãi khi xác định một cá nhân có phải
là người chưa thành niên phạm tội hay không. Trước hết, phải kể đến khó khăn
vướng mắc trong việc xác định độ tuổi của một người khi thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội trong những trường hợp không rõ ràng về ngày, tháng,
năm sinh. Thứ hai là khó khăn trong việc xác định hành vi nguy hiểm cho xã
hội mà người chưa thành niên thực hiện có phải là tội phạm hay không phải tội
phạm vì rất khó phân biệt tội phạm với các loại vi phạm khác. Chẳng hạn, hành
vi trộm cắp một chiếc xe đạp của người khác chỉ trở thành tội phạm khi xác
định chính xác giá trị của chiếc xe từ hai triệu đồng trở lên, nếu không, hành vi
đó chỉ là một vi phạm hành chính. Cuối cùng là khó khăn, vướng mắc trong
việc xác định một cách chính xác, phù hợp với thực tế tổng số vụ và người
chưa thành niên phạm tội hàng năm. Con số người chưa thành niên phạm tội
phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là mức độ kiểm soát tội phạm, hiệu quả
của công tác phát hiện, xử lý tội phạm. Các tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện được phát hiện chỉ là một phần mà chúng ta biết được trong số rất
nhiều vụ phạm pháp hình sự đã và đang xảy ra. Mặt khác, các vụ phạm tội
được ghi nhận vào sổ thống kê lại chưa bằng một nửa số vụ người chưa thành
niên phạm tội bị phát hiện. Mặc dù các con số thống kê hình sự về số lượng các
12
v ỏn v s lng ngi cha thnh niờn ch l phn ti phm rừ trong tng th
cỏc ti phm do ngi cha thnh niờn thc hin. Tuy vy, chỳng ta vn cú th
s dng con s ny lm c s cho vic nghiờn cu, ỏnh giỏ, phõn tớch tỡnh
hỡnh ti phm do ngi cha thnh niờn thc hin.
Da vo nhng phõn tớch nờu trờn, cú th hiu: Ngi cha thnh niờn
thành niên phải đ-ợc tiến hành theo thủ tục đặc biệt đ-ợc quy định tại ch-ơng
XXXII BLTTHS năm 2003. Do đó, có thể hiểu: ng-ời bị bắt, ng-ời bị tạm giữ,
bị can, bị cáo là ng-ời ch-a thành niên nghĩa là ng-ời đang ở độ tuổi từ đủ 14
tuổi đến d-ới 18 tuổi ở thời điểm các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các
hoạt động tố tụng hình sự đối với họ.
Nh- vậy, khái niệm ng-ời ch-a thành niên phạm tội và khái niệm ng-ời
bị bắt, ng-ời bị tạm giữ, bị can, bị cáo là ng-ời ch-a thành niên có những
điểm khác nhau xuất phát từ thời điểm phát sinh quan hệ pháp luật mà trong
đó ng-ời ch-a thành niên là chủ thể. Quy định đối với ng-ời ch-a thành niên
phạm tội trong BLHS chỉ áp dụng đối với đối t-ợng là ng-ời ch-a thành niên ở
thời điểm họ thực hiện hành vi phạm tội; còn ng-ời bị bắt, ng-ời bị tạm giữ, bị
can, bị cáo là ng-ời ch-a thành niên bị coi là những ng-ời bị tình nghi trong
quá trình tố tụng giải quyết vụ án. Những quy định áp dụng đối với họ chỉ
đ-ợc thực hiện vào thời điểm họ bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị khởi tố, truy
tố, xét xử và phải vào thời điểm mà họ là ng-ời ch-a thành niên.
1.1.2.2. Th tc gii quyt v ỏn l ngi cha thnh niờn
Theo Từ điển Tiếng Việt thì Thủ tục đợc hiểu là những việc cụ thể
phải làm theo một trật tự quy định, để tiến hành một công việc có tính chất
chính thức (nói tổng quát). Tại thời điểm các quy định tố tụng hình sự đ-ợc
áp dụng đối với ng-ời bị bắt, ng-ời bị tạm giữ, bị can, bị cáo, ng-ời bị kết án
là ng-ời ch-a thành niên, họ đang ở độ tuổi từ 14 tuổi đến d-ới 18 tuổi. Mặc
dù Ch-ơng XXXII BLTTHS năm 2003 có tên gọi là Thủ tục đối với ngời
14
ch-a thành niên nh-ng trong quy định về phạm vi áp dụng thủ tục này tại
Điều 301 nhà làm luật Việt Nam không hề ghi nhận khái niệm pháp lý thủ tục
đối với ng-ời ch-a thành niên là gì?
BLTTHS nm 2003 quy định: Thủ tục tố tụng đối với ng-ời bị bắt,
ng-ời bị tạm giữ, bị can, bị cáo là ng-ời ch-a thành niên đ-ợc áp dụng theo
quy định của Ch-ơng này, đồng thời theo những quy định khác của Bộ luật
quyền của các cơ quan và nhân viên nhà nước trong các hoạt động TTHS.
Theo các văn bản pháp luật, quyền con người thuộc hai lĩnh vực sau: 1. Các
quyền an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm… của cá nhân khi họ tham gia tố
tụng với tư cách người bị tình nghi phạm tội, người bị kết án phải chấp hành
hình phạt hoặc người có tư cách khác khi tham gia tố tụng; 2. Quyền được xét
xử công bằng bởi một Tòa án độc lập… Các quyền này được ghi nhận trong
công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966) (ICCPR- Việt Nam
là thành viên từ năm 1982), trong các bình luận chung của cơ quan giám sát
Công ước này, cũng như trong một số hướng dẫn, nguyên tắc đó được cộng
đồng quốc tế thừa nhận liên quan.
Thứ nhất: Quyền an toàn thân thể, danh dự, nhân phẩm của cá nh©n
trong TTHS.
Đây là quyền của người bị tình nghi phạm tội bị áp dụng những biện
pháp ngăn chặn như: bắt, tạm giữ, tạm giam; người bị kết án phải chấp hành
hình phạt tù trong các trại cải tạo và cũng được mở rộng đến những đối tượng
bị tạm giữ hành chính. Mặc dù là những người này ít nhiều đã gây nguy hại
cho xã hội hoặc bị tình nghi có hành vi gây nguy hại cho xã hội và hạn chế tự
do nhưng quyền của họ vẫn được ghi nhận và bảo đảm thi hành bằng biện
pháp pháp luật. Quyền của những người này chiếm một vị trí quan trọng trong
luật nhân quyền quốc tế và luật nhân quyền quốc gia. Các quyền cơ bản của
người bị tước tự do được bảo vệ tại Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền (1948),
16
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966) (ICCPR) và nhiều
văn kiện khác như "Tập hợp các nguyên tắc bảo vệ tất cả những người bị
giam hay cầm tù dưới bất kỳ hình thức nào" được Đại hội đồng Liên hợp
quốc thông qua bằng Nghị quyết 43/173 ngày 9/12/1988 (bao gồm 39 nguyên
tắc cụ thể); "Các quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên
bị tước tự do" được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua bằng Nghị quyết
45/113 ngày 14/12/1990… Về cơ bản, những người bị tước tự do được bảo
cũng như các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân.
Quyền được xét xử công bằng bao gồm những quyền cụ thể sau:
a) Quyền binh đẳng trước tòa án và được xét xử bởi tòa án độc lập,
không thiên vị, công khai; b) Quyền bào chữa; c) Quyền được xét xử theo thủ
tục riêng của người chưa thành niên; d) Quyền kháng cáo; e) Quyền được bồi
thường khi bị kết án oan; g) Quyền không bị xét xử hai lần về cùng một tội
danh; h) Không bị truy cứu hình sự với lý do không thực hiện được nghĩa vụ
hợp đồng; i) Không bị coi là có tội nếu hành vi không cấu thành tội phạm theo
pháp luật vào thời điểm thực hiện hành vi; k) Không áp dụng hồi tố cũng
được nghiên cứu khi đề cập đến quyền được xét xử công bằng.
Trên đây là những nội dung cơ bản của quyền con người trong TTHS
được ghi nhận trong các văn bản pháp luật Quốc tế và pháp luật Quốc gia.
Từ những phân tích trên, quyền con người trong TTHS có thể được
hiểu là tổng hợp các quyền thuộc nhóm quyền dân sự, chính trị nhằm mục
đích khẳng định việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tôn trọng danh sự, nhân
phẩm của con người trong mọi hoàn cảnh cũng như bảo đảm việc xét xử công
bằng bởi một tòa án độc lập, khách quan đối với những người yếu thế (người
bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án và những người tham gia tố tụng
khác) khỏi sự tùy tiện và sự lạm quyền của các cơ quan và nhân viên Nhà
nước trong các hoạt động TTHS.
18
1.2.2. Các quyền riêng biệt đối với người chưa thành niên trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự
Nội dung các quy định nêu trong các Công ước, quy tắc có tính đến sự
đa dạng và cơ cấu pháp luật của các quốc gia, phản ánh mục đích và tinh thần
của tư pháp người chưa thành niên, đề ra những nguyên tắc mong muốn và
thông lệ đối với việc quản lý người chưa thành niên phạm tội; đồng thời đảm
bảo rằng, trong quá trình thực thi và áp dụng pháp luật thì quyền của người
chưa thành niên, kể cả trong trường hợp họ là đối tượng thực hiện hành vi