I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN TH BCH VN
BảO ĐảM QUYềN CON NGƯờI CủA NGƯờI CHƯA THàNH NIÊN
TRONG GIAI ĐOạN ĐIềU TRA vụ áN HìNH Sự
(trên cơ sở thực tiễn tại địa bàn tỉnh Hà Giang)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2016
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN TH BCH VN
BảO ĐảM QUYềN CON NGƯờI CủA NGƯờI CHƯA THàNH NIÊN
TRONG GIAI ĐOạN ĐIềU TRA Vụ áN HìNH Sự
(trên cơ sở thực tiễn tại địa bàn tỉnh Hà Giang)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: TS. TRN THU HNH
Nhận thức chung về người chưa thành niên ...................................... 7
1.2.
Nhận thức chung về bảo đảm quyền con người của người
chưa thành niên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ................ 9
1.2.1. Nhận thức chung về giai đoạn điều tra vụ án hình sự .......................... 9
1.2.2. Khái niệm bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ................................................ 11
1.2.3. Sự cần thiết và ý nghĩa của việc bảo đảm quyền con người của
người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ........... 14
1.3.
Pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền con người của người
chưa thành niên trong tố tụng hình sự ........................................... 17
1.3.1. Bảo đảm quyền của người chưa thành niên trong một số điều ước
Quốc tế ............................................................................................... 17
1.3.2. Bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự trong Luật tố tụng hình sự một số
nước trên thế giới ............................................................................... 26
1.4.
Khái quát lịch sử hình thành và phát triển các quy định pháp
luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền con người
của người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra các vụ án
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VÀ MỘT
SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON
NGƯỜI CỦA NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG GIAI
ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY .... 69
3.1.
Cơ sở của việc hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm quyền
con người của người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự ..................................................................................... 69
3.2.
Kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự nhằm bảo
đảm quyền con người của người chưa thành niên trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự ............................................................. 73
3.3.
Một số giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người của
người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ... 79
3.3.1. Tăng cường hướng dẫn đầy đủ và kịp thời về bảo đảm quyền con
người của người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra vụ án
hình sự ................................................................................................ 80
3.3.2. Nâng cao năng lực nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm và đạo đức nghề
nghiệp của điều tra viên trong giải quyết vụ án hình sự có liên quan
đến người chưa thành niên................................................................... 81
3.3.3. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức
Người chưa thành niên
NTHTT:
Người tiến hành tố tụng
TTHS:
Tố tụng hình sự
VAHS:
Vụ án hình sự
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1: Tình hình điều tra vụ án có bị can là người chưa
thành niên từ năm 2010 đến năm 2014
58
Bảng 2.2: Tình hình người bị hại, người làm chứng là người
chưa thành niên trong vụ án hình sự từ năm 2010 đến
của CQĐT thực hiện nhiệm vụ chung của quá trình tố tụng đó là phát hiện
1
chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội,
không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Hoạt động điều tra được
áp dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để xác định tội phạm và người
thực hiện hành vi tội phạm, là giai đoạn các biện pháp cưỡng chế Nhà nước
được áp dụng phổ biến nhất; và vì vậy là giai đoạn quyền con người nói
chung và của NCTN nói riêng có nguy cơ dễ bị xâm hại nhất.
Thực tiễn viê ̣c giải quyế t vu ̣ án hiǹ h sự trong nh
ững năm qua cho
thấy rằng vẫn xảy ra các trường hợp vi phạm quyền con người của NCTN,
những vi phạm đó xảy ra là do nhiều nguyên nhân, do hạn chế của Pháp luật,
do nhận thức của người tiến hành tố tụng, quy định về chế độ trách nhiệm
của Nhà nước, CQTHTT, NTHTT đối với NCTN chưa rõ ràng. Vì vậy, có
thể nói nghiên cứu việc bảo đảm quyền con người của NCTN nói chung và
trong giai đoạn điều tra VAHS nói riêng trong TTHS từ góc độ lập pháp
cũng như áp dụng Pháp luật đóng vai trò quan trọng.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung và bảo đảm quyền con
người của NCTN nói riêng là vấn đề được Đảng, Nhà nước cùng các nhà khoa
học xã hội hết sức quan tâm nghiên cứu. Các trung tâm nghiên cứu quan trọng
được thành lập, ví dụ như: Trung tâm nghiên cứu quyền con người trực thuộc
Học viện chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu Quyền con
người trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Tuy nhiên các công trình nghiên
cứu liên quan đến đề tài: “Bảo đảm quyền con người của người chưa thành
Trong các công trình này, các tác giả nghiên cứu việc bảo đảm quyền
con người nói chung và NCTN nói riêng trong TTHS. Do phạm vi rộng nên
các tác giả chưa đi sâu vào nghiên cứu thật đầy đủ, toàn diện trong từng giai
đoạn TTHS với các đối tượng khác nhau.
Đánh giá chung về các công trình đã được công bố có nội dung đề cập
đến vấn đề bảo đảm quyền con người nói chung, NCTN nói riêng chưa có
3
công trình nào tiếp cận một cách trực tiếp về vấn đề bảo đảm quyền con người
của NCTN trong giai đoạn điều tra VAHS. Với quan điểm bảo đảm quyền
con người của NCTN, xuất phát từ cơ sở lý luận của chính sách hình sự được
ghi nhận trong pháp luật quốc tế và quốc gia. Giai đoạn điều tra – giai đoạn
quan trọng của tiến trình TTHS nhằm phục vụ chức năng buộc tội – là giai
đoạn bắt đầu đưa một người vào vòng tố tụng có vai trò rất quan trọng đối với
việc xử lý đúng đắn khách quan, toàn diện VAHS cũng như bảo đảm quyền
con người của NCTN. Nhận thấy đây là vấn đề khó nhưng rất quan trọng cả
về lý luận và thực tiễn vì vậy ho ̣c viên quy ết định chọn đề tài “Bảo đảm
quyền con người của người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra vụ án
hình sự” cho luận văn thạc sĩ của mình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ khái niệm bảo đảm quyền con người của NCTN
trong giai đoạn điều tra VAHS, đồng thời nghiên cứu thực trạng quy định
pháp luật cũng như thực tiễn hoạt động điều tra tại tỉnh Hà Giang, làm sáng tỏ
những bất cập, hạn chế, để đưa ra những kiến nghị và giải pháp tăng cường
bảo đảm quyền con người của NCTN trong giai đoạn điều tra VAHS theo
TTHS Việt Nam.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
NCTN trong giai đoạn điều tra VAHS trên địa bàn tỉnh Hà Giang và nguyên
nhân của thực trạng đó.
- Luận văn góp phần xác định đòi hỏi sự cần thiết của đề tài: Bảo đảm
quyền con người của NCTN trong giai đoạn điều tra VAHS.
- Xác định phương hướng, quan điểm của Đảng và Nhà nước trong lĩnh
vực Bảo đảm quyền con người của NCTN.
5
- Luận văn đưa ra những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và
giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người của NCTN trong giai
đoạn điều tra VAHS.
- Luận văn so sánh TTHS Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm quyền con
người của NCTN trong giai đoạn điều tra giai đoạn từ 1945 đến nay và sự phù
hợp với Luật pháp Quốc tế về bảo đảm quyền con người của NCTN trong giai
đoạn điều tra VAHS.
6. Những đóng góp mới của đề tài
- Được thực hiện và nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
- Luận văn đã đưa ra được một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn
thiện các quy định của Pháp luật TTHS Việt Nam về bảo đảm quyền con người
của NCTN trong giai đoạn điều tra VAHS.
7. Cơ cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người của
người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Chương 2: Bảo đảm quyền con người của người chưa thanh niên trong
giai đoạn điều tra của Luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn
áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và một số giải pháp
nâng cao việc bảo đảm quyền con người của người chưa thành niên trong giai
quốc gia có quy định khác.
7
Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của LHQ về việc áp dụng pháp luật đối với
NCTN (hay còn được gọi là Quy tắc Bắc Kinh), được Đại hội đồng LHQ
thông qua ngày 29-11-1985 nêu rõ: "Người chưa thành niên là trẻ em hay
người ít tuổi tuỳ theo từng hệ thống pháp luật có thể bị xét xử vì phạm pháp
theo một phương thức khác với việc xét xử người lớn" [29, số 2.2 mục a].
Quy tắc tối thiểu phổ biến của LHQ về bảo vệ NCTN bị tước quyền tự
do thông qua ngày 14-12-1990 quy định: "Người chưa thành niên là người
dưới 18 tuổi. Giới hạn tuổi dưới mức này cần phải được pháp luật xác định và
không được tước quyền tự do của người chưa thành niên" [29, số 2.1, mục a].
Qua các quy định của Luật pháp Quốc tế cho thấy việc xác định một
người là NCTN không căn cứ vào đặc điểm tâm, sinh lý và sự phát triển về
thể chất hay tinh thần... mà thông qua căn cứ xác định một người là NCTN
chính là xác định độ tuổi. Độ tuổi được xác định chung là dưới 18 tuổi, và mở
ra một khả năng là tùy điều kiện mỗi nước có thể đưa ra độ tuổi chưa thành
niên thấp hơn 18 tuổi.
Trong hệ thống pháp luật của Việt Nam việc quy định độ tuổi chưa
thành niên được ghi nhận trong Hiến Pháp năm 2013, Bộ luật Hình sự năm
1999, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật Lao động, Bộ luật Dân sự,
và một số văn bản quy phạm Pháp luật khác. Trong các văn bản Pháp luật này
đều quy định tuổi của NCTN là dưới 18 tuổi và quy định riêng những chế
định Pháp luật đối với NCTN trong từng lĩnh vực cụ thể.
Không giống như pháp luật Quốc tế xác định trẻ em là NCTN dưới 18
tuổi, pháp luật Việt Nam có những quy định khác về NCTN và trẻ em. Theo
Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004: “Trẻ em là công dân Việt
Nam dưới 16 tuổi” [46, Điều 1]. Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005 ghi nhận:
1.2. Nhận thức chung về bảo đảm quyền con người của người chưa
thành niên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
1.2.1. Nhận thức chung về giai đoạn điều tra vụ án hình sự
Điều tra là hoạt động của CQĐT và những cơ quan được giao nhiệm vụ
9
tiến hành một số hoạt động điều tra theo luật định, được tiến hành theo trình
tự TTHS, nhằm chứng minh sự thật của VAHS theo yêu cầu của Pháp luật.
Điều tra VAHS là một giai đoạn độc lập của quá trình tố tụng, phục vụ
việc thực hiện mục đích chung của quá trình tố tụng đó là: Phát hiện chính
xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không
để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
Trong giai đoạn điều tra VAHS, CQĐT chỉ được áp dụng những biện
pháp, những phương tiện theo quy định để làm rõ vụ án. Hoạt động điều tra
phải bảo đảm tuân thủ tất cả các văn bản Pháp luật của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam có liên quan đến hoạt động điều tra. CQĐT, các cơ quan
được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và ĐTV có quyền và
nghĩa vụ áp dụng có hiệu quả tất cả các biện pháp và phương tiện theo quy
định của Pháp luật để điều tra khám phá tội phạm, đồng thời phải bảo vệ lợi
ích của Nhà nước, lợi ích của cơ quan, tổ chức và công dân, tôn trọng và bảo
đảm các quyền cơ bản của công dân.
Điều tra VAHS là một giai đoạn của quá trình tiến hành TTHS, được
bắt đầu từ khi có quyế t đinh
̣ khởi tố vụ án đến khi CQĐT ra bản kết luận điều
tra, chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát nhân dân đề nghị truy tố bị can trước
Pháp luật nếu có đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi tội phạm của
bị can hoặc đình chỉ điều tra nếu có một trong những căn cứ được quy định tại
khoản 2 Điều 105 và Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 19, Điều 25 và
khoản 2, Điều 69 Bộ luật Hình sự.
Chủ thể được bảo đảm của quyền con người và chủ thể có nghĩa vụ bảo
đảm quyền con người theo nhận thức chung có thể hiểu rằng: Chủ thể được
bảo đảm của quyền con người của NCTN là NCTN tham gia với các tư cách
khác nhau trong giai đoạn điều tra VAHS. Chủ thể có nghĩa vụ bảo đảm
quyền con người của NCTN là Nhà nước. Mà cụ thể đại diện cho Nhà nước là
CQTHTT. Nhà nước dùng sức mạnh và quyền lực của mình để bảo đảm các
11
quyền con người của NCTN không bị xâm phạm và được thực thi trên thực tế
trong giai đoạn điều tra. Thông qua CQTHTT Nhà nước giúp cho các quyền
cơ bản và quyền riêng của NCTN được thực hiện và loại bỏ những gì cản trở
hoặc làm cho các quyền đó không được thực thi. Hiến pháp năm 2013 ghi
nhận: “Quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn
hóa xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và
Pháp luật” [48, Điều 14]. Như vậy chủ thể trách nhiệm bảo đảm quyền của
NCTN trước hết là Nhà nước. Để thực hiện trách nhiệm của mình Nhà nước
tiến hành trên hai phương diện là xây dựng Pháp luật và áp dụng Pháp luật.
CQĐT là Cơ quan áp dụng Pháp luật và đại diện cho chủ thể bảo đảm quyền
con người của NCTN trong giai đoạn điều tra VAHS.
Trong khoa học pháp lý tồn tại những quan điểm khác nhau về chủ thể
mà quyền con người cần được bảo đảm. Ví dụ như có quan điểm cho rằng
“Bảo vệ quyền con người là bảo vệ quyền của những người tham gia tố tụng”
hay một số nhà luật học cho rằng bảo đảm quyền con người trong TTHS là
bảo đảm quyền của những người bị buộc tội.
Bảo đảm quyền con người của NCTN trong giai đoạn điều tra VAHS là
một bộ phận của bảo đảm quyền con người nói chung được ghi nhận trong
các văn bản pháp luật Việt Nam.
Trước hết, quan điểm của học viên cho rằng bảo đảm quyền con người
tạo, giáo dục để NCTN nhận ra lỗi lầm của mình, tạo điều kiện để các em có
khả năng tái hòa nhập cộng đồng và cuộc sống bình thường. Vì thế, trong giai
đoạn điều tra, phải luôn tuân thủ nguyên tắc đặc biệt quan trọng quy định tại
Điều 9, Bộ luật TTHS “Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội
của Tòa án đã có hiệu lực Pháp luật”. Mặt khác, khi chưa làm rõ sự thật khách
quan của vụ án, họ vẫn chưa bị truy tố, có thể không trở thành bị cáo để bị xét
xử, trong nhiều trường hợp, những người này có thể còn được miễn truy tố,
miễn hình phạt, thậm chí còn được tòa án tuyên vô tội.
13
Đối với NCTN trong giai đoạn điều tra VAHS, nhận thức pháp luật, xã
hội, chuẩn mực quy tắc sinh hoạt của họ chưa ổn định và đúng đắn, việc tôn
trọng các quyền của họ là rất quan trọng, giải thích cho họ hiểu có ý nghĩa lớn
trong việc bảo đảm quyền con người nói chung, quyền trẻ em nói riêng và
giúp họ tuân thủ nghĩa vụ và thực hiện quyền tố tụng nhằm tự bảo vệ mình.
Đối với nhóm chủ thể NCTN là người bị hại, người làm chứng việc bảo
đảm quyền con người của họ cũng hết sức quan trọng. Họ cũng có những đặc
điểm tâm lý chung của NCTN, hơn thế nữa họ còn là người cần được Pháp
luật bảo vệ hơn cả vì họ là đối tượng bị xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp,
là người đứng ra tố cáo tội phạm, hoặc là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan đến vụ án.
Tóm lại học viên cho rằng: Bảo đảm quyền của NCTN trong giai đoạn
điều tra VAHS là sự cam kết của chủ thể Nhà nước mà đại diện là CQĐT đối
với chủ thể là NCTN khi họ tham gia vào giai đoạn điề u tra , nhằm bảo đảm
các quyền cơ bản và đặc thù được thực thi hoặc loại bỏ những cản trở quyền
đó không được thực thi đối với họ.
1.2.3. Sự cần thiết và ý nghĩa của việc bảo đảm quyền con người của
người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
hiệu tội phạm, Cơ quan điều tra xét thấy cần thiết phải áp dụng các biện pháp
cưỡng chế tố tụng khác nhau theo quy định của Pháp luật. Các biện pháp đó có
thể là bắt, tạm giam, tạm giữ để phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm. Việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn đối với NCTN là vấn đề có liên quan trực tiếp
đến sức khỏe, tâm lý, tính mạng, danh dự, nhân phẩm… của họ, dễ dẫn đến tổn
thương về tinh thần, sức khỏe vì NCTN là những người chưa phát triển toàn
diện, nhận thức chưa đầy đủ. Vì vậy đòi hỏi CQĐT phải hết sức thận trọng, tỷ
mỉ, khách quan, đúng Pháp luật. Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với
NCTN, CQĐT phải cân nhắc kỹ lưỡng, chuẩn bị đầy đủ điều kiện con người,
phương tiện, cơ sở vật chất và chỉ tiến hành khi thấy thật sự cần thiết.
15
Thứ ba: Nhà nước đưa ra quy định về hạn chế một số quyền công dân,
quyền con người với mục đích là để phục vụ cho việc phát hiện, điều tra, xử
lý chính xác và khách quan tội phạm và người phạm tội. Các hạn chế và quy
định cưỡng chế của Nhà nước chỉ ở mức độ cần thiết để xử lý đúng người,
đúng tội và không vi phạm nghiêm trọng đến quyền con người. Trong giai
đoạn điều tra, quyền con người của NCTN gắn bó mật thiết với quy định về
các biện pháp áp dụng đối với NCTN. Do các nguyên nhân như: Sự thiếu hợp
tác của NCTN trong giai đoạn điều tra, do sự tác động chi phối từ bên ngoài
của công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên, do các mối quan hệ công tác, mối
quan hệ thân quen, do trình độ năng lực hạn chế của ĐTV, do vi phạm đạo
đức nghề nghiệp… nên dễ dẫn đến các quyết định trong giai đoạn điều tra
chưa thực sự được khách quan, trung thực, đầy đủ.
Vì vậy, nguyên tắc trong giai đoạn điều tra đối với NCTN của CQĐT
được đặt lên hàng đầu là phải bảo đảm không bỏ lọt tội phạm nhưng cũng
không được làm oan người vô tội. Việc xem xét, xử lý hành vi phạm tội của
NCTN phải gắn chặt với việc bảo đảm quyền con người của họ. Trong giai
định của Pháp luật, đạt được yêu cầu điều tra là xử lý đúng người, đúng tội
cũng như tôn trọng, bảo đảm quyền con người của NCTN.
1.3. Pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền con người của người chưa
thành niên trong tố tụng hình sự
1.3.1. Bảo đảm quyền của người chưa thành niên trong một số điều
ước Quốc tế
Mọi hoạt động điều tra của CQTHTT và NTHTT là để làm sáng tỏ vụ
án, phát hiện kịp thời, xử lý chính xác người phạm tội, đồng thời không để lọt
tội phạm và làm oan người vô tội. Đó là hoạt động Nhà nước trao cho một số
cơ quan và cá nhân có thẩm quyền, nhân danh Nhà nước để áp dụng các biện
pháp theo luật định đạt được mục đích đề ra. NCTN khi tham gia vào giai
đoạn điều tra tức là đang là đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, các quyền
17