đảm bảo quyền của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử - Pdf 31

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT


LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHÓA 34 (2008 – 2012)

Đề Tài

ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO
LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ

Sinh viên thực hiện:
Phan Thị Kim Loan
MSSV: 5085815
Lớp: Tư Pháp 1 – K34

Giáo viên hướng dẫn:
Th.S Mạc Giáng Châu
Bộ môn Tư pháp

Cần Thơ, 5/2012


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Luật – Đại học Cần Thơ

LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến cha mẹ và em trai tôi,

………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………

GVHD: Th.S. Mạc Giáng Châu

………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………

GVHD: Th.S. Mạc Giáng Châu

SVTH: Phan Thị Kim Loan


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Luật – Đại học Cần Thơ

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS:

Bộ luật hình sự

BLTTHS:


NPD:

Người phiên dịch

NTGTT:

Người tham gia tố tụng

NTHTT:

Người tiến hành tố tụng

TAND:

Tòa án nhân dân

TANDTC:

Tòa án nhân dân tối cao

TNHS:

Trách nhiệm hình sự

TTHS:

Tố tụng hình sự

VKS:


1.2.1. Một số nguyên tắc cơ bản liên quan đến bảo vệ quyền của bị can, bị cáo là
người chưa thành niên............................................................................................15
1.2.1.1. Đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật....................................15
1.2.1.2. Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân.....................17
1.2.1.3. Đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể .............................18
1.2.1.4. Đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo..................................20
1.2.2. Tầm quan trọng của việc đảm bảo quyền của bị can, bị cáo là người chưa
thành niên ..............................................................................................................21
CHƯƠNG 2: ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ NGƯỜI CHƯA
THÀNH NIÊN TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA, TRUY TỐ, XÉT XỬ ........25
2.1. Các quyền chung của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong giai
đoạn điều tra, truy tố, xét xử...............................................................................25
2.1.1. Quyền được giải thích quyền và nghĩa vụ...............................................25
2.1.2. Quyền chứng minh, bác bỏ nội dung buộc tội..........................................28
GVHD: Th.S. Mạc Giáng Châu

SVTH: Phan Thị Kim Loan


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Luật – Đại học Cần Thơ

2.1.2.1. Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu ..........................................28
2.1.2.2. Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa ......................31
2.1.2.3. Quyền trình bày lời khai ..............................................................36
2.1.2.4. Quyền trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa...........................39
2.2. Các quyền riêng của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong giai
đoạn điều tra, truy tố, xét xử...............................................................................45
2.2.1. Quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì ...............................................45

Khoa Luật – Đại học Cần Thơ

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Người chưa thành niên phạm tội là một hiện tượng thực tế tồn tại trong tất cả
các xã hội. Trong những năm qua và nhất là thời điểm hiện nay, tình trạng người
chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam diễn biến rất phức tạp và có xu hướng ngày
càng tăng. Theo số liệu thống của Bộ Công an chỉ tính riêng trong năm 2010, trên
địa bàn cả nước có 13.572 đối tượng phạm tội là người chưa thành niên, trong đó
1.600 vụ học sinh đánh nhau, tăng nhiều lần so với những năm trước cả về số lượng
lẫn các vụ trọng án. Trong đó, tội phạm do người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến
dưới 18 tuổi thực hiện có chiều hướng gia tăng và chiếm tỷ lệ cao nhất khoảng 60%,
từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chiếm khoảng 32% và dưới 14 tuổi chiếm khoảng 8%
trong tổng số các vụ phạm tội do người chưa thành niên và trẻ em thực hiện1. Việc
giải quyết vấn đề người chưa thành niên phạm tội là việc làm cần thiết để giữ
nghiêm ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, nhưng cũng là một vấn đề phức
tạp và tế nhị. Trước hết, do xuất phát từ đặc điểm tâm lý đang phát triển, nhân cách
chưa được định hình, nhận thức chưa đầy đủ nên họ đã có hành vi phạm tội một
cách không tự giác. Họ trở thành bị can, bị cáo trong một vụ án hình sự. Mặt khác,
khi phạm tội người chưa thành niên vừa là những người phạm tội, nhưng đồng thời
cũng là những nạn nhân của sự thiếu giáo dục, chăm sóc của gia đình, nhà trường và
xã hội; hành động ít nhiều bị chi phối bởi hoàn cảnh khách quan hoặc bị xúi giục,
lừa dối,…
Chính vì vậy, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề giải quyết tội
phạm về người chưa thành niên là: “vấn đề không chỉ đơn giản là giải quyết một vụ
án, trừng phạt một tội phạm nào đó, điều quan trọng là phải tìm ra cách để giảm bớt
những hoạt động phạm pháp và tốt hơn hết là ngăn ngừa đừng để các việc sai trái ấy
xảy ra”2, “việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp
đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã
hội”3. Quán triệt tinh thần đó, BLTTHS năm 2003 đã ghi nhận cho người chưa

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, là cơ sở pháp lý để thực hiện các quyền
năng tố tụng, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo là NCTN. Tuy
nhiên, trong thực tiễn việc đảm bảo thực hiện những quyền tố tụng của bị can, bị
cáo là NCTN vẫn còn nhiều hạn chế, mờ nhạt, còn mang nặng tính hình thức, số
lượng án hình sự bị trả để bổ sung, điều tra lại, bị hủy, sửa hàng năm vẫn còn chiếm
tỷ lệ cao (theo báo cáo tổng kết công tác năm 2010 của Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao thì đã ra quyết định truy tố đối với 11.215 vụ án hình sự đối với bị
can là người chưa thành niên tham gia, trong đó trả hồ sơ điều tra bổ sung là 97 vụ,
tương đương 0,85% trong tổng số án truy tố. Bên cạnh đó, Cơ quan điều tra đã khởi
tố 65 bị can về các tội dùng nhục hình, ra quyết định trái pháp luật, làm sai lệch hồ
sơ vụ án4. Báo cáo tổng kết công tác 2010 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm
2011 của ngành Tòa án, trong năm 2010 Tòa án đã xét xử 11.025 vụ án hình sự đối
với người chưa thành niên, tỷ lệ bản án, quyết định bị hủy trong năm 2010 là 87 vụ
tương đương 0,78%, sử lại là 33 vụ , tương đương 3,1%)5. Đặc biệt, là tình trạng kết
án oan còn diễn ra nhiều trên thực tế do những người tiến hành tố tụng chưa nắm
vững các quy định của pháp luật, tuân thủ chặt chẽ các thủ tục tố tụng, còn hạn chế
về kiến thức nhất định về đặc điểm tâm – sinh lý của lứa tuổi người chưa thành niên
để phục vụ cho công tác phục giải quyết vụ án. Bị can, bị cáo là NCTN không được
đảm bảo để thực hiện các quyền năng tố tụng hay đảm bảo không có hiệu quả, vi
phạm các quyền tố tụng của họ, làm giảm lòng tin của bị can, bị cáo là NCTN, quần
chúng nhân dân đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng hình
sự. Chính vì vậy, trước những đòi hỏi của công cuộc phòng và chống tội phạm,
cũng như đảm bảo hơn sự dân chủ, bình đẳng, khách quan trong việc giải quyết vụ
án đối với người chưa thành niên phạm tội, việc nghiên cứu sâu các quyền năng tố
tụng của bị can, bị cáo là NCTN trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam là vấn đề
4

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao báo cáo về công tác kiểm sát của ngành kiểm sát nhân dân
nhiệm kì Quốc hội khóa XII, Tạp chí kiểm sát số 07, tháng 04/2011.
5

chỉ chủ yếu nghiên cứu các quyền tố tụng của bị can, bị cáo là NCTN trong giai
đoạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, người viết hướng tới mục đích làm sáng tỏ thêm cơ
sở lý luận cũng như thực tiễn thực hiện các quyền năng tố tụng của bị can, bị cáo là
NCTN. Qua đó, chỉ ra những vấn đề còn tồn tại về mặt pháp lý cũng như thực tiễn
và đưa ra những đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các quyền năng tố tụng
của bị can, bị cáo là NCTN, góp phần đảm bảo quá trình giải quyết vụ án khách
quan, dân chủ, phù hợp chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong vấn
đề xử lý người chưa thành niên phạm tội.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn này hoàn thành dựa trên những kiến thức đã học; thu thập và tổng
hợp các tài liệu, các văn bản pháp luật, một số tạp chí chuyên ngành có liên quan tới
đề tài; các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong việc xử
lý người chưa thành niên phạm tội. Đồng thời, luận văn này còn sử dụng một số
phương pháp như: phương pháp nghiên cứu, phương pháp phân tích luật viết để
hoàn thành đề tài.

GVHD: Th.S. Mạc Giáng Châu

Trang 3

SVTH: Phan Thị Kim Loan


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Luật – Đại học Cần Thơ

5. Bố cục đề tài

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO LÀ
NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1.1. Khái niệm chung
1.1.1. Khái niệm người chưa thành niên
1.1.1.1. Khái niệm về người chưa thành niên của các tổ chức trên thế giới
Mỗi con người sinh ra và lớn lên trong những môi trường sống cũng như
được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trong những điều kiện vật chất và tinh thần
khác nhau. Họ cũng có sự phát triển về thể chất, tâm – sinh lý, khả năng nhận thức
cũng khác nhau và đến một giai đoạn nhất định nào đó thì sự phát triển về tâm –
sinh lý, khả năng nhận thức đó được xem là đầy đủ. Mỗi quốc gia trên thế giới sẽ
đặt ra những tiêu chí nhất định nào đó như tiêu chí về độ tuổi chỉ những người đang
trong giai đoạn phát triển nhất định đó. Đa số các nước trên thế giới dùng cụm từ
“vị thành niên” để chỉ những người chưa thành niên – những người đang trong giai
đoạn phát triển về tâm – sinh lý và nhận thức, nhưng độ tuổi của những người chưa
thành niên cũng được quy định khác nhau ở từng quốc gia:
+ Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên hiệp
quốc thông qua ngày 20/11/1989, và có hiệu lực ngày 02/09/1990 có ghi: “Trong
phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp
luật áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”6.
+ Theo quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hiệp quốc về “áp dụng pháp luật
đối với người chưa thành niên” (còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh), thông qua ngày
29/11/1985 đã định nghĩa chính thức về trẻ vị thành niên là từ 10 – 19 tuổi, và tuổi
thanh niên 14 – 24 tuổi7.
+ Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) quy định vị thành niên nằm trong độ
tuổi từ 10 – 18 tuổi. Lứa tuổi này được chia thành ba giai đoạn8:
 Giai đoạn vị thành niên sớm tương đương tuổi thiếu niên: Nam từ
15 – 16 tuổi, Nữ từ 10 – 12 tuổi.
 Giai đoạn vị thành niên giữa tương đương với lứa tuổi thiếu niên lớn:
Nam từ 15 – 16 tuổi, Nữ từ 13 – 15 tuổi.

niệm về người chưa thành niên đều giới hạn về độ tuổi là dưới 18 tuổi. Vì trong độ
tuổi này, con người chưa hoàn toàn phát triển đầy đủ về nhân cách và nhận thức về
hành vi của mình. Pháp luật quốc tế giới hạn ở độ tuổi dưới 18 tuổi do đã tính đến
sự đa dạng và cơ cấu pháp luật của các quốc gia, và phản ánh mục đích và tinh thần
tư pháp đối với người chưa thành niên. Đồng thời, còn đưa ra khả năng mở cửa cho
các quốc gia trên thế giới tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa, truyền thống…
của mình có thể quy định độ tuổi đó sớm hơn.
Các quốc gia trên thế giới, tùy vào điều kiện kinh tế - xã hội; truyền thống;
lịch sử cũng như chính sách phát triển và bảo vệ con người của quốc gia mình, mà
có thể đưa ra quy định về độ tuổi để xác định người chưa thành niên. Lấy độ tuổi đủ
18 tuổi để làm giới hạn phân biệt giữa người thành niên và người chưa thành niên là
một quy định phù hợp, vì những người trong độ tuổi chưa đủ 18 tuổi chưa phát triển
đầy đủ về thể chất, tâm lý, trí tuệ, và còn hạn chế về khả năng nhận thức về môi
trường sống… Nhưng hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có một cách hiểu chung
về khái niệm người chưa thành niên là những người chưa đủ 18 tuổi.
1.1.1.2. Khái niệm về người chưa thành niên theo pháp luật Việt Nam
Khái niệm người chưa thành niên là một khái niệm phổ biến được dùng trong
nhiều ngành khoa học, ở mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau, mỗi ngành khoa học có
một khái niệm về người chưa thành niên khác nhau. Trong khoa học pháp lý, khái
niệm người chưa thành niên được sử dụng một cách rộng rãi, đó là những người
đang ở một độ tuổi nhất định. Cụ thể ở Việt Nam, khái niệm về người chưa thành
niên được đề cặp như sau:
+ Theo Hội kế hoạch hóa gia đình Việt Nam đã xác định “vị thành niên,
thanh niên” từ 10 – 24 tuổi. Trong đó, giai đoạn vị thành niên được chia làm hai giai
đoạn10:

9

Báo tiền phong, tuổi trẻ vị thành niên, Thái Châu, http: www.tienphong.vn [truy cập ngày 06/02/2012].


Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội, Điều 68 nêu rõ: “Người
chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình
sự theo quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần
chung Bộ luật không trái với những quy định của chương này”. Theo quy định này,
chỉ những người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi mới phải chịu trách
nhiệm hình sự, còn người từ chưa đủ 14 tuổi trở xuống sẽ được xem là không có
năng lực trách nhiệm hình sự và không phải chịu trách nhiệm hình sự. Việc xác
định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam dựa trên
những khảo sát về tâm – sinh lý của người Việt Nam, đồng thời, xuất phát từ yêu
cầu của chính sách hình sự của Nhà nước ta và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội
phạm ở tuổi vị thành niên, chính sách xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội.
+ Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, Chương XXXII: Thủ tục tố tụng đối
với người chưa thành niên, đề cặp đến hai nhóm: từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, và
từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Trong Tố tụng Hình sự chỉ quy định việc áp dụng
thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và từ
đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vì theo quy định của luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ
10

Báo dân trí, tìm hiểu về độ tuổi của người chưa thành niên, www.dantri.com.vn., [truy cập ngày
09/2/2012].

GVHD: Th.S. Mạc Giáng Châu

Trang 7

SVTH: Phan Thị Kim Loan


Luận văn tốt nghiệp


Thế Giới đều hướng tới xây dựng pháp luật về người chưa thành niên để bảo vệ
quyền và lợi ích của người chưa thành niên từ mọi góc độ; nhằm tạo điều kiện giáo
dục, giúp đỡ họ để họ sửa chữa sai lầm, trở thành người có ích cho xã hội.

11

Điều 12, Điều 68 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em được Quốc Hội thông qua ngày 15/6/2004, có hiệu lực thi hành
ngày 01/01/2005.
12

GVHD: Th.S. Mạc Giáng Châu

Trang 8

SVTH: Phan Thị Kim Loan


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Luật – Đại học Cần Thơ

1.1.2. Khái niệm bị can, bị cáo trong luật Tố tụng Hình sự Việt Nam
1.1.2.1. Khái niệm bị can
Theo quy định tại khoản 1 Điều 49 BLTTHS năm 2003 thì: “Bị can là người
đã bị khởi tố về hình sự”. Theo quy định này, khi một người đã thực hiện (hoặc cho
là đã thực hiện) hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quan hệ xã hội
được luật hình sự bảo vệ, và có đủ các căn cứ để khởi tố hình sự thì Cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền sẽ khởi tố về hình sự. Khi đó họ trở thành bị can.
Bị can tham gia tố tụng từ khi có quyết định khởi tố bị can đối với họ. Bị can


Trang 9

SVTH: Phan Thị Kim Loan


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Luật – Đại học Cần Thơ

nếu sau khi xét xử họ bị Tòa án ra bản án kết tội và bản án đó đã có hiệu lực pháp
luật.
1.1.2.3. Phân biệt bị can và bị cáo
Trong Tố tụng Hình sự, bị can, bị cáo là những người tham gia tố tụng có vị
trí trung tâm trong quá trình giải quyết vụ án. Họ là người bị Cơ quan tiến hành tố
tụng nghi hoặc coi là người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS
quy định là tội phạm. Tùy theo giai đoạn tố tụng khác nhau mà tên gọi cũng như địa
vị pháp lý của người họ khác nhau:
Bị can là đối tượng của giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố và một phần của
giai đoạn xét xử sơ thẩm (giai đoạn chuẩn bị xét xử). Bị cáo là đối tượng của giai
đoạn xét xử vụ án.
Bị can tham gia tố tụng từ khi có quyết định khởi tố bị can. Bị cáo tham gia
tố tụng kể từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Bị can, bị cáo là những người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, và đều bị tình
nghi là đã thực hiện một tội phạm. Nhưng bị cáo tham gia tố tụng trong một cơ chế
tố tụng hoàn chỉnh hơn bị can, đầy đủ những người tham gia tố tụng, các cơ quan,
người tiến hành tố tụng, với chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử; thực hiện các
quyền tố tụng của mình trong phiên tòa công khai và bình đẳng. Còn đối với bị can
trong một môi trường chỉ có người bị tình nghi đối diện với cơ quan THTT có thẩm
quyền (nhất là khi hỏi cung bị can), trường hợp cá biệt mới có người bào chữa, có

của vụ án. Tuy nhiên, không loại trừ khả năng, CQĐT có những sai phạm khi áp
dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng đó, gây xâm phạm đến quyền và lợi ích của
bị can như: áp dụng sai biện pháp cưỡng chế, không kịp thời hủy bỏ biện pháp
cưỡng chế đó hay đưa ra các quyết định trái pháp luật,… Mặt khác, trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự, tham gia vào giai đoạn này, chủ yếu chỉ có chủ thể tiến hành
hoạt động điều tra là cơ quan điều tra và người bị tình nghi là bị can, mặc dù có sự
tham gia của các chủ thể khác như sự giám sát của VKS và một số trường hợp cá
biệt trong hoạt động điều tra có sự tham gia của người bào chữa, người giám hộ,
người chứng kiến,… khi tiến hành các hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ CQĐT
cũng xảy ra những sai phạm như: trong quá trình lấy lời khai dùng nhục hình, truy
bức, mớm cung, ép bị can phải nhận tội,… Trong khi đó, tại giai đoạn xét xử thì có
sự tham gia của các bên chủ thể: bên buộc tội là người tiến hành tố tụng, bên bị
buộc tội là bị cáo, người bào chữa, người giám hộ,… và đây là phiên tòa công khai
còn có sự tham gia của công chúng, nên trong quá trình xét xử những sai phạm trái
pháp luật từ ý chí chủ quan của NTNT như đe dọa bức cung, dùng nhục hình, mua
chuộc nhận tội đối với bị cáo khó có khả năng xảy ra. Khi quyết định đưa vụ án ra
xét xử được đưa ra thì khi đó đã có đủ các tài liệu, chứng cứ nên không cần phải áp
dụng các biện pháp cưỡng chế tố tụng để thu thập tài liệu, chứng cứ xác định sự thật
của vụ án. Vì thế, bị cáo ít có khả năng bị xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp
hơn đối với bị can.
Trong quá trình giải quyết vụ án, mức độ tình nghi về vụ án đối với bị cáo
cao hơn bị can. Bị can tham gia vào giai đoạn điều tra, truy tố của hoạt động tố
tụng. Trong các giai đoạn này, cơ quan điều tra chỉ đang trong quá trình thu thập tài
liệu, chứng cứ khi có đủ các căn cứ cho rằng một ai đó thực hiện hành vi phạm tội,
chứ chưa có đủ chứng cứ để khẳng định người đó đã phạm tội. Khi có đủ các căn cứ
để kết thúc giai đoạn này, chuyển sang giai đoạn tố tụng tiếp theo thì mức độ tình
nghi về hành vi phạm tội của một ai đó càng cao hơn, có đủ các tài liệu, chứng cứ
chứng minh hành vi phạm tội hơn. Bị cáo tham gia vào giai đoạn xét xử, là giai
đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án hình sự. Sau khi cơ quan điều tra
đã thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh về mức độ và hành vi phạm tội

xử tại phiên tòa nên bị can không phải trải qua tư cách của bị cáo, bị can sẽ chấm
dứt tư cách bị can tại các giai đoạn mà các quyết định trên được đưa ra. Ngược lại,
bị cáo phải trải qua tư cách của bị can trong các giai đoạn trước giai đoạn xét xử.
Khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, thì người xuất hiện trong phiên tòa với vị trí
người bị buộc tội gọi là bị cáo. Bị cáo là người mà xuất hiện trước đó với tên gọi là
bị can trong giai đoạn điều tra, truy tố, giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự. Vì
trong giai đoạn điều tra, truy tố thì người bị nghi hoặc cho là đã thực hiện hành vi
phạm tội được gọi là bị can. Khi chuyển sang giai đoạn xét xử (khi có quyết định
đưa vụ án ra xét xử) thì người gọi là bị can trong các giai đoạn điều tra, truy tố được
gọi là bị cáo. Khi giai đoạn xét xử diễn ra, thì các giai đoạn tố tụng trước đó cũng
phải được diễn ra liên tục và đúng theo trình tự, đồng nghĩa với việc bị cáo trong
giai đoạn xét xử phải là bị can trong giai đoạn điều tra, truy tố và giai đoạn chuẩn bị
xét xử.
1.1.3. Khái niệm bị can, bị cáo là người chưa thành niên
Khả năng nhận thức có ở mỗi con người từ khi mới sinh ra. Nó phát triển,
hoàn thiện theo sự phát triển của cấu tạo sinh học cơ thể con người qua quá trình lao
động và giáo dục trong xã hội. Ở độ tuổi khác nhau thì nhận thức của con người
cũng khác nhau, đến một độ tuổi nhất định trong đời sống của con người thì khả
năng nhận thức này mới được xem là đầy đủ. Người chưa thành niên là những
người đang trong giai đoạn phát triển hoàn thiện về nhận thức ấy. Khả năng nhận
thức về mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi cũng như khả năng điều khiển
hành vi ở người chưa thành niên cũng thay đổi theo từng độ tuổi khác nhau. Vì vậy,
nhà nước ta đã quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với NCTN, theo đó họ
chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình trong một số loại
tội phạm nhất định, phù hợp với khả năng nhận thức của mình. Cụ thể tại Điều 12
BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) đã quy định về độ tuổi chịu trách
GVHD: Th.S. Mạc Giáng Châu

Trang 12


đủ 16 tuổi trở lên thì được xem là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, có
khả năng nhận thức về mức độ nguy hiểm cho xã hội về hành vi phạm tội của mình
nên họ phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm do mình gây ra.
+ Bị can là NCTN từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi chỉ bị khởi tố về hình sự
về tội đặc biệt nghiêm trọng, và tội cố ý trong trường hợp phạm tội rất nghiêm
trọng. Như vậy, trong độ tuổi này họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội ít
nghiêm trọng, tội nghiêm trọng và cũng như vô ý trong trường hợp rất nghiêm
trọng. Trong độ tuổi này, họ được coi là những người có năng lực TNHS chưa đầy
13

Quy định về độ tuổi chịu TNHS tại Điều 12 BLHS năn 1999, phù hợp với yêu cầu của Công ước Quốc tế về
quyền trẻ em (đã được Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 20/11/1989, có hiệu lực ngày 2/9/1990); điểm a
khoản 3 Điều 40 đã quy định: “3. Các Quốc gia thành viên tìm cách xúc tiến việc hình thành các đạo luật,
các thủ tục, quy định các cơ quan có thẩm quyền và thể chế áp dụng riêng cho những trẻ em bị coi là, bị tố
cáo hay bị thừa nhận là đã vi phạm luật hình sự, đặc biệt là: a) Quy định một hạn tuổi tối thiểu mà những trẻ
em dưới hạn tuổi đó được coi như là không có khả năng vi phạm luật hình sự;”.
14
Năng lực trách nhiệm hình sự là năng lực nhận thức tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và khả năng
điều khiển hành vi đó(khả năng kiềm chế hành vi đó và lựa chọn một hành vi khác. (Bài giảng Luật hình sự
1, TS Phạm Văn Beo, năm 2009).
15
Điều 8, Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

GVHD: Th.S. Mạc Giáng Châu

Trang 13

SVTH: Phan Thị Kim Loan



NCTN từ 14 tuổi trở xuống do không phải là bị can trong vụ án hình sự nên
không trở thành bị cáo trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự.
Nhà nước ta quy định về NCTN chỉ trở thành bị can, bị cáo trong một vụ án
hình sự khi họ đã đạt một độ tuổi nhất định và chỉ phải chịu trách nhiệm về hành vi
của mình về một số loại tội phạm nhất định. Quy định trên xuất phát từ đường lối
của Nhà nước ta về xử lí đối với NCTN phạm tội cũng như xuất phát từ cơ sở cho
rằng những người trong độ tuổi mà năng lực TNHS của họ chưa đầy đủ thì chỉ có
thể nhận thức được một số hành vi nguy hiểm nhất định cho xã hội.

GVHD: Th.S. Mạc Giáng Châu

Trang 14

SVTH: Phan Thị Kim Loan


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Luật – Đại học Cần Thơ

1.2. Cơ sở lý luận về quyền của bị can, bị cáo là người chưa thành niên
1.2.1. Một số nguyên tắc cơ bản liên quan đến bảo vệ quyền của bị can, bị
cáo là người chưa thành niên
Kể từ thời điểm phát hiện có dấu hiệu tội phạm, khởi tố vụ án hình sự đến
khi ra bản án là một khoảng thời gian tương đối dài. Trong khoảng thời gian đó, các
cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện hàng loạt hành vi tố tụng để đạt được
những yêu cầu, mục đích cụ thể. Mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng
với những người tham gia tố tụng là mối quan hệ quyền uy. Nghĩa là, các quyết
định của CQĐT, VKS, Tòa án có tính chất bắt buộc đối với những người tham gia
tố tụng. Nhưng điều đó không có nghĩa là các cơ quan tiến hành tố tụng có thể hành


SVTH: Phan Thị Kim Loan


Luận văn tốt nghiệp

Khoa Luật – Đại học Cần Thơ

Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật còn thể hiện ở chỗ: quá trình
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đối với mọi công dân đều được tiến hành dựa trên
những nguyên tắc và theo một trình tự, thủ tục thống nhất do BLHS quy định,
không có sự ưu tiên hay ngược lại, hạn chế đối với bất kỳ bị can, bị cáo nào và lý do
giới tính, nhân thân, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội của họ.
Và không phân biệt loại tội phạm nào, do ai thực hiện, địa vị xã hội của họ như thế
nào đều phải trải qua tất cả các giai đoạn tố tụng từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử
trong một quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Người tham gia tố tụng (không chỉ riêng bị can, bị cáo) phụ thuộc vào địa vị
pháp lý của họ trong tố tụng hình sự đều được hưởng những quyền và thực hiện
những nghĩa vụ ngang nhau không có một ngoại lệ nào vì lý do giới tính, dân tộc,
tôn giáo, hay địa vị xã hội của họ. Chẳng hạn, bất cứ người nào tham gia TTHS với
tư cách là bị can (hay bị cáo) thì họ đều được hưởng những quyền được quy định tại
Điều 49 (hay Điều 50) BLTTHS năm 2003.
Khi người chưa thành niên thực hiện hành vi phạm tội và đã đủ tuổi chịu
trách nhiệm hình sự theo quy định của BLHS thì không được phân biệt là nam hay
nữ, họ theo dân tộc nào, có theo tín ngưỡng hay không, và địa vị xã hội của họ…thì
đều phải bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án
hình sự, từ giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố đến giai đoạn xét xử, các cơ quan tiến
hành tố tụng phải luôn đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật đối với bị can, bị
cáo là NCTN, không được có sự phân biệt về giới tính, dân tộc, hay họ sống trong
một gia đình có địa vị xã hội như thế nào…mà có sự ưu tiên hay hạn chế đối với bị

không sử dụng được các quyền bị hạn chế đó để tự bảo vệ mình khỏi sự buộc tội
của cơ quan có thẩm quyền, làm cho vụ án trở nên không khách quan, gây oan cho
người vô tội. Vì vậy, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan có thẩm
quyền phải đảm bảo quyền bình đẳng trước pháp luật cho tất cả các bị can, bị cáo là
NCTN.
1.2.1.2. Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân
Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân đã được BLTTHS năm
2003 ghi nhận tại Điều 4: “khi tiến hành tố tụng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Cơ
quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát
viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm trong phạm vi trách
nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân, thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã
áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm
pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa”. Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản
của công dân là một nguyên tắc trong TTHS của nhà nước ta, đáp ứng yêu cầu bảo
đảm đầy đủ các quyền dân chủ cơ bản của công dân đã được Hiến pháp quy định.
Tại chương V Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) ghi nhận những
quyền cơ bản của công dân, cụ thể một số quyền như : quyền bình đẳng trước pháp
luật (Điều 52); quyền tham gia và quản lý xã hội (Điều 53); quyền bầu cử, ứng cử
(Điều 54); quyền lao động (Điều 55); quyền tự do kinh doanh (Điều 57); quyền học
tập (Điều 59); quyền nghiên cứu khoa học (Điều 60); quyền tự do ngôn luận, tự do
báo chí, hội họp, lập hội (Điều 69);…
Trong các giai đoạn TTHS, CQĐT, VKS, Tóa án có quyền áp dụng những
biện pháp cưỡng chế tố tụng đối với bị can, bị cáo (như áp dụng biện pháp ngăn
chặn, hoặc khám xét, thu giữ, kê biên tài sản, cấm đi khỏi nơi cư trú…); và có
quyền hạn chế một số quyền của họ nhưng việc áp dụng những biện pháp cưỡng
chế tố tụng chỉ được coi là cần thiết, là hợp lý khi điều đó xuất phát từ yêu cầu của
thực tế điều tra, giải quyết vụ án. Việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế đó phải
theo quy định của pháp luật. Việc áp dụng những biện pháp đó trong những tình
huống tố tụng cụ thể được coi là giải pháp cần thiết đảm bảo cho quá trình này đạt

quyền cơ bản nào đối với họ. Đối với bị can, bị cáo là NCTN khi muốn áp dụng
biện pháp ngăn chặn nào thì phải căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ mang tính dự
báo về khả năng bị can, bị cáo là NCTN thực hiện hành vi cản trở điều tra, truy tố,
xét xử, tiếp tục phạm tội. Khi áp dụng biện pháp ngăn chặn phải dựa vào một trong
những chứng cứ nếu trên chứ không phải bất kỳ trường hợp nào cũng điều áp dụng
biện pháp ngăn chặn, và việc có hay không có biện pháp ngăn chặn và áp dụng biện
pháp ngăn chặn nào tùy thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, cũng như
nhân thân của bị can, bị cáo là NCTN. Nếu không đảm bảo nguyên tắc này, thì các
cơ quan có thẩm quyền sẽ vi phạm các quyền cơ bản của công dân của bị can, bị
cáo là NCTN đã được Hiến pháp quy định, những biện biện pháp tố tụng đã áp
dụng có thể trái quy định của pháp luật (áp dụng sai đối tượng, sai biện pháp tố
tụng, không đảm bảo các yêu cầu của pháp luật) ảnh hưởng đến quyền và lợi ích
hợp pháp của họ. Như vậy, sẽ làm suy giảm uy tín của Nhà nước ta và làm giảm sút
lòng tin của bị can, bị cáo là NCTN đối với những người có thẩm quyền tố tụng
trong vụ án hình sự. Bị can, bị cáo là NCTN là những người chưa phát triển đầy đủ
về thể chất và tình thần, và chưa có hiểu biết về pháp luật như người đã thành niên;
nên khi tham gia vào quá trình tố tụng hình sự họ chỉ có thể dựa vào các cơ quan tố
tụng giúp họ tìm ra các chứng cứ, tài liệu để làm sáng tỏ vụ án, chứng minh họ vô
tội.
1.2.1.3. Đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về thân thể
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân là một trong quyền tự do
cá nhân quan trọng của công dân, đã được Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung
năm 2001) quy định tại Điều 71: “công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân
thể, được pháp luật bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”. Việc
bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân cũng đã được BLTTHS
GVHD: Th.S. Mạc Giáng Châu

Trang 18

SVTH: Phan Thị Kim Loan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status