Bảo đảm quyền con người đối với người bị bắt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

--------------

PHAN TRUNG THỦY

BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ BẮT
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ

Chuyên ngành : Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số

: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Chu Thị Trang Vân

HÀ NỘI – 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nội dung trong luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nghiên cứu, các trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính
chính xác, tin cậy và trung thực.

Người cam đoan

Phan Trung Thủy

Chương 2 ........................................................................................................ 46
PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN
CON NGƯỜI ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ BẮT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU
TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH............................. 46
2.1. Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền con người đối với
người bị bắt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ........................................ 46
2.1.1. Bảo đảm quyền con người đối với người bị bắt trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự qua các quy định về nguyên tắc tố tụng hình sự ...................... 46
2.1.2. Bảo đảm quyền con người đối với người bị bắt trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự qua các quy định về biện pháp ngăn chặn bắt người ............... 52
2.1.3. Bảo đảm quyền con người đối với người bị bắt trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự qua các quy định về địa vị pháp lý của người bị bắt ............... 64
2.2. Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam 2015 về bảo đảm quyền con người đối
với người bị bắt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
2.2.1. Bảo đảm quyền con người đối với người bị bắt trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự qua các quy định về nguyên tắc tố tụng hình sự
2.2.2. Bảo đảm quyền con người đối với người bị bắt trong giai đoạn điều tra
vụ án hình sự qua các quy định địa vị pháp lý
2.3. Thực tiễn thi hành pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền
con người đối với người bị bắt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ........... 69
2.3.1. Kết quả đạt được: .................................................................................. 69
2.3.2. Những tồn tại, hạn chế .......................................................................... 75
2.3.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế ............................................. 81
Chương 3 ........................................................................................................ 85
GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI ĐỐI VỚI NGƯỜI BỊ
BẮT TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ...................... 85


3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con
người đối với người bị bắt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ................. 85

Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sử xã hội loài
người, là một trong những giá trị tinh thần quý báu và cao cả nhất của nền văn
minh nhân loại trong thời đại hiện nay. Ở Việt Nam, bảo đảm quyền con người
đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm, chú trọng. Điều này
được thể hiện

thành quả về xây dựng lý luận về bảo vệ quyền con người cũng

như thực tiễn bảo đảm quyền con người.
Trong các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, biện pháp ngăn
chặn bắt là biện pháp mang tính cưỡng chế tố tụng tương đối nghiêm khắc, có
nguy cơ xâm phạm tới quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do thân
thể và cá nhân của người bị áp dụng. Do đó, trong việc áp dụng biện pháp
ngăn chặn bắt thì quyền của người bị bắt có nguy cơ bị đe dọa rất cao. Chính
vì vậy, bảo đảm quyền con người của người bị bắt là vấn đề rất quan trọng
trong cả quá trình bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự nói chung
và trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự nói riêng.
Hoạt động tố tụng hình sự là một mặt hoạt động của Nhà nước liên
quan rất chặt chẽ với quyền con người. Hoạt động tố tụng hình sự là nơi các
biện pháp cưỡng chế Nhà nước được áp dụng phổ biến nhất; và vì vậy là nơi
quyền con người của các chủ thể tố tụng, đặc biệt là người bị bắt, có nguy cơ
dễ bị xâm hại nhất. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử trong những năm qua
cho thấy rằng cũng còn nhiều trường hợp vi phạm quyền con người trong quá
trình tiến hành tố tụng. Những vi phạm đó xảy ra là do nhiều nguyên nhân,
trong đó có bất cập, hạn chế của pháp luật, cơ chế, nhận thức, thái độ của
người tiến hành tố tụng, các quy định về chế độ trách nhiệm của Nhà nước, cơ

1



quyền con người nói chung, quyền con người trong hoạt động tư pháp cũng
như quyền con người trong tố tụng hình sự đặc biệt cũng có những công trình

2


đã nghiên cứu một cách trực tiếp về vấn đề bảo đảm quyền con người trong
việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong đó có biện pháp ngăn chặn bắt
người. Các công trình nghiên cứu đã công bố có thể được phân thành các
nhóm sau đây:
- Từ góc độ nghiên cứu về bảo đảm quyền con người nói chung trong
Nhà nước pháp quyền có các công trình như sau: Hoàng Văn Hảo và Phạm
Ích Khiêm đồng chủ trì,"Quyền con người trong thế giới hiện đại", Sách
chuyên khảo, Nxb. Khoa học xã hội (1995); Trần Ngọc Đường"Quyền con
người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt
Nam”, Sách chuyên khảo, Nxb. Chính trị quốc gia (1997);Đinh Văn
Mậu"Quyền lực Nhà nước và quyền con người", Sách chuyên khảo,
Nxb.Chính trị quốc gia (2002).
Ngoài ra còn có thể kể đến bài báo khoa học đã được đăng tải trên tạp
chí chuyên ngành như: Tường Duy Kiên, "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam với việc bảo đảm quyền con người", Tạp chí Nhà nước và
pháp luật, số 5(2005);
- Từ góc độ pháp luật chuyên ngành, cũng đã có nhiều công trình về
bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự được công bố. Trong
số các công trình này có: Nguyễn Huy Hoàng, "Bảo đảm quyền con người
trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam hiện nay”,Luận án tiến sĩ luật học, Học
viện Chính trị quốc gia (2003); Trần Quang Tiệp,"Bảo vệ quyền con người
trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam", Sách chuyên khảo, Nxb.
Chính trị quốc gia (2004); Lê Văn Cảm, Nguyễn Ngọc Chí, Trịnh Quốc Toản
đồng chủ trì, “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố

quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói riêng. Tuy nhiên cho đến
hiện nay chưa có công trình nghiên cứu

4

cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học


nào tìm hiểu về bảo đảm quyền con người của người bị bắt trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ s làm rõ những vấn đề lý luận bảo đảm quyền con người của
người bị bắt trong giai đoạn điều tra, đồng thời nghiên cứu thực trạng quy
định pháp luật cũng như thực tiễn hoạt động bắt người trong giai đoạn điều
tra, luận văn làm sáng tỏ những bất cập hạn chế, để đưa ra những kiến nghị và
giải pháp tăng cường bảo đảm quyền con người của người bị bắt trong giai
đoạn điều tra vụ án hình sự.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về quyền con người, quyền công dân và
bảo đảm quyền con người của người bị bắt trong giai đoạn điều tra; làm rõ
những đòi hỏi đặc thù trong bảo đảm quyền con người của người bị bắt trong
giai đoạn điều tra.
- Nghiên cứu kinh nghiệm của pháp luật quốc tế về bảo đảm quyền con
người trong giai đoạn điều tra;
- Phân tích các quy định của Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật tố tụng
hình sự 2003, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến bảo đảm quyền
con người của người bị bắt; tìm ra những hạn chế và bất cập về bảo đảm
quyền con người của người bị bắt trong thực tiễn điều tra vụ án hình sự;

thực trạng của vấn đề này sẽ góp phần hoàn thiện pháp luật TTHS, đem đến
sự nhận thức đúng đắn đối với các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm mục đích
cuối cùng là bảo đảm quyền con người của người bị bắt trong giai đoạn điều
tra vụ án hình sự trong thực tế.
6.2. Những đóng góp mới của luận án

6


Thứ nhất, nghiên cứu, đề xuất một số khái niệm về "Quyền con người của
người bị bắt trong giai đoạn điều tra" và "Bảo đảm quyền con người của người
bị bắttrong giai đoạn điều tra theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam" đồng thời
nghiên cứu một cách tổng thể vấn đề quy định của pháp luật về quyền của người
bị bắt trong tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành;
Thứ hai, đánh giá đầy đủ, hoàn chỉnh qua đó làm rõ những bất cập, thiếu
sót, vướng mắc đối với các quy định của BLTTHS 2003 trong việc bảo vệ quyền
con người của người bị bắt trong giai đoạn điều tra cũng như thực tiễn áp dụng;
Thứ ba, nghiên cứu, đề xuất việc xây dựng bổ sung những quy định thể
chế; thiết chế về bảo đảm quyền con người trong giai đoạn điều tra.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần m đầu, kết luận, các bảng biểu và danh mục tài liệu tham
khảo, đề tài được kết cấu làm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền con người đối với
người bị bắt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Chương 2: Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về bảo đảm quyền con
người đối với người bị bắt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự và thực tiễn
thi hành.
Chương 3: Giải pháp bảo đảm quyền con người đối với người bị bắt
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.




con người của chủ thể bị áp dụng thường khó khăn hơn các biện pháp tạm
giữ, tạm giam.
Trước khi tìm hiểu về khái niệm người bị bắt, chúng ta cùng tìm hiểu
về khái niệm bắt người - với tư cách là một biện pháp ngăn chặn trong TTHS.
Bắt hiểu theo nghĩa rộng: Bắt không phải là biện pháp trừng phạt của
pháp luật đối với người phạm tội mà là biện pháp ngăn chặn của hoạt động
TTHS. Bắt đúng người, bắt kịp thời có tác dụng ngăn chặn mọi âm mưu và
thủ đoạn chống đối của người phạm tội, không cho họ tiếp tục phạm tội, che
giấu, trốn tránh hoặc gây khó khăn cho việc xác định sự thật để giải quyết vụ
án.
Bắt hiểu theo nghĩa hẹp: Đối với cá nhân người bị bắt là sự hạn chế một
số quyền tự do của cá nhân, là điểm kh i đầu sự trừng phạt củapháp luật nếu
người đó là người thực hiện hành vi phạm tội, b i vì khi thi hành án, thời gian
tạm giữ, tạm giam được khấu trừ vào thời gian thi hành án.
Bắt không theo quy định của pháp luật: bắt nhầm (bắt oan, sai) người
vô tội sẽ gây một tác hại rất lớn, không những các quy định của pháp luật bị
vi phạm, mà quyền bất khả xâm phạm của con người bị xâm hại, ảnh hư ng
đến quyền lợi của công dân được pháp luật bảo hộ. Điều này dẫn đến việc,
yêu cầu bảo đảm quyền con người của người bị bắt là rất cần thiết. B i lẽ
người bị bắt trong TTHS thường có nguy cơ cao bị xâm phạm tới các quyền
con người cơ bản trong đó có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Từ đó
việc bắt người trái pháp luật ảnh hư ng xấu đến lòng tin của nhân dân đối với
cơ quan bảo vệ pháp luật, tạo điều kiện cho các thế lực thù địch lợi dụng
chiêu bài nhân quyền để chống phá Nhà nước ta. Vì vậy, khi bắt người phải
thể hiện thái độ kiên quyết đấu tranh chống tội phạm, song cũng phải thận
trọng khi xem xét đánh giá chứng cứ. Quá trình thực hiện BLTTHS các cơ

9


tội của họ, ngăn ngừa họ trốn tránh pháp luật tạo điều kiện thuận lợi cho việc
điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
Tiếp theo chúng ta đi tìm hiểu về khái niệm người bị bắt. Khái niệm
này được xây dựng dựa trên cơ s của khái niệm biện pháp ngăn chặn bắt
người. Người bị bắt là chủ thể bị các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc các chủ
thể khác theo quy định của BLTTHS áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người
thuộc một trong ba trường hợp: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Bắt người
trong trường hợp khẩn cấp; Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã.
Theo đó, có thể hiểu khái niệm người bị bắt nói chung là người bị áp dụng
biện pháp ngăn chặn bắt người do các chủ thể được quy định trong BLTTHS
hình sự tiến hành theo thủ tục được pháp luật quy định. Hiện nay BLTTHS
chưa quy định khái niệm người bị bắt mà chỉ quy định các trường hợp bắt
người, đồng thời cũng đưa ra khái niệm người bị tạm giữ. Theo quy định của
Điều 48 BLTTHS thì: Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn
cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm
tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ [28]. Điều này có
nghĩa, các trường hợp người bị bắt sau đó chuyển hóa thành tư cách tố tụng
của người bị tạm giữ, b i lẽ người bị tạm giữ sau khi bị áp dụng biện pháp
ngăn chặn bắt quả tang, bắt đang bị truy nã, bắt khẩn cấp và có quyết định
tạm giữ thì tr thành chủ thể tố tụng này.
Nghiên cứu giai đoạn điều tra vụ án hình sự ta thấy, giai đoạn điều tra
được xác định từ khi có quyết định kh i tố vụ án hình sự cho đến khi hoặc là
có quyết định kết luận điều tra, đề nghị truy tố, hoặc kết luận điều tra, đình chỉ
vụ án. Như vậy trong giai đoạn điều tra chỉ có sự xuất hiện của người có
những tư cách tố tụng là người bị tạm giữ hoặc bị can mà không có người có
tư cách bị cáo. B i lẽ theo Điều 50 BLTTHS thì: Bị cáo là người đã bị Tòa án
quyết định đưa ra xét xử. Như vậy, đối với người bị bắt trong giai đoạn điều
11



Thứ nhất, người bị bắt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là người
bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người. Biện pháp này được tiến hành theo
đúng trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định, với các điều kiện về căn cứ bắt,
chủ thể bắt, thủ tục bắt rất chặt chẽ. B i lẽ, bắt người cũng như các biện pháp
ngăn chặn khác là các biện pháp hạn chế quyền con người của người bị áp
dụng. Do đó, khi áp dụng biện pháp bắt cũng như các biện pháp ngăn chặn
khác thường có tác động tới các quyền cơ bản của con người như quyền bất
khả xâm phạm về thân thể... Chính vì vậy, nghiên cứu về việc bảo đảm quyền
con người của người bị bắt là rất quan trọng.
Thứ hai, người bị bắt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự bị tiến
hành áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt người nhưng không phải trong mọi
trường hợp bắt. Theo quy định của BLTTHS thì hiện nay quy định ba trường
hợp bắt là: Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Bắt người trong trường hợp khẩn
cấp; Bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã. Tuy nhiên, để phù hợp
với giai đoạn điều tra vụ án hình sự thì biện pháp bắt người chỉ áp dụng đối
với trường hợp bắt bị can để tạm giam; bắt người trong trường hợp khẩn cấp;
bắt người đang phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã. B i lẽ nếu đã xác định
là bị cáo trong vụ án hình sự thì là người đã có quyết định đưa ra xét xử. Như
vậy, giai đoạn này thuộc giai đoạn xét xử vụ án hình sự. Việc xác định phạm
vi người bị bắt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự có vai trò quan trọng
trong việc giới hạn đối tượng người bị bắt trong giai đoạn điều tra.
Thứ ba, người bị bắt trong giai đoạn điều tra là người sau khi bị áp
dụng biện pháp bắt người thì họ là người tiếp theo bị áp dụng các biện pháp
ngăn chặn khác. Đó là các biện pháp tạm giữ, tạm giam hoặc một số biện
pháp ngăn chặn được quy định trong BLTTHS năm 2003. Điều này cho thấy,
biện pháp bắt người khi kết hợp với các biện pháp ngăn chặn khác mới đảm

13



Tất cả các nhà nghiên cứu đều chỉ ra rằng, điều tra là một giai đoạn
của tố tụng hình sự. Theo đó, giai đoạn điều tra chiếm một vị trí quan trọng
trong TTHS. Theo quan điểm thống nhất hiện nay, giai đoạn điều tra vụ án
hình sự là giai đoạn thứ hai của quá trình tố tụng hình sự được BLTTHS quy
định trong 6 chương, từ chương VIII đến chương XIII. Giai đoạn điều tra
được xác định bắt đầu từ khi có quyết định kh i tố vụ án hình sự cho đến khi
CQĐT chuyển toàn bộ hồ sơ tài liệu và kết luận điều tra sang VKS đề nghị
truy tố. Tuy nhiên, trong một số trường hợp khi có đủ các căn cứ do pháp
luật quy định thì vụ án bị đình chỉ điều tra và tất nhiên các hoạt động tố tụng
trong giai đoạn điều tra đối với vụ án đó sẽ chấm dứt, nên trong trường hợp
vụ án bị đình chỉ điều tra thì cũng được coi là thời điểm chấm dứt giai đoạn
điều tra vụ án.
Khoảng thời gian bắt đầu cho đến khi kết thúc của giai đoạn điều tra
được Luật tố tụng hình sự quy định khá cụ thể, theo đó thời hạn điều tra (kể
cả các lần gia hạn điều tra) đối với tội ít nghiêm trọng tối đa không quá 4
tháng, đối với tội nghiêm trọng không quá 8 tháng, đối với tội rất nghiêm
trọng không quá 12 tháng, đối với tội đặc biệt nghiêm trọng không quá 20
tháng kể từ khi các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định kh i tố vụ án hình
sự. Riêng đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia ngoài các thời hạn điều tra
nêu trên thì Viện trư ng VKSNDTC có quyền gia hạn thêm khi thấy cần thiết,
thời hạn gia hạn thêm không quy định cụ thể mà tùy vào tính chất phức tạp
của vụ án mà Viện trư ng VKSNDTC ấn định thời gian gia hạn.
Nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là rất quan trọng trong quá trình giải
quyết vụ án hình sự, b i kết quả của hoạt động điều tra là để phục vụ cho việc
xét xử của Tòa án, mọi quyết định của Tòa án về sự việc phạm tội và người thực
hiện tội phạm đều phải dựa trên cơ s các chứng cứ đã thu thập được giai đoạn
điều tra. Cho nên nhiệm vụ của giai đoạn điều tra là cơ quan tiến hành tố tụng
15



chứng minh tội phạm và người phạm tội, làm rõ các tình tiết liên quan đến vụ
án bao gồm cả tình tiết buộc tội và tình tiết gỡ tội, các tình tiết tăng nặng và
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xác định nguyên nhân và điều kiện phạm tội để
kiến nghị với các cấp các ngành thực hiện biện pháp phòng ngừa tội phạm.
Thứ ba, chủ thể thực hiện các hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều
chỉ là CQĐT hoặc các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động
điều tra. Các tài liệu do chính hoạt động của các chủ thể nói trên tiến hành thu
thập mới được coi là những chứng cứ làm cơ s cho việc truy cứu trách nhiệm
hình sự. Còn các tài liệu có liên quan đến vụ án do các hoạt động khác cung
cấp như hoạt động trinh sát thì phải được CQĐT kiểm tra và thẩm định lại thì
mới được coi là chứng cứ để chứng minh tội phạm.
Thứ tư, biện pháp mà các chủ thể áp dụng trong giai đoạn điều tra là
mọi biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định, việc áp dụng các biện pháp
đó tùy thuộc vào tính chất, mức độ của từng vụ án. Cụ thể các biện pháp đó
là: Hỏi cung bị can; lấy lời khai người làm chứng; lấy lời khai người bị hại;
tạm giam; cấm đi khỏi nơi cư trú; khám xét khẩn cấp; bắt tạm giam v.v... Các
biện pháp được áp dụng phải theo đúng quy định của Luật tố tụng hình sự [6,
tr.63].
1.2. Khái niệm, đặc điểm quyền con người, bảo đảm quyền con
người trong tố tụng hình sự và bảo đảm quyền con người đối với người bị
bắt trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm quyền con người
Quyền con người là một vấn đề khá phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh
vực như đạo đức, chính trị, pháp lý... Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định
nghĩa về quyền con người, mỗi định nghĩa tiếp cận quyền con người theo
những góc độ khác nhau. Một định nghĩa rất phổ biến thường được trích dẫn
b i các học giả theo học thuyết quyền tự nhiên: Quyền con người là những

17

công dân. Quyền con người là quyền được áp dụng cho tất cả mọi người

18


thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phân biệt
quốc tịch, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia hay tư cách cá nhân của
chủ thể, thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng nhân loại.
Quyền công dân là khái niệm gắn liền với Nhà nước, thể hiện mối quan hệ
giữa công dân với Nhà nước, được xác định b i chế định quốc tịch. Quyền công
dân là tập hợp những quyền con người được pháp luật của một nước ghi nhận và
chỉ những người mang quốc tịch của một nước thì mới được hư ng các quyền
công dân mà pháp luật nước đó quy định. Ví dụ: theo Điều 27 Hiến pháp năm
2013 thì công dân đủ 18 tuổi tr lên đều có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt
tuổi tr lên đều có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân [30].
Các đặc điểm (tính chất) của quyền con người. Quyền con người có
những tính chất cơ bản sau đây:
- Tính phổ biến:
Tính phổ biến của quyền con người thể hiện

chỗ quyền con người

được áp dụng chung cho tất cả mọi người, không phân biệt màu da, dân tộc,
giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân. Con người, dù

trong những

chế độ xã hội riêng biệt, thuộc những truyền thống văn hóa khác nhau vẫn
được công nhận là con người và được hư ng những quyền và sự tự do cơ bản
[23, tr.42].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status