Áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐOÀN THANH LÂM

ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN ĐỐI VỚI
NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐOÀN THANH LÂM

ÁP DỤNG HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN ĐỐI VỚI
NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. ĐINH THỊ MAI

HÀ NỘI, năm 2019


PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM
TỘI.................................................................................................................. 47
3.1. Các quan điểm về bảo đảm áp dụng đúng hình phạt tù có thời hạn đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội............................................................................ 47
3.2. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng hình phạt tù có thời hạn đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội............................................................................ 55
KẾT LUẬN .................................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự
BLHS năm 2015: Được hiểu là BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017
BLHS năm 1999: Được hiểu là BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009
HĐXX: Hội đồng xét xử
TAND: Tòa án nhân dân
TNHS: Trách nhiệm hình sự


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1:Tình hình công tác thụ lý, giải quyết các vụ án hình sự của
Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An giai đoạn từ năm 2013 đến
năm 2018 ......................................................................................................... 31
Bảng 2.2:Loại tội mà người dưới 18 tuổi đã bị xét xử ởTòa án nhân dân
huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An từ năm 2013 đến năm 2018 ........................ 32
Bảng 2.3:Cơ cấu hình phạt mà Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh
Long An áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ năm 2013 đến năm
2018 ................................................................................................................. 33



hình phạt còn lại. Nguyên nhân chính xuất phát từ tính chất và mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nên không áp dụng hình phạt tù có thời
hạn thì không đảm bảo trong việc giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Ngoài
ra, còn nguyên nhân khác là do nhận thức của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng và các quy định của BLHS còn hạn chế, làm cho hiệu
quả áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không cao.
Do đó, học viên lựa chọn đề tài “Áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn huyện Cần Giuộc, tỉnh Long
An”đểlàm luận văn thạc sỹ luật học của mình. Luận văn sẽ góp phần hoàn
thiện về mặt lý luận và thực tiễn trong việc xử lý đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chế định hình phạt nói chung và hình phạt áp dụng đối với người dưới
18 tuổi phạm tội ở nước ta nói riêngđã có các công trình khoa học đề cập trực
tiếp hoặc gián tiếp như: Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Phạm Mạnh
Hùng: “Chế định TNHS theo luật hình sự Việt Nam”, năm 2000; Luận án tiến
sĩ luật học của tác giả Nguyễn Sơn: “Các hình phạt chính trong luật hình sự
Việt Nam”, năm 2013;PGS.TS. Trần Đình Nhã (2003), “Chương XXIV –
TNHS đối với người chưa thành niên phạm tội”, trong sách Giáo trình Luật
hình sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, (GS.TS. Võ Khánh Vinh
chủ biên); TS. Hoàng Văn Hùng (2000), “Chương XVI – TNHS đối với người
chưa thành niên phạm tội”, trong sách Giáo trình Luật hình sự Việt Nam,
Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, (GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa chủ biên); Luận
án tiến sĩ luật học của tác giả Dương Tuyết Miên: “Quyết định hình phạt
trong luật hình sự Việt Nam”, năm 2003; Luận văn thạc sỹ luật học của tác
giả Lê Thị Diễm Hằng: “Hình phạt tù có thời hạn đối với người chưa thành
niên phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An”,
2



- Phân tích các quy định của BLHS hiện hành liên quan đến các quy
định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, về hình phạt tù có thời hạn đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội.
- Đánh giá thực tiễn áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội tại TAND huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
- Đưa ra những yêu cầu và giải pháp nhằm hạn chế áp dụng hình phạt
tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật hình sự Việt Nam
về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Nghiên
cứu thực tiễn áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội thông qua thực tiễn tại TAND huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của
pháp luật hình sự về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội, trong phạm vi địa bàn huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An giai đoạn từ
năm 2013 đến năm 2018.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1.Cơ sở lý luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam về chính sách hình sự, đường lối xử lý hình sự đối với người dưới
18 tuổi phạm tội, đặc biệt là các quan điểm về giáo dục, phòng ngừa tội phạm
đối với người dưới 18 tuổi.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu là: Phương pháp tổng
4



PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM
TỘI
1.1. Khái niệm
1.1.1. Khái niệm hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội
Ở trên thế giới, người chưa thành niên là thuật ngữ được dùng phổ biến
cho nhiều ngành khoa học khác nhau như: tâm lý, xã hội, giáo dục và pháp
luật. Trong khoa học luật hình sự, khái niệm này được dùng để chỉ đối tượng
tác động của tội phạm và chủ thể của tội phạm. So với các BLHS trước đây,
thì BLHS năm 2015 đã không còn sử dụng thuật ngữ người chưa thành niên
phạm tội, mà sử dụng thuật ngữ người dưới 18 tuổi phạm tội và có quy định
rõ hơn về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
BLHS năm 2015 quy định người dưới 18 tuổi phạm tội là những người
từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, một người từ đủ 14
tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thực hiện một hành vi được coi là tội phạm, thì đòi
hỏi người này vừa phải thỏa mãn điều kiện về chủ thể của tội phạm được quy
định tại Điều 12 BLHS năm 2015, vừa phải thỏa mãn điều kiện về năng lực
TNHS, tức là không thuộc trường hợp không có năng lực TNHS được quy
định tại Điều 21 BLHS năm 2015.Năng lực TNHS và đạt độ tuổi nhất định
theo luật định là các dấu hiệu bắt buộc để coi một người là chủ thể của tội
phạm [39,tr.180].Năng lực TNHS là khả năng nhận thức ý nghĩa xã hội của
hành vi do mình thực hiện và khả năng điều khiển hành vi của mình theo
những đòi hỏi và chuẩn mực của xã hội. Chỉ một người có khả năng nhận
thức và điều khiển hành vi của mình, thì mới bị coi là có lỗi, có khả năng tiếp
thu được những biện pháp tác động mang tính giáo dục của xã hội và trở
thành chủ thể của tội phạm.
6


Ở các nước trên thế giới, có sự quy định khác nhau về độ tuổi chịu

đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục họ, làm cho họ
thấy được tính chất của tội phạm, sự nghiêm minh của pháp luật và bản chất
nhân đạo của các biện pháp áp dụng. Trong trường hợp bắt buộc phải áp dụng
hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì mức hình
phạt cũng phải thấp hơn người đã thành niên. Tại Điều 101 BLHS năm 2015
quy định:
“Mức phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
được quy định như sau:
1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều
luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức
hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn
thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù
mà điều luật quy định;
2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều
luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức
hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn
thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù
mà điều luật quy định” [27].
Từ sự phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm hình phạt tù có thời hạn
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như sau: Hình phạt tù có thời hạn đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội là loại hình phạt nghiêm khắc nhất,hình phạt này
buộc người bị kết án phải cách ly ra khỏi môi trường xã hội bình thường và
phải chịu sự giám sát, giáo dục tại trại giam trong một thời gian nhất định.
Mức tối thiểu của hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi là 03
tháng tù và mức tối đa là 18 năm tù.

8


1.1.2. Khái niệm áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới

Do đó, áp dụng hình phạt là giai đoạn có ý nghĩa rất quan trọng của quá
trình áp dụng pháp luật hình sự do HĐXX tiến hành đối với người phạm tội
theo một trật tự pháp lý nhất định. Để áp dụng hình phạt đối với người phạm
tội, Tòa án phải căn cứ vào kết quả của các giai đoạn tố tụng: điều tra, truy tố
và kết quả hoạt động của mình để lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt
phù hợp.Người dưới 18 tuổi phạm tội là đối tượng đặc biệt, bản thân người
phạm tội chưa nhận thức một cách đầy đủ tính chất và mức độ nguy hiểm cho
xã hội của hành vi phạm tội mà mình gây ra. Việc xử lý người dưới 18 tuổi
phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sữa chữa sai lầm, phát triển lành
mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội [40,tr.470].Khi áp dụng hình
phạt đối với họ thì cũng nhằm đạt được mục đích nêu trên. Do đó, đòi hỏi
HĐXX phải là người nắm bắt được đặc điểm tâm - sinh lý của người dưới 18
tuổi phạm tội.
Đối với hình phạt tù có thời hạn là loại hình phạt nghiêm khắc nhất đối
với người dưới 18 tuổi, là loại hình phạt tước tự do của người bị kết án, buộc
họ phải cách ly khỏi môi trường xã hội bình thường trong một gian nhất định.
Hình phạt này chỉ được lựa chọn để áp dụng, trong trường hợp áp dụng các
hình phạt và biện pháp giáo dục khác sẽ không đạt được mục đích giáo dục
riêng đối với người phạm tội và phòng ngừa chung những hành vi vi phạm có
thể xảy ra trong xã hội.Xuất phát từ đặc điểm riêng của người phạm tội dưới
18 tuổi và tính chất của hình phạt tù, đòi hỏi HĐXX phải cân nhắc kỹ xem có
cần áp dụng hình phạt tù đối với họ hay không? Đây cũng là nguyên tắc khi
quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được quy định tại
khoản 6 Điều 91 BLHS năm 2015. Do đó, HĐXX phải có quyết định chính
xác để lựa chọn loại hình phạt và mức hình phạt áp dụng đối với người dưới
18 tuổi phạm tội nhằm đạt được mục đích của hình phạt.
Trên cơ sở phân tích nêu trên, áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với
10



Đây là nguyên tắc đầu tiên và có ý nghĩa quan trọng đối với những
nguyên tắc còn lại. Người dưới 18 tuổi phạm tội, bản thân họ không nhận
thức đầy đủ về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm
tội, do họ chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm sinh lý. Vì vậy, việc xử lý
hình sự đối với họ phải đảm bảo lợi ích tốt nhất cho họ. Bởi vì, mục đích quan
trọng nhất khi xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội là giáo dục, phòng ngừa,
giúp họ nhận ra và sửa chữa sai lầm của bản thân, trở thành công dân có ích
cho xã hội. So với BLHS năm 1999 thì BLHS năm 2015 đã bổ sung quy định
“Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng
nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội,
nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm” [8]. Sự bổ sung một cách cụ thể,
rõ ràng này hạn chế tình trạng các trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ
cần áp dụng biện pháp xử lý khác, nhưng lại bị truy cứu TNHS và bị áp dụng
hình phạt.
Quy định này đòi hỏi trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan
tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải xác định rõ độ tuổi của
người phạm tội. Bởi vì, độ tuổi là căn cứ quan trọng và là đầu tiên để xác định
một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có năng lực TNHS hay
không? “Người có sự phát triển bình thường về tâm – sinh lí sẽ có năng lực
TNHS khi đã đạt độ tuổi nhất định – tuổi chịu TNHS” [34,tr.91]. Tuy nhiên,
có những trường hợp họ đạt đến độ tuổi phải chịu TNHS, nhưng họ vẫn
không phải chịu TNHS do bị bệnh liên quan đến hoạt động tâm thần, làm cho
họ không có năng lực TNHS. Người không có năng lực TNHS do mắc bệnh
như vậy gọi là người trong tình trạng không có năng lực TNHS. Do đó, đòi
hỏi cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng phải làm rõ khả năng
nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Bên cạnh đó, phải xác định được nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.
12



TNHS đối với cả người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm
trọng trừ các tội quy định tại Điều 123 (tội giết người); Điều 134 (tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; Điều 141 (tội hiếp
dâm); Điều 142 (tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi); Điều 144 (tội cưỡng dâm
người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi); Điều 150 (tội mua bán người); Điều
151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi); Điều 168 (tội cướp tài sản); Điều 171
(tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249
(tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất
ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm
đoạt chất ma túy) và người dưới 18 tuổi là người đồng phạm có vai trò không
đáng kể trong vụ án cũng có thể được miễn TNHS. Việc quy định chi tiết cụ
thể này tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến
hành tố tụng áp dụng pháp luật chính xác.
Nguyên tắc thứ ba: Việc truy cứu TNHS người dưới 18 tuổi phạm tội
chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân
thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu
của việc phòng ngừa tội phạm.
Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến
hành tố tụng trước tiên phải xem xét thật đầy đủ và chính xác các điều kiện về
miễn TNHS, áp dụng biện pháp xử lý khác đối với người phạm tội. Không
phải mọi trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội đều bị truy cứu TNHS, mà
chỉ trong trường hợp cần thiết thì mới truy cứu TNHS. Khi truy cứu TNHS
đối với họ, thì phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa
tội phạm để quyết định có buộc họ chịu hình phạt hay áp dụng biện pháp tư
pháp là giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc miễn hình phạt đối với họ.

14




Nguyên tắc thứ sáu: Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội khi xét thấy các hình phạt và biện pháp giáo
dục khác không có tác dụng răn đe, phòng ngừa. Khi xử phạt tù có thời hạn,
Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án
áp dụng đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội tương ứng và với thời hạn
thích hợp ngắn nhất. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người dưới 18
tuổi phạm tội.
Nguyên tắc này đòi hỏi khi quyết định hình phạt, Tòa án mà cụ thể là
HĐXX phải căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách
nhiệm để xác định loại hình phạt áp dụng đối với họ. Hình phạt tù có thời hạn
là sự lựa chọn cuối cùng khi không thể áp dụng các hình phạt cảnh cáo, phạt
tiền, cải tạo không giam giữ và các biện pháp giáo dục khác. Trường hợp phải
áp dụng hình phạt tù có thời hạn, thì phải lựa chọn và cân nhắc mức hình phạt
phù hợp với thời gian ngắn nhất và trong mọi trường hợp phạm tội thì không
được áp dụng hình phạt bổ sung đối với người phạm tội dưới 18 tuổi. Đây là
quy định thể hiện rõ chính sách xử lý nhân đạo và khoan hồng đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội.
So với khoản 5 Điều 69 BLHS năm 1999 thì nguyên tắc này đã quy
định rõ hơn về các điều kiện áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội. Khoản 5 Điều 69 của BLHS năm 1999 chỉ quy định
“Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội cần hạn chế
áp dụng hình phạt tù”. Quy định như vậy là chưa rõ ràng và chưa đầy đủ về
các điều kiện áp dụng phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Do đó, vì các lý do khác nhau mà có những trường hợp người dưới 18 tuổi
phạm tội chỉ cần áp dụng hình phạt khác vẫn có tác dụng giáo dục, phòng
ngừa nhưng Tòa án vẫn áp dụng hình phạt tù có thời hạn thì cũng không có
16



giữ và các biện pháp giáo dục khác. Đây là loại hình phạt bắt buộc người bị
kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định,
phải chấp hành các quy chế nghiêm ngặt, phải học tập, lao động theo quy định
của pháp luật và phải chịu sự giám sát chặt chẽ của cán bộ trại giam. Người
dưới 18 tuổi phạm tội chỉ bị áp dụng hình phạt tù trong trường hợp thật cần
thiết, khi áp dụng các hình phạt khác hoặc áp dụng các biện pháp xử lý khác
không đạt được mục đích giáo dục cải tạo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Do đó, hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi cũng có các đặc
điểm riêng.Mức phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được
quy định tại Điều 101 BLHS năm 2015 như sau:
“Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều
luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức
hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn
thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù
mà điều luật quy định” [27].
Ví dụ 1: Người từ đủ 16 tuổi cho đến dưới 18 tuổi phạm tội “Giết
người” (khoản 1 Điều 123 BLHS năm 2015 có mức hình phạt cao nhất là tử
hình), trường hợp này họ sẽ bị phạt với mức hình phạt cao nhất là 18 năm tù.
Ví dụ 2: Người từ đủ 16 tuổi cho đến dưới 18 tuổi phạm tội “Cướp giật
tài sản” (khoản 2 Điều 171 BLHS năm 2015 có mức hình phạt cao nhất là 10
năm tù), trường hợp này họ sẽ bị phạt với mức hình phạt cao nhất là 07 năm
06 tháng tù.
“Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều
luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức
hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn
thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù
mà điều luật quy định” [27].
18




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status