Nghiên cứu đánh giá một số hoạt động và chính sách bảo hiểm y tế tại việt nam từ năm 1999 2001 - Pdf 55

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TÊ
TRƯỜNG ĐẠI
Dược
HÀ NỘI
• HỌC




LẾ MẠNH HÙNG

NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ
MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG VÀ CHÍNH SÁCH
BẢO HIểM Y TẾ TẠI VIỆT NAM TỪ NĂM 1999 - 2001

LUẬN
VÃN THẠC
SỸ Dược
HỌC
*




CHUYÊN NGÀNH
MÃ SỐ

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
NƠI THỰC HIỆN


được học tập tại trường Đ ại học Dược H à Nội.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến B ố mẹ, anh chị trong gia đình, hạn bè và
đồng nghiệp của tôi đ ã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập.
Tôi cũng xin cảm ơn lớp Cao học 5, lớp Cao học 7, đặc biệt là nhóm
Chuyên ngành T ổ chức quản lý Dược đ ã cùng tôi vươn tới trong học tập đ ể đạt
được kết quả này.
H à N ội, ngày 5 tháng 12 năm 2002

L ê M ạn h H ùn g


MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ......................................................................................................... 1
PHẦN 1; TỔNG QUAN........................................................................................3
1.1 Sự cần thiết khách quan và tác dụng của Bảo hiểm:................................ 3
1.2 Sự cần thiết và tác dụng của Bảo hiểm Y tế.............................................. 6
1.3 Sơ lược tình hình thực hiện chính sách Bảo hiểm Y tế thế giới

...9

1.4 Bảo hiểm Y tế trong mối quan hệ với Bảo hiểm Xã hội........................21
1.5 Sự hình thành và phát triển chính sách Bảo hiểm Y tế ở Việt Nam ....23
PHẦN 2; ĐỐI TƯỢNG, NỘI DƯNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ú ư
................................................................................................................................. 34
2.1 Đối tượng nghiên cứ u ............................................................................... 34
2.2 Nội dung nghiên cứu

..........................................................................34

2.3 Phương pháp nghiên cứu...........................................................................35

4.1.1. Bàn luận những thành tựu đã đạt được trong hoạt động Bảo hiểm
Y tế .
^

107

4.1.2 Bàn luận về những tồn tại và khó khăn trong hoạt động Bảo hiểm Y
tế ở Việt N a m ............................................................................................ 111
4.2 Kiến nghị một số giải pháp để góp phần phát triển Bảo hiểm Y tế.. 118

KẾT LUẬN.......................................................................................................... 126
1. Đánh giá khả năng cân đối thu chi quỹ khám chữa bệnh Bảo hiểm Y tế
trg 3 năm....................................................................................................126
2. Đánh giá những thành tựu và tổn tại của hoạt động Bảo hiểm Y
tế.................................................................................................................127


QUI ƯỚC CHỮ VIẾT TẮT

BHYT

Bảo hiểm Y tế

BHXH

Bảo hiểm X ã hội

BQ

Bình quân


Nghiệp vụ khai thác.

NV G Đ

N ghiệp vụ G iám định.

TC

Tổ chức

rn i

Thông tin tuyên truyền

IIĐ T

Trung tâm đào tạo
Trung tâm tin học

VP

Văn phòng


KHÁI QUÁT NỘI DƯNG ĐỂ TÀI “NGHIÊN cứ u, ĐÁNH GIÁ
MỘT s ó HOẠT ĐỘNG VÀ CHÍNH SÁCH BHYT TẠI VIỆT NAM TỪ
NĂM 1 9 9 9 - 2 0 0 1 ”

ĐỐI TUƠNG NC

Phircmg
Phương
Phương

pháp
pháp
pháp
pháp
pháp

NỘI DUNG

hồi cứu
phân tích kinh tế
phân tích lô gíc học
bản đồ chính sách
trình bày kết quả nghiên cứu

v Ị k ẾT

QUA NGHIÊN c ứ u

T
H ệ thống tổ chức B H Y T V iệt Nam
giai đoạn 1992 - 1998
Hệ thống tổ chức BH Y T V iệt Nam
giãi đoạn 1998 - 2001
KQ hoạt động thu quỹ BHYT.
K ết quả N C mức phí, phương thức
đóng BHYT.

Năm 1986, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước chuyển đổi
nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước. Cùng với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế là đổi mới trong lĩnh vực chăm
sóc sức khoẻ nhân dân. Để tăng thêm nguồn kinh phí cho ngành Y tế, Nhà nước đã
cho phép thu một phần viện phí tại các cơ sở khám chữa bệnh, đổng thời tìm nguồn
tài chính hợp lý cho công tác khám chữa bệnh ở Việt Nam trong điều kiện xoá bỏ
bao cấp, thực hiện công bằng trong khám chữa bệnh, nâng cao tính cộng đồng và
gắn bó mọi thành viên trong xã hội, chỉ có biện pháp duy nhất đó là thực hiện chính
sách Bảo hiểm Y tế.

I

Bảo hiểm Y tế Việt Nam ra đời theo nghị định 299/HĐBT ngày 15 tháng 8
năm 1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ). Sự ra đời của Bảo hiểm Y tế
là cẩn thiết và phù hợp với nển kinh tế mới, đáp ứng đòi hỏi của mọi thành viên
trong xã hội góp phần giải quyết nhimg vấn đề bức xúc trong hoạt động Y tế nước ta
hiện nay, thể hiện tính nhân đạo xã hội, sự bình đẳng và công bằng trong khám chữa
bệnh. Trong những năm qua, chính sách Bảo hiểm Y tế đã thực sự có hiệu quả trong
việc chăm sóc sức khỏe cho người tham gia Bảo hiểm Y tế, giải quyết mộl phần


ghánh nặng cho ngân sách nhà nước. Để Bảo hiểm Y tế là một chính sách xã hội vì
sự công bằng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân Đảng và Nhà
nước đã định hướng thực hiện chính sách "Bảo hiểm Y tế toàn dân" trong những
năm tiếp theo.
Với mục đích nghiên cứu, tìm hiểu đánh giá thực trạng chung của hoạt động
Bảo hiểm Y tế Việt Nam qua những năm gần đây chúng tôi tiến hành đề tài:
"Nghiên cứu, đánh giá một số hoạt động và chính sách Bảo hiểm Y tê tại Việt
Nam từ năm 1999 - 2001". Nhằm giải quyết mục tiêu:
1. Nghiên cứu, đánh giá hoạt động thu chi quỹ khám chữa bệnh của các đối tượng

(Bảo hiểm Nhân thọ và Bảo hiểm bệnh tật), các rủi ro mới xuất hiện như máy bay,
xe cơ giới. Năm 1945 Bảo hiểm Xã hội ra đời bao gổm:Bảo hiểm bệnh tật (Bảo hiểm
Y tế); Bảo hiểm già yếu; Bảo hiểm tai nạn lao động.
Như vậy, chính sự tồn tại các loại rủi ro là nguồn gốc phát sinh hoạt động dự
trữ bảo hiểm [16],
1.1.2 Sự cần thiết khách quan và tác dụng của Bảo hiểm.
Bảo hiểm là một phần quan trọng trong các chương trình quản lý rủi ro của
các tổ chức cũng như cá nhân. Theo quan điểm của các nhà quản lý rủi ro, bảo hiểm


4
là sự chuyển giao rủi ro trên cơ sở hợp đồng. Theo quan điểm xã hội, bảo hiểm
không chỉ là chuyển giao rủi ro mà còn là sự giảm rủi ro do việc tạp trung một số
lớn các rủi ro có thể tiên đoán về các tổn thất khi chúng xảy ra, bảo hiểm là công cụ
đối phó với hậu quả tổn thất do rủi ro .gây ra, có hiệu quả nhất. Như vậy, bảo hiểm ra
đời là đòi hỏi khách quan của cuộc sống, của hoạt động sản xuất kinh doanh [21].
Bảo hiểm trở nên gần gũi, gắn bó với con người, với các đơn vị sản xuất kinh doanh.
Có được quan hệ đó là vì bảo hiểm đã mang lại lợi ích kinh tế xã hội thiết thực cho
mọi thành viên, mọi đofn vị có tham gia bảo hiểm.
Lợi ích của người tham gia bảo hiểm[21],[22]:
Người tham gia bảo hiểm (cá nhân hay tổ chức) được trợ cấp bồi thường
những thiệt hại thực tế rủi ro, bất ngờ gây ra thuộc phạm vi bảo hiểm. Nhờ đó họ
nhanh chóng ổn định kinh tế, khôi phục đời sống và sản xuất kinh doanh.
Nhờ có bảo hiểm những người tham gia đóng góp một số phí tạo thành nguồn
quỹ bảo hiểm lớn ngoài chi trả hay bổi thường còn là nguồn vốn để đầu tư phát triển
kinh tế.
Bảo hiểm nhất là bảo hiểm thuofng mại còn đóng góp tích luỹ cho ngân sách.
Bảo hiểm cùng với người tham gia bảo hiểm thực hiện các biện pháp để
phòng ngừa tai nạn xảy ra nhằm giảm bót và hạn chế hậu quả thiệt hại.
Bảo hiểm là chỗ dựa tinh thần cho mọi người, mọi tổ chức; giúp họ yên tâm

c ủ a số ít”[21], [30].
Có thể nói, rất khó tìm ra một định nghĩa hoàn hảo có thể phản ánh được bản
chất và bao quát được một lĩnh vực đa dạng như bảo hiểm. Điều có thể chấp nhân là
chúng ta hãy nhìn nhận về bảo hiểm từ một vài góc độ cần thiết, hữu ích cho mục
đích nghiên cứu.
“ Bảo hiểm là hoạt động thể hiện người bảo hiểm cam kết bồi thường (theo
qui luật thống kê) cho người tham gia bảo hiểm với điều kiện người tham gia nộp
một khoản phí cho chính anh ta hoặc người thứ ba”[21]; Điều này có nghĩa là người
tham gia bảo hiểm chuyển giao một phần hoặc toàn bộ rủi ro cho người bảo hiểm
bằng cách nộp khoản phí để hình thành quỹ dự trữ (quỹ Bảo hiểm). Khi người tham
gia gặp rủi ro dẫn đến tổn thất, người bảo hiểm lấy quỹ dự trữ (bảo hiểm) trợ cấp
hoặc bồi thường thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm cho người tham gia Bảo hiểm.
Phạm vi Bảo hiểm là những rủi ro mà người tham gia đăng ký với người Bảo hiểm.
Đây là định nghĩa mang tính chung nhất của bảo hiểm.


Tuy khái niệm về bảo hiểm có khác nhau nhưng mục đích sử dụng quỹ bảo
hiểm là giống nhau: cùng chi trả vật chất cho các đối tượng tham gia bảo hiểm khi
gặp rủi ro. Từ khái niệm về bảo hiểm nêu trên ta có thể đưa ra được những nguyên lý
cơ bản về bảo hiểm như sau [21],[22]:
1. Mục đích của bảo hiểm là góp phần ổn định kinh tế cho người tham gia từ
đó khôi phục và phát triển sản xuất đời sống, đồng thời tạo nguồn vốn cho phát triển
kinh tế và xã hội của đất nước.
2. Hoại động bảo hiểm thực chất là quá trình phân phối lại tổng sản phẩm
trong nước giữa những người tham gia nhằm đáp ứng nhu cầu tài chính phát sinh khi
tai nạn, rủi ro bất ngờ xảy ra gây tổn thất đối với người tham gia bảo hiểm [34].
3. Phân phối trong bảo hiểm là phân phối không đều, không bằng nhau, nghĩa
là không phải ai tham gia cũng được phân phối và phân phối với số tiền như nhau.
Phân phối trong bảo hiểm là phân phối cho số ít người tham gia bảo hiểm kliông
may gặp rủi ro bất ngờ gây thiệt hại đến sản xuất và đời sống trên cơ sở mức thiệt

đồng giúp một số người bị bệnh lâm nạn [3*], [26*].Với nguyên tắc mỗi người đóng
góp một phần thu nhập nhất địnli để tạo quỹ chung gọi là quỹ tương tế để giành cho
những ai bị bệnh, góp phần chi trả giúp cho những người này. Trên cơ sở lấy kinh
phí của số đông người bù đắp cho số ít người khi họ gặp phải rủi ro. Chính sự giúp
đỡ mang tính cộng đồng nhân đạo đó đã tác động tích cực đến nhận thức của người
dân và Chính Phủ của các nước có nền chính trị khác nhau [28*], [29*], [30*], [34].
Năm 1883 ở Cộng hoà liên bang Đức đã thành lập quỹ ốm đau, bắt buộc
công nhân phải đóng góp để hỗ trợ cho những người ốm đau bệnh tật. Đủy là hệ
thống Bảo hiểm Y tế đầu tiên trên thế giới [1*], [34*]. Kể từ đây, nhiều hình thức hỗ
trợ kinh phí cho các hoạt động Y tế đã được phát triển trên khắp thế giới như hệ
thống thuế tài trợ Y tế quốc gia. Theo thời gian, các hệ thống này phát triển không
ngừng hướng tới mục tiêu: “Cải thiện sức khoẻ dân cư bằng sự đảm bảo chăm sóc Y
tế. Cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ thích hợp có chất lượng cao. Duy trì
mức chi phí Y tế ổn định để đảm bảo khả năng sử dụng các dịch vụ Y tế của cộng
đồng”[19], [31]. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, đời sống con người được nâng cao
và nhu cầu khám chữa bệnh cũng tăng lên. Bỏd vì khi điều kiện kinh tế cho phép thì
đù ở trạng thái sức khoẻ nào như: nhức đẩu, mệt mỏi, khó ngủ,... đều có nhu cầu
khám chữa bệnh. Hơn nữa, mô hình bệnh tật ngày càng thay đổi, một số bệnh mới,
nguy hiểm xuất hiện, đe dọa đời sống con người. Trong khi đó chi phí khám chữa
bệnh ngày càng gia tăng vì [33]:
Ngành Y tế sử dụng các trang thiết bị Y tế hiện đại, đắt tiền trong việc chẩn
đoán và điều trị bệnh;


Các loại biệt dược, thuốc men tăng giá do biến động giá cả chung của thị
trưòng. Đặc biệt có những bệnh phải sử dụng thuốc quý hiếm, chi phí rất lófn.
Do đó phải huy động sự đóng góp của các thành viên trong xã hội nhằm giảm
gánh nặng cho ngân sách nhà nước và cũng để phục vụ chính bản thân mình khi gặp
rủi ro về sức khoẻ. Càng ngày chính sách Bảo hiểm Y tế càng tỏ ra không thể thiếu
trong đời sống con người. Bảo hiểm Y tế ra đời có tác dụng thiết thực[3*];

cồng bằng xã hội.
Thứ tư, nâng cao tính cộng đổng và gắn bó mọi thành viên trong xã hội. Trên
cơ sở quy lúílt số lớn, phương châm của Bảo hiểm Y tế là "mình vì mọi người, mọi
người vì mình", “lá lành đùm lá rách” và "lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Vì vậy, mọi
thành viên trong xã hội gắn bó và tính cộng đổng được nâng lên.
1.3

Sơ lược tình hình thực hiện chính sách Bảo hiểm Y tế thế giới.
Cho đến nay, trên thế giởi đã có hcfn một trăm nước thực hiện chính sách Bảo

hiểm Y tế. Dù có hình thức khác nhau, quy mô, phạm vi, đối tượng khác nhau nhưng
đều có chung một bản chất giống nhau là huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể
hay cộng đồng xã hội[3*], [28*], [29*], [30*]. Để đảm bảo cho người tham gia Bảo
hiểm Y tế khi ốm đau được khám chữa bệnh không phải chi trả toàn bộ chi phí mà
chỉ phải đóng góp một phần chi phí. Tuỳ theo điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi
nước, Bảo hiểm Y tế có hệ thống quản lý và chính sách khác nhau, ở các nước phát
triển Bảo hiểm Y tế đã được xã hội hoá ở mức cao, hoạt động Y tế mang tính chất
thị trường, cạnh tranh giữa các hệ thống Y tế (Nhà nước và tư nhân). Bảo hiểm Y tế
nằm trong Bảo hiểm Xã hội và được chính phủ các nước tổ chức thực hiện. Những
nước phát triển có bề dày lịch sử về Bảô hiểm Y tế, họ có những thay đổi trong một
vài lĩnh vực như cải cách phương thức chi trả, duy trì giá dịch vụ, qlian tâm đến Y
học dự phòng và chăm sóc sức khoẻ cho người cao tuổi. Đối với những người làm
công hưỏfng lương, luật pháp nhiều nước đều qui định trách nhiệm của người sử
dụng lao động (chủ doanh nghiệp) phộ đóng góp từ 50% đến 60% mức bảo hiểm,
còn người lao động chỉ đóng góp 34% clến 50% mức bảo hiểm [22], [32].
1.3.1 Tình hình tài chính Y tế và xu hướng cải cách Bảo hiểm Y tế của một số
nước trên th ế giới.
Trong những năm qua, chi phí Y tế của các nước trên thế giới gia tăng nhanh.
Kể cả các nước Châu Á, chi phí Y tế cũng tăng và tăng nhanh hơn so với tốc độ phát
triển kinh tế. Chi phí Y tế bình quân đầu người tại Đài Loan năm 1998 tăng 9,4%


4631

2

Thụy Sỹ

3080

3222

3

Đức

2616

2748

4

Lucxemburg

2613

2713

5

Na Uy


Netherlands

2172

2246

10

Bỉ

2144

2269

(Nguồn: OECD, Health Data, 2002)
í
Chính vì sự gia tăng về chi phí Y tế, nên các quỹ Bảo hiém Y tế của các quốc
gia trên thế giới, kể cả quỹ của các ni*ớc giầu đã liên tục bị bội chi và phải bù từ
ngân sách Nhà nước. Ví dụ quỹ Bảo hiểm Y tế Pháp năm 1996 thiếu hụt tới gần 30
tỷ Francs (6 tỷ USD). Vì vậy, Chính phủ nhiều nước đã thực hiện các biện pháp
quản lý và khống chế chi phí Y tế thông qua cải cách chế độ Bảo hiểm Y tế và hệ
thống chăm sóc sức khoẻ. Điển hình là cuộc cải cách của Thủ tướng Pháp Alain
Jupé ( Đạo luật Jupé II và đạo luật Jupé III ), mà bản chất là điều chỉnh, hạn chế
quyền lợi của người tham gia Bảo hiểm Y tế tại Pháp và triển khai các biện pháp
khống chế chi tiêu của thầy thuốc. Thoả thuận mức khoán chi phí Y tế cho khu vực
khám chữa bệnh ngoại trú, định mức chi tiêu hàng năm cho các bệnh viện nội trú,


11

- Khoảng 85% công dân Mỹ tham gia một trong ba tổ chức Bảo hiểm Y tế
trên, 15% công dân Mỹ không có bất kỳ hình thức Bảo hiểm Y tế nào. Năm 1994,
20% dân số Mỹ tham gia Bảo hiểm Y tế nhà nước, 2/3 dân số tham gia Bảo hiểm Y
tế tư nhân, trong đó có 90% tham gia Bảo hiểm Y tế tại công ty, các doanh nghiệp
mình đang làm việc. Chủ sử dụng lao động trả 70% mức đóng quv định, người lao
động trả 30% phần còn lại. Mỹ là quốc gia có chi phí cao nhất, chi phí Y tế bình


13
quân đầu người của Mỹ khoảng 3600 USD/ năm; chi phí Y tế bình quân mỗi năm
tăng 4,5% GDP, vượt xa tốc độ phát triển kinh tế. Năm 1960 chi phí Y tế chiếm 5%
GDP; năm 1990 chiếm 12%, năm 1993 chiếm 14,1% GDP [4].
Biện pháp khống chế và quản lý chi phí Y tế ở Mỹ là áp dụng phương thức
chi trả theo nhóm chẩn đoán đã mang lại hiệu quả. Kinh nghiệm và các bài học về
khống chế chi phí Y tế của Mỹ trong lĩnh vực tổ chức lại hệ thống thanh toán chi trả
đang được các nước và các tổ chức kinh tế quan tâm (WHO, World Bank) là triển
khai Tổ chức “duy trì sức khoẻ” (HMO, Health Maintenance Organisations)[26].
Năm 1973, Mỹ đã có đạo luật quy định hoạt động của tổ chức này, theo đề nghị của
Tổng thống Nixon. Bản chất tổ chức này là một hệ thống các cơ sở khám chữa bệnh
gồm các Ihầy thuốc tư, các bệnh viện cam kết thực hiện và thực hiện chăm sóc sức
khoẻ, khám chữa bệnh cho người có Bảo hiểm Y tế và phương thức chi trả khoán
quỹ định suất theo số thẻ Bảo hiểm Y tế đăng ký, tổ chức khám chữa bệnh theo
tuyến, bắt đầu từ bác sĩ đa khoa, vai trò của tổ chức này đảm bảo sự quản lý sức
khoẻ ban đầu và sử dụng nguồn tài chính Bảo hiểm Y tế có hiệu quả duy trì chăm lo
sức khoẻ cho người Bảo hiểm Y tế, giúp đỡ người đăng ký khám chữa bệnh, chú
trọng công tác phòng bệnh, phát hiện và điều trị sớm...[4], [27].
Hiện nay, trên 50% dân số Mỹ khám chữa bệnh thông qua tổ chức HMO.
Đáng lưu ý là chính các tổ chức Bảo hiểm Y tế tư nhân tại Mỹ vì sự quan tâm đến an
toàn quỹ Bảo hiểm Y tế đã đóng góp quan trọng cho sự hình thành của tổ chức này.
HMO tập trung vào duy trì sức khoẻ cho người tham gia Bảo hiểm Y tế, quan tâm

bệnh viện, từ đó nâng cao hiệu quả phục VỊI bệnh nhân và tăng quỹ bệnh viện. Bảo
hiểm Y tế vùng nồng thôn gồm nhiều hình thức rất phong phú và đa dạhg như: chăm
sóc Y tế Hợp tác xã, Bảo hiểm Y tế các nguy cơ cao, trợ cấp chăm sóc Y tế... [28*],
[29*], [21].
Mức phí Bảo hiểm Y tế bắt buộc là 11% lương, trong đó người lao động đóng
1%, chủ sử dụng lao động đóng 5% và ngân sách nhà nước đóng góp 5% [28*].
Nhằm nêu cao vai trò trách nhiệm của từng cá nhân trong việc quản lý, sử
dụng quỹ Bảo hiểm Y tế, tránh tình trạng lạm dụng quỹ Bảo hiểm Y tế, đi khám
chữa bệnh lấy thuốc khi chưa thực sự cần thiết, Trung Quốc áp dụng hình thức tài
khoản y tế cá nhân theo mô hình của Singapor. Số tiền 11% đóng Bảo hiểm Y tế
được chia làm 2 phần bằng nhau: 5,5% chuyển vào tài khoản Y tế cá nhân (mỗi
người tham gia Bảo hiểm Y tế có một tài khoản Y tế tại ngân hàng), 5,5% còn lại
chuyển vào quỹ chung của tất cả mọi người tham Bảo hiểm Y tế [28*].


15
Khi đi khám chữa bệnh của mỗi người trước hết được thanh toán từ tài khoản
Y tế cá nhân. Vì vậy, mỗi người tham gia Bảo hiểm Y tế đều có ý thức cân nhắc kỹ
lưỡng xem nhu cầu khám chữa bệnh của mình có thực sự cần thiết không. Khi tiền
từ tài khoản cá nhân đã hết, mỗi người phải tự chi trả chi phí khám chữa bệnh của
mình từ lương tới một tỷ lệ nhất định. Khi chi phí đã vượt cả tỷ lệ đó, quỹ Bảo hiểm
Y tế chung của cộng đồng mới bắt đầu thanh toán chi trả tiếp phẩn chi phí tiếp theo
[4].
Ngoài phương thức chi trả từ tài khoản cá nhân trên, mặc dù mức phí Bảo
hiểm Y tế là 11%, cao hơn mức đóng hiện nay của Bảo hiểm Y tế tại Việt Nam,
hình thức cùng chi trả khám chữa bệnh cũng được thực hiện tại Trung Quốc. Tỷ lệ
cùng trả khác nhau tuỳ từng tỉnh theo điều kiện kinh tế- xã hội; có nơi không chi trả
chi phí khám chữa bệnh ngoại trú. Mức viện phí của Trung Quốc, đặc biệt tại thành
phố lớn (như Thượng Hải, Bắc Kinh) là rất cao, đòi hỏi Bảo hiểm Y tế Trung Quốc
phải thực hiện các biện pháp khống chế và đảm bảo cân đối quỹ thông qua tài khoản

fee-for-service) sang hình thức chi trả theo chẩn đoán (chi khoán gọn theo từng loại
chẩn đoán bệnh, không tính theo chi phí thực tế). Phưcmg thức này được thí điểm
trong năm 1997 và không triển khai tại nhiều bệnh viện từ năm 1999 [24*].
Nhật Bản, quốc gia triển khai Bảo hiểm Y tế bắt buộc theo luật sớm nhất ở
châu Á. Luật Bảo hiểm Y tế bắt buộc cho toàn dân được ban hành vào năm 1961 tại
Nhật Bản. Mô hình Bảo hiểm Y tế tại Nhật trong những năm qua chịu ảnh hưởng lớn
của mô hình Bảo hiểm Y tế tại Cộng hoà liên bang Đức, với nhiều điểm sao chép từ
Bảo hiểm Y tế Đức. Sự giống nhau nổi bật là cùng thực hiện phương thức thanh toán
theo chi phí thực tế và sự đa dạng của quỹ Bảo hiểm Y tế [2*].
Mức phí Bảo hiểm Y tế tại Nhật Bản là 8% lưcmg, tùy thuộc vào từng loại
quỹ Bảo hiểm Y tế. Tuy với mức phí cao, nhưng người Nhật cùng chi trả chi phí
khám chữa bệnh với tỷ lệ từ 10 đến 30%. Mức cùng chi trả đối với cán bộ, công
chức Nhà nước và người lao động trong các doanh nghiệp là 10 -20%; người lao
động tự đo và nông dân cùng chi trả 30% chi phí khám chữa bệnh. Đồng thời, Ngân
sách Nhà nước cùng hỗ trợ thêm cho quỹ Bảo hiểm Y tế của Nhật Bản theo các mức
sau [34*]:
Ngân sách hỗ trợ 13% chi phí khám chữa bệnh cho đối tượng là người lao
động trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Hỗ trợ 12,8 tỷ Yên (năm 1996) cho người lao động trong các doanh nghiệp
lớn.
Hỗ trợ 50% chi phí khám chữa bệnh cho nông dân.


17
Hỗ trợ 32- 52% chi phí khám chữa bệnh cho người lao động tự do.
Hỗ trợ từ 2 0 -3 3 % chi phí khám chữa bệnh của người già.
Tuy vậy, các quỹ Bảo hiểm Y tế tại Nhật liên tục bội chi trong nhiều năm.
Bảo hiểm Y tế Nhật Bản đang tiếp tục cải cách theo hướng trước mắt tăng mức cùng
chi trả, đồng thời triển khai các biện pháp thanh toán chi phí mới thay cho thanh
toán theo giá dịch vụ phí [4].


(J01
đổi pphương
n u u T ig thức
Lxiixc theo
L fico từng
LUTig thời
in c ji -K.y>
kỳ, uđểc thưc
in u c n
hành
u r iii iicL
tiết KỈCĨT1,
kiêm, Va
và nnêu
cu

kic lợi xã hội chung, họ quan tâm đến Y học dự phòng và quan tâm đến
•\ v ^ i'- Ầ.I
n . ....
...
. ..
Từ những năm 80,
Bảo hiểm Y tế nhiều nước trên thế. giới
đã phải


18
quan tâm tới việc tìm những giải pháp để hạn chế và ngăn chặn bùng nổ về chi phí Y
tế, đảm bảo không cho sự tăng trưởng về Y tế cao hơn sự tăng trưởng của thu nhập

nhiều bệnh nhân vào nội trú khi chưa cần và bệnh viện kéo dài ngày điều trị không
cần thiết.
- Chi phí quản lý lớn, do cơ sở Y tế phải dành nhiều thời gian, nhân lực thống kê,
tập hợp số liệu cho kỳ quyết toán. Hầu hết các nước trên thế giới thực hiện phương
thức chi trả theo phí dịch vụ, có áp dụng biện pháp cùng chi trả nhằm khuyên khích


19
không sử dụng các dịch vụ Y tế hoặc các thuốc đắt tiền không cần thiết. Nêu cao
nhận thức và ý thức trách nhiệm của người được bảo hiểm và người cung cấp các
địch vụ Y tế. Biện pháp cùng chi trả hạn chế đáng kể quyền lợi của người tham gia
Bảo hiểm Y tế và khiến cho người bệnh nặng, bệnh mãn tính không có khả năng tài
chính chi trả theo phí dịch vụ. Vì vậy, phải nghiên cứu đề ra những chính sách thích
họfp đảm bảo quyền lợi cho những đối tượng tham gia Bảo hiểm Y tế, nhất là những
bệnh nhân có bệnh nặng và mãn tính.
1.3.3.2 Phươns thức chi trả theo sỉá nsày siườns:
Chi phí mỗi ngày điều trị được cơ quan Bảo hiểm Y tế thanh toán cho các cơ
sở Y tế trong thời gian người bệnh có thẻ Bảo hiểm Y tế nằm viện. Cơ sở tính toán
của phương thírc là dựa trên tổng chi phí khám chữa bệnh thực tế của bệnh nhân
trong thời gian nhất định (một năm) và tổng số ngày giường bệnh điều trị thực tế.
Hai thông số này có thể ấn định vào đầu năm bằng cách sử dụng giá trị các thông số
của năm trước [3*], [4*]. Tuỳ theo tuyến bệnh viện, loại khoa điều trị mà quy định
giá một ngày điều trị, bệnh viện Trung ương cao hơn bệnh viện tuyến tỉnh, bệnh
viện tuyến huyện thấp hơn bệnh viện tuyến tỉnh... Đồng thời, thời gian điều trị được
quy định theo từng bệnh viện khác nhau.
ư u điểm: khả năng khống chế chi phí Y tế và dễ quản lý, chi phí hành
chính thấp, không đòi hỏi phải có biểu lệ phí, cũng không đòi hỏi phải có bảng
thống kê chi tiết các dịch vụ. Nếu xây dựng được đơn giá ngày giường hợp lỷ, có xét
đến đặc điểm kỹ thuật của từng bệnh viện, có thoả thuận về ngày điều trị bình quân
hợp lý cho từng khoa phòng của bệnh viện thì có thể áp dụng phương thức chi trả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status