(Luận văn thạc sĩ) Nhân thân người phạm tội xâm phạm nhân phẩm của con người trên địa bàn tỉnh Bình Dương - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THANH HÒA

NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI XÂM PHẠM
NHÂN PHẨM CỦA CON NGƯỜI TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
TỘI PHẠM HỌC VÀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM

Hà Nội, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THANH HÒA

NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI XÂM PHẠM
NHÂN PHẨM CỦA CON NGƯỜI TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

Ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.05

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. TRẦN HỮU TRÁNG

Hà Nội, 2019

ĐỐI VỚI PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI XÂM PHẠM NHÂN PHẨM CỦA
CON NGƯỜI ...........................................................................................................40
3.1. Quan điểm phòng ngừa tình hình tội xâm phạm nhân phẩm của con người trên
địa bản tỉnh Bình Dương ...........................................................................................41
3.2. Tăng cường phòng ngừa tình hình tội xâm phạm nhân phẩm trên địa bàn tỉnh
Bình Dương từ góc độ nhân thân người phạm tội ....................................................43
KẾT LUẬN ..............................................................................................................50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ANTT

: An ninh trật tự

BLHS

: Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)

CQTHTT : Cơ quan tiến hành tố tụng
TAND

: Tòa án nhân dân

TTATXH

: Trật tự an toàn xã hội

UBND

Bảng 2.9. Cơ cấu của tình hình tội XPNP trên địa bàn tỉnh Bình Dương
giai đoạn 2014 – 2018 theo trình độ học vấn
Bảng 2.10. Cơ cấu của tình hình tội XPNP trên địa bàn tỉnh Bình Dương
giai đoạn 2014 – 2018 theo nghề nghiệp
Bảng 2.11. Cơ cấu của tình hình tội XPNP trên địa bàn tỉnh Bình Dương
giai đoạn 2014 – 2018 theo hoàn cảnh gia đình
Bảng 2.12. Cơ cấu của tình hình tội XPNP trên địa bàn tỉnh Bình Dương
giai đoạn 2014 – 2018 theo nơi cư trú, hộ thường trú
Phiếu 2.13. : Phiếu điều tra xã hội học “Đánh giá vai trò của giáo dục
trong gia đình, nhà trường và bạn bè trong việc giáo dục người chưa thành niên”
Bảng 2.14. Bảng tổng hợp kết quả điều tra xã hội học (300 phiếu điều
tra)


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tỉnh Bình Dương thuộc khu vực miền Đông Nam Bộ. Bình Dương được tái lập
từ ngày 01/01/1997 từ việc tách tỉnh Sông Bé thành hai tỉnh Bình Dương và Bình
Phước Từ giữa những năm 90, với chính sách “Trải chiếu mời gọi đầu tư, trải thảm đỏ
thu hút nhân tài”, Bình Dương đã trỗi dậy với chủ trương đổi mới, được cụ thể hóa
bằng những chính sách thông thoáng, mở đường cho quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa của địa phương. Kinh tế - xã hội của Bình Dương bước đầu đạt những thành
tựu đáng kể, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp - dịch vụ nông nghiệp, bộ mặt đô thị hóa đã được hình thành rõ nét, đã biến vùng đất thuần
nông, khô cằn, kém hiệu quả trở thành những khu, cụm công nghiệp trọng điểm của cả
nước. Đến nay, toàn tỉnh có 32 khu công nghiệp và 14 cụm công nghiệp, với tổng diện
tích hơn 14.800 ha. Tuy nhiên, với sự phát triển kinh tế - xã hội, mặt trái của nền kinh
tế thị trường cùng hàng loạt các vấn đề phát sinh như: Tình trạng nhập cư, cư trú trái
phép gia tăng, diễn biến phức tạp; một bộ phận nhân dân có đời sống kinh tế còn khó
khăn, không việc làm hay việc làm không ổn định; sự phân hóa giàu nghèo, sự xâm
nhập văn hóa độc hại, lối sống thực dụng, các tệ nạn xã hội ngày càng tăng,… đang làm

phạm nói chung; giúp cho việc định tội, định khung, quyết định hình phạt một cách
chính xác; đề ra các biện pháp giáo dục, cải tạo hiệu quả đối với người phạm tội.
Trên phương diện thực tiễn, các CQTHTT tại tỉnh Bình Dương từ lâu đã chú
trọng sử dụng các đặc điểm nhân thân người phạm tội trong quá trình giải quyết các
vụ án XPNP, định tội, định khung, quyết định hình phạt một cách chính xác, cũng như
đề ra các biện pháp hữu hiệu nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội XPNP. Tuy nhiên,
việc nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ cá nhân. Yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội
XPNP đòi hỏi phải nghiên cứu nhân thân người phạm tội XPNP ở mức độ khái quát
hơn là mức độ nhóm và mức độ tình hình tội phạm. Nhằm hoàn thiện hệ thống lý luận
về nhân thân người phạm tội XPNP, cũng như phục vụ công tác đấu tranh phòng,
chống tội phạm này trên địa bàn tỉnh Bình Dương, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Nhân
thân người phạm tội xâm phạm nhân phẩm của con người trên địa bàn tỉnh Bình
Dương” làm đề tài luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
* Về lý luận nhân thân người phạm tội có những công trình nghiên cứu sau:
- Tội phạm học Việt Nam một sô vấn đề lý luận và thực tiễn, Tập thể tác giả
Viện Nhà nước và Pháp luật, năm 2009;

2


- Luận án Tiến sĩ luật học: Nhân thân người phạm tội trong trong luật hình sự
Việt Nam của Nguyễn Thị Thanh Thủy, năm 2005;
- Bài viết: “Một số vấn đề về nhân thân người phạm tội” của tác giả Nguyễn
Thị Thanh Thuỷ, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 5/2001, tr. 46-53;
* Về thực tiễn nhân thân người phạm tội có những công trình tác giả nghiên
cứu, phân tích có hệ thống về nhân thân người phạm tội trên một địa bàn nhất định
gắn với một loại tội phạm cụ thể, tiêu biểu như:
- Luận văn Thạc sĩ luật học: Phòng ngừa tội phạm cướp tài sản trên địa bàn
tỉnh Vĩnh Long từ góc độ nhân thân người phạm tội của Nguyễn Chí Công (2013), Đại

3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ thực tiễn nhân thân người phạm tội XPNP của con người trên
địa bàn tỉnh Bình Dương, nghiên cứu phân tích các yếu tố tác động đến sự hình thành
các đặc điểm nhân thân người phạm tội XPNP của con người trên địa bàn tỉnh Bình
Dương, luận văn hướng đến mục đích đề xuất các giải pháp thiết thực, đồng bộ để
tăng cường phòng ngừa tình hình tội XPNP của con người trên địa bàn tỉnh Bình
Dương trong giai đoạn hiện nay từ khía cạnh nhân thân người phạm tội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nêu trên, đề tài đi sâu giải quyết các nhiệm vụ cơ bản
sau:
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận về nhân thân người phạm tội XPNP;
Thứ hai, nghiên cứu phân tích làm rõ các đặc điểm nhân thân người phạm tội
XPNP và các yếu tố tác động đến sự hình thành nhân thân người phạm tội XPNP của
con người trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2014 – 2018;
Thứ ba, kiến nghị các giải pháp tăng cường phòng ngừa tình hình tội XPNP từ
góc độ nhân thân người phạm tội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn nhân thân
người phạm tội XPNP của con người trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Để nghiên cứu về
nhân thân người phạm tội XPNP của con người trên địa bàn tỉnh Bình Dương, tác giả
dựa trên các số liệu thống kê và kết quả nghiên cứu 100 bản án xét xử sơ thẩm của
TAND các cấp tỉnh Bình Dương giai đoạn 2014 – 2018 được thu thập một cách ngẫu
nhiên và tiến hành thực hiện 300 phiếu điều tra xã hội học nhằm đánh giá vai trò của
giáo dục trong gia đình, nhà trường và bạn bè đối với người chưa thành niên.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
4


- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu nhân thân người phạm tội XPNP



- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được vận dụng
vào thực tiễn công tác phòng, chống tội phạm nói chung và tội XPNP nói riêng
trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong thời gian tới.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn được cấu trúc thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về nhân thân người phạm tội xâm phạm nhân
phẩm của con người
Chương 2: Thực tiễn nhân thân người phạm tội xâm phạm nhân phẩm của con
người trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2014 -2018
Chương 3: Nhân thân người phạm tội và những vấn đề đặt ra đối với phòng
ngừa tình hình tội xâm phạm nhân phẩm của con người

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHÂN THÂN NGƯỜI PHẠM TỘI
XÂM PHẠM NHÂN PHẨM CỦA CON NGƯỜI
1.1. Định nghĩa tội xâm phạm nhân phẩm
Để xây dựng định nghĩa về tội xâm phạm nhân phẩm, trước kết cần làm rõ
khái niệm nhân phẩm. Khái niệm “nhân phẩm” trong các tội xâm phạm nhân phẩm
chưa được định nghĩa trong bất kỳ văn bản pháp luật nào. Song qua nghiên cứu một số
tài liệu về mặt ngôn ngữ thì có một số định nghĩa nhân phẩm, cụ thể như sau:
Trong cuốn từ điển Tiếng Việt của GS. Hoàng Phê, nhân phẩm được định
nghĩa như sau: “Nhân phẩm là phẩm chất và giá trị của con người” [9, tr.487]. Theo
định nghĩa này thì nhân phẩm chính là các phẩm chất, giá trị của một con người tạo
nên giá trị của con người đó. Giá trị đó được cộng đồng xã hội công nhận và tôn kính.

định nghĩa tội xâm phạm nhân phẩm của con người như sau: Tội xâm phạm nhân
phẩm của con người là hành vi nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong chương
XIV của Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một
cách cố ý xâm phạm đến quyền được tôn trọng các giá trị đạo đức của con người.
Trong chương XIV của BLHS, nhà làm luật không liệt kê riêng các tội xâm
phạm nhân phẩm mà có sự gộp chung 14 tội danh (từ Điều 141 đến Điều 156) thành
nhóm tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm. Trong nhóm tội này, phần lớn các tội phạm
đều xâm hại đồng thời nhân phẩm, danh dự của con người. Căn cứ vào quy định trong
chương XIV, có thể xác định được các tội XPNP trong BLHS bao gồm các tội danh
sau: Tội hiếp dâm (Điều 141), tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142), tội cưỡng
dâm (Điều 143), tội cưỡng dâm người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi (Điều 144), tội giao
cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi
(Điều 145), tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146), tội sử dụng người dưới
16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147), tội mua bán người (Điều 150), tội mua
bán người dưới 16 tuổi (Điều 151), tội làm nhục người khác (Điều 155), tội vu khống
(Điều 156).
1.2. Khái niệm, ý nghĩa nhân thân người phạm tội xâm phạm nhân phẩm
của con người
1.2.1. Khái niệm nhân thân người phạm tội xâm phạm nhân phẩm của con
người
Mác viết: “Nhà nước cần phải thấy rằng kẻ vi phạm đó là một con người, một
tế bào sống của xã hội, ở con người đó cũng có quả tim đang đập và dòng máu đang
chảy, một người lính mà họ cần phải trở thành chiến sĩ bảo vệ đất nước…một thành
viên của tập thể thực hiện các chức năng xã hội, một người chủ gia đình mà sự tồn tại

8


của họ là thiêng liêng và cuối cùng điều quan trọng nhất họ là công dân của nhà nước
đó” [24, tr.49]. Như vậy, nghiên cứu nhân thân người phạm tội cũng chính là nghiên



để đề ra các biện pháp phòng ngừa, cho nên vấn đề nhân thân người phạm tội được
nghiên cứu một cách khá sâu sắc, toàn diện và mang lại nhiều ý nghĩa quan trọng cả
về lý luận và thực tiễn. Như vậy, việc nghiên cứu nhân thân người phạm tội XPNP có
ý nghĩa như sau:
Thứ nhất, việc nghiên cứu làm rõ nhân thân người phạm tội XPNP góp phần
phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận của chính ngành Tội phạm học. Bằng những
nghiên cứu tổng quát về nhân thân người phạm tội nói chung và nhân thân người
phạm tội XPNP nói riêng cùng những số liệu về người phạm tội XPNP cụ thể góp
phần làm rõ thực trạng, cơ cấu, diễn biến của tình hình tội phạm, giải thích được
những thay đổi trong thực trạng, cơ cấu, động thái của tình hình tội phạm [39, tr.127]
và dự đoán xu hướng của nó trong tương lai. Nghiên cứu nhân thân người phạm tội
XPNP trước hết cần làm rõ một số vấn đề lý luận về nhân thân người phạm tội XPNP,
như khái niệm, ý nghĩa, phân loại nhân thân người phạm tội XPNP. Những lý luận này
sẽ góp phần làm phong phú thêm lý luận của Tội phạm học về nhân thân người phạm
tội.
Thứ hai, Nghiên cứu nhân thân người phạm tội XPNP, cụ thể đề tài nghiên cứu
nhân thân người phạm tội XPNP trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2014-2018 sẽ
cung cấp những thông tin quan trọng về các đặc điểm của nhân thân người phạm tội
XPNP trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Những thông tin, như đặc điểm trình độ học vấn,
nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, thói quen, sở thích … của người phạm tội sẽ là
những thông tin hữu ích cho các ngành khác, như giáo dục học, đạo đức học, kinh tế
học … tham khảo trong phát triển các nội dung khoa học phục vụ các chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội, phát triển văn hóa, giáo dục, phát triển con người …
Thứ ba, Do đó, các đặc điểm nhân thân người phạm tội XPNP có ý nghĩa trong
việc định tội và định khung hình phạt đối với các tội XPNP chẳng hạn như các tội về
XPNP của con người đều được nhà làm luật xây dựng dưới dạng cấu thành tội phạm
hình thức nên dấu hiệu định tội của nhóm tội này trong BLHS đều liên quan đến dấu
hiệu hành vi khách quan của tội phạm hay đặc điểm “tái phạm nguy hiểm” được quy

đặc điểm, dấu hiệu riêng đặc thù. Từ những đặc điểm chung và riêng trên, tác giả chia
làm ba nhóm phân tích như sau:
- Nhóm đặc điểm xã hội – nhân khẩu học;
- Nhóm đặc điểm đạo đức – tâm lý;
- Nhóm đặc điểm pháp lý hình sự.
1.3.1. Nhóm dấu hiệu xã hội – nhân khẩu

11


Những dấu hiệu xã hội – nhân khẩu trong nhân thân người phạm tội XPNP
cũng giống như trong nhân thân của con người nói chung, bao gồm: Giới tính, tuổi,
trình độ học vấn, nghề nghiệp, địa vị xã hội, hoàn cảnh gia đình, quan hệ xã
hội…Những dấu hiệu này tồn tại trong nhân thân của bất kỳ người nào. Tuy nhiên, tập
hợp những thông tin về dấu hiệu xã hội – nhân khẩu thu được qua thống kê hình sự sẽ
cho chúng ta cơ sở để rút ra những kết luận quan trọng khi nghiên cứu nhân thân
người phạm tội. Mặt khác, nếu kết hợp những dấu hiệu riêng biệt của người phạm tội
thì những dấu hiệu xã hội – nhân khẩu sẽ giúp cho chúng ta hiểu trọn vẹn về nhân
thân người phạm tội và có ý nghĩa quan trọng trong việc đề ra và thực hiện các biện
pháp giáo dục cải tạo người phạm tội, phòng ngừa tội phạm.[39, tr.144]
1.3.1.1 Giới tính
Trong thực tế của cuộc đấu tranh chống tội phạm XPNP ở nước ta, đối với
nhóm người XPNP thực hiện bằng hành vi xâm hại quyền tự do tình dục, thì tỷ lệ nam
giới phạm tội chiếm tỷ lệ cao vì nam giới có khả năng kiềm chế, kiểm soát hành vi
thấp hơn nữ giới nên khả năng phạm tội cao hơn. Và ngược lại đối với nhóm người
XPNP thực hiện thông qua hành vi khác thì tỷ lệ nữ giới phạm tội lại chiếm tỷ lệ cao
hơn và có xu hướng tăng lên, chủ yếu là trong các vụ án về tội làm nhục người khác
bởi vì nữ giới có tính hay ghen tuông do đó khi xảy ra mâu thuẫn trong tình cảm
thường sử dụng bạo lực để “dằn mặt” nạn nhân làm cho tình hình ANTT thêm phức
tạp.

- Nhóm từ trên 30 tuổi trở lên: Ở độ tuổi này, con người có sự chín chắn
trong tư duy nhận thức của mình. Thêm vào đó, nhóm người từ 30 tuổi trở lên đa phần
họ đều đã kết hôn và có công việc cho nên họ có sự ổn định cao về tâm lý, về nhận
thức đời sống hay pháp luật. Do đó, nhóm tuổi từ 30 trở lên phạm vào các tội XPNP
chiếm tỉ lệ thấp so với hai nhóm tuổi trên.
1.3.1.3. Trình độ học vấn
Đặc điểm về trình độ học vấn có thể chia thành 04 nhóm như sau: nhóm
không biết chữ; nhóm có trình độ học vấn từ tiểu học đến trung học cơ sở; nhóm có
trình độ học vấn ở mức trung học phổ thông; nhóm có trình độ học vấn trung cấp, cao
đẳng, đại học trở lên.
1.3.1.4. Nghề nghiệp, địa vị xã hội
Đối với người phạm tội XPNP cũng vậy, nghề nghiệp, địa vị xã hội khác nhau
thì khả năng “nhiễm tội” cũng khác nhau. Đặc điểm nhân thân người phạm tội từ khía
cạnh nghề nghiệp, có thể chia thành 03 nhóm là: người không có nghề nghiệp, người
có nghề nghiệp không ổn định và người có nghề nghiệp ổn định.
13


1.3.1.5. Hoàn cảnh gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội. Hoàn cảnh gia đình có thể xét đến như: điều
kiện sống về mặt tinh thần, tình trạng hôn nhân, gia đình không hoàn thiện, gia đình
khuyết thiếu,… hoặc vẫn đang độc thân. Các hoàn cảnh gia đình nêu trên sẽ được
nghiên cứu với mục đích đánh giá sự tác động của môi trường gia đình đến quá trình
hình thành nhân cách lệch chuẩn của người phạm tội XPNP. Trong phần hoàn cảnh gia
đình, có thể nghiên cứu theo 2 phương diện: một là bản thân người phạm tội (có vợ và
không có vợ), hai là cha mẹ, người nuôi dưỡng (thuận lợi và không thuận lợi).
1.3.1.6. Nơi cư trú
Nơi cư trú, nơi sinh sống (làng, xã, khu phố,…) được xem là một xã hội thu
nhỏ, có tác động khá trực tiếp đến lối sống của công dân. Hoàn cảnh kinh tế cũng như
điều kiện phát triển chung của nơi cư trú có những tác động mạnh mẽ đến ý thức và

XPNP thực hiện bằng hành vi xâm phạm quyền tự do tình dục thì người phạm tội xem
nạn nhân như đồ vật , “thú vui tiêu khiển” để thỏa mãn nhu cầu tình dục của mình hay
trong nhóm người XPNP thực hiện bằng hành vi khác, họ có thể xem con người như
một món hàng hóa để trao đổi, mua bán,…
1.3.2.2. Quan điểm, thái độ, nhận thức về pháp luật
Pháp luật hình sự ngoài nhiệm vụ mang tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa
tội phạm còn mang tính trừng trị người phạm tội trong BLHS. Ngoài ra, một số người
phạm tội có sự hiểu biết nhất định về pháp luật hình sự nhưng tự tin cho rằng hành vi
của mình sẽ không bị phát hiện và xử lý nên vẫn cố tình thực hiện.
1.3.2.3. Nhu cầu, sở thích, thói quen
Đây là các yếu tố mang tính chất quyết định đối với động cơ phạm tội
XPNP, yếu tố này tác động trực tiếp đến quá trình hình thành động cơ, mục đích và
thái độ thực hiện hành vi phạm tội XPNP.
Đối với nhóm người XPNP thực hiện bằng hành vi xâm phạm quyền tự do
tình dục thì nhìn chung các đối tượng này có nhu cầu, sở thích lệch lạc so với xã hội,
họ có thói quen không lành mạnh và có suy nghĩ về việc thỏa mãn nhu cầu khác lạ.
Nói cách khác, họ là nhóm đối tượng thường: sử dụng ma túy, rượu chè, cờ bạc, xem
phim sex, phim khiêu dâm, bạo lực, thích khám phá một cách bất hợp pháp về thân
thể của người khác,… Quan trọng hơn, nhóm đối tượng này có ý thức mong muốn
thực hiện mọi biện pháp để thực hiện hành vi phạm tội nhằm thỏa mãn nhu cầu, sở
thích tình dục của bản thân.
Đối với nhóm người XPNP thực hiện bằng hành vi khác thì các đối tượng
này thường có nhu cầu, sở thích vật chất không chính đáng, coi trọng vật chất, có thái
15


độ lười lao động, tư tưởng làm ít hưởng nhiều, dùng tiền để đáp ứng nhu cầu, sở thích
không chính đáng hay có thói quen dùng bạo lực trong hành động để giải quyết các
mâu thuẫn trong cuộc sống,…
1.3.2.4. Động cơ, mục đích phạm tội


như vợ chồng với người khác, thường thiếu sự quan tâm, dạy bảo con cái về vấn đề
giới tính, đạo đức, nhân cách dẫn đến con em mình đi vào con đường phạm tội. Trong
đó có nhiều gia đình vì những chia sẻ, giáo dục về giới tính, giáo dục đạo đức cho các
em không được cha mẹ quan tâm, để ý đến do bản thân cha mẹ, người lớn trong gia
đình cũng mù mờ về giáo dục giới tính, nhận thức hạn chế nên không có sự chỉ bảo
cần thiết, nhiều trường hợp trẻ xâm phạm tình dục người khác hoặc bị bạn bè đánh
đập,…cho nên chậm hoặc không tố cáo tội phạm với cơ quan chức năng, vô tình che
đậy, tiếp tay cho tội phạm. Mặt khác, gia đình khuyết thiếu nhiều khi cũng rơi vào
hoàn cảnh khó khăn. Nếu không được giáo dục đầy đủ, trẻ sẽ dễ hình thành sự ham
muốn vật chất, coi trọng đồng tiền, khát khao có tiền bằng mọi giá, thiếu đi tình
thương giữa người với ngửoi... Trong hoàn cảnh đó trẻ dễ bị kẻ xấu lôi kéo, lợi dụng,
khống chế thực hiện những hành vi phạm tội như mua bán người, mua bán người dưới
16 tuổi xem nạn nhân như hàng hóa để mua bán, trao đổi lấy tiền, bóc lột lao động,
tình dục hoặc lợi ích vật chất khác.
1.4.1.2. Môi trường giáo dục
Những nhân tố không lành mạnh trong môi trường giáo dục hiện nay như quá
tập trung vào sách vở mà thiếu kiến thức về giới tính và đạo đức nhân cách dẫn đến
nhiều học sinh không nhận thức hoặc thiếu hiểu biết về vấn đề tình dục an toàn hay sử
dụng bạo lực, làm nhục bạn học của mình. Hiện nay, tình trạng yêu nhau của học sinh
diễn ra khá phổ biến, các em yêu nhau từ nhiều độ tuổi khác nhau nhưng do chưa có
sự trang bị đầy đủ về kiến thức giới tính nên dẫn đến nhiều em xâm phạm tình dục lẫn
nhau khi tuổi đời còn rất trẻ. Trong nhiều vụ án trên thực tế học sinh yêu nhau và quan
hệ tình dục lẫn nhau nhưng khi bị phát hiện các em vẫn không phân biệt được hành vi
xâm phạm tình dục của mình là nguy hiểm cho xã hội, được quy định trong BLHS hay
những vụ án liên quan tới tội làm nhục người khác, vu khống người khác và các em
chỉ cho rằng đó là chuyện bình thường, “dằn mặt” đối phương. Mặc khác, việc thiếu
sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình; gia đình không quan tâm, ỷ lại, giao phó việc
quản lý giáo dục cho nhà trường còn nhà trường chỉ thực hiện nhiệm vụ truyền đạt
kiến thức mà không quan tâm đến học sinh dẫn đến nhiều học sinh xâm phạm tình

một trong những nguyên nhân làm hình thành nên chủ thể của tội XPNP.
1.4.2. Các yếu tố chủ quan thuộc về người phạm tội xâm nhân phẩm
1.4.2.1. Sai lệch về sở thích, nhu cầu và cách thức thỏa mãn nhu cầu
Nếu con người có những sở thích lành mạnh thì hình thành ở người đó nhân
cách đúng đắn. Ngược lại, con người có sở thích không lành mạnh, tiêu cực sẽ hình
thành ở cá nhân đó nhân cách lệch lạc như sống ích kỷ, hưởng thụ, sống buông thả,
18


coi thường chuẩn mực đạo đức… Chẳng hạn, đối với người phạm tội XPNP thì sở
thích về tình dục, nhu cầu thiếu thốn vật chất hay thích thể hiện bản thân là đặc trưng
điển hình cho tội phạm XPNP. huống cụ thể họ sẽ không kiềm chế, kiểm soát được
hành vi của mình và lựa chọn cách xử sự không đúng đắn, kể cả xâm phạm đến XPNP
người khác một cách phi đạo đức như mua bán người, mua bán người dưới 16 tuổi…
1.4.2.2. Hạn chế về ý thức pháp luật cá nhân và khả năng kiểm soát hành vi
Người phạm tội XPNP thường là người có trình độ học vấn thấp, quan niệm sai
về các giá trị cuộc sống, không hiểu biết hoặc hiểu biết rất ít pháp luật nên thường có
thái độ thờ ơ, coi thường pháp luật. và trình độ học vấn thấp nên khả năng kiểm soát
và hạn chế hành vi đối với người phạm tội XPNP ở mức độ thấp, nhiều trường hợp
người phạm tội xâm phạm tình dục, hay mua bán người ngay chính cả người thân
trong gia đình.
Kết luận Chương 1
Chương 1 của luận văn đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận về nhân
thân người phạm tội XPNP của con người, cụ thể:
- Thứ nhất, về phần khái niệm, nhân thân người phạm tội XPNP là tổng
hợp những đặc điểm, dấu hiệu thể hiện bản chất xã hội của con người và các đặc
điểm, dấu hiệu này kết hợp với các điều kiện, hoàn cảnh nhất định đã dẫn đến người
đó thực hiện hành vi phạm tội XPNP được quy định tại chương XIVcủa BLHS hiện
hành.
- Thứ hai, về mặt ý nghĩa, nghiên cứu nhân thân người phạm tội XPNP tạo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status