(Luận văn thạc sĩ) Tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỒNG MINH

TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
TỘI PHẠM HỌC VÀ PHÒNG NGỪA TỘI PHẠM

HÀ HỘI - 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN HỒNG MINH

TÌNH HÌNH TỘI PHẠM
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 2, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.05

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHAN ANH TUẤN

HÀ HỘI - 2019
LỜI CAM ĐOAN


3.1. Các giải pháp phòng ngừa chung ........... Error! Bookmark not defined.6
3.2. Các giải pháp phòng ngừa chuyên ngành ................................................ 69
3.3. Các giải pháp phòng ngừa cụ thể đối với tội Trộm cắp tài sản và nhóm tội
tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy ..................................... 74
Kết luận chương 3 ........................................................................................... 75
KẾT LUẬN .................................................................................................. 777
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ANTT

An ninh trật tự

BLHS

Bộ luật hình sự

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự

CAND

Công an nhân dân

CSĐT


UBND

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Hệ số của tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 2 Tp.HCM từ năm
2014 đến năm 2018 ............................................................................................ 29
Bảng 2.2. Cơ số hành vi phạm tội của tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 2
Tp.HCM từ năm 2014 đến năm 2018 ................................................................ 30
Bảng 2.3. Mức độ nhóm tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh
dự của con người trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM từ năm 2014 đến năm 2018 . 31
Bảng 2.4. Mức độ nhóm tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM
từ năm 2014 đến năm 2018 ................................................................................ 32
Bảng 2.5. Mức độ nhóm tội về ma túy trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM từ năm
2014 đến năm 2018 ............................................................................................ 32
Bảng 2.6. Mức độ nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng và trật tự công cộng
trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM từ năm 2014 đến năm 2018 ............................... 33
Bảng 2.7. Mức độ tội danh cụ thể xảy ra trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM từ
năm 2014 đến năm 2018 .................................................................................... 34
Bảng 2.8. Tỷ lệ vụ án khởi tố và vụ án đã xét xử sơ thẩm trên địa bàn Quận 2
Tp. HCM từ năm 2014 đến năm 2018 ................................................................ 36
Bảng 2.9. Diễn biến (động thái) tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 2 Tp.
HCM từ năm 2014 đến năm 2018 ....................................................................... 37
Bảng 2.10. Cơ cấu theo tên Chương quy định của BLHS trong phần tội phạm
cụ thể của tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM từ năm 2014 đến
năm 2018 ............................................................................................................. 39
Bảng 2.11. Cơ cấu theo tội danh cụ thể quy định của BLHS của tình hình tội
phạm trên địa bàn Quận 2 Tp HCM từ năm 2014 đến năm 2018....................... 41
Bảng 2.12. Cơ cấu theo địa bàn phạm tội của tình hình tội phạm trên địa bàn

quốc lộ (QL) 52, QL 25B, đường cao tốc Tp. HCM - Long Thành Dầu Giây,
vành đai đại lộ Đông Tây (đường Mai Chí Thọ - Võ Văn Kiệt), sông Sài Gòn
và sông Đồng Nai. Là nơi tập trung hàng hóa xuất nhập cảnh lớn nhất cả nước
với hệ thống cảng biển dày đặc, trong đó có cảng Cát Lái - cảng container lớn
nhất Việt Nam. Ngay từ khi thành lập, Quận 2 được định hướng phát triển đô
thị mới, hiện đại, kinh doanh thương mại và dịch vụ. Cùng với mục tiêu phát
triển đó, sau hơn 20 năm thành lập, Quận 2 đang trong quá trình đô thị hóa
mạnh mẽ. Điều này được thể hiện qua sự gia tăng dân số, đặc biệt là sự gia
tăng nhanh chóng lượng dân nhập cư cũng như các công trình hạ tầng giao
thông trên địa bàn. Bên cạnh đó, Quận 2 đang có rất nhiều công trình, hạ tầng
1


cơ sở đang được tiến hành, trong đó nổi bật là khu đô thị mới Thủ Thiêm Trung tâm tài chính, thương mại mới của Tp. HCM; các cây cầu nối liền
Quận 2 với các quận xung quanh đã và đang làm cho tốc độ đô thị hóa ở Quận
2 ngày càng nhanh hơn. Quá trình đô thị hóa đã và đang tạo nên những
chuyển biến tích cực đối với sự phát triển KT - XH của Quận, như sự tăng
trưởng kinh tế đã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư, an sinh
xã hội từng bước được thực hiện tốt hơn. Tuy nhiên, quá trình này cũng có
nhiều tác động tiêu cực như sự phân hóa giàu nghèo ngày càng gia tăng, đặc
biệt tại Quận 2 đã hình thành các khu dân cư mà ở đó dường như chỉ dành cho
tầng lớp dân cư trung và thượng lưu như khu dân cư Thảo Điền, khu dân cư
An Phú, An Khánh hay khu dân cư bán đảo Kim Cương. Bên cạnh đó, đang
trong quá trình xây dựng về cơ sở hạ tầng nên đã kéo theo một số lượng lớn
dân cư ở các nơi khác tập trung về để tìm kiếm việc làm, nhất là lượng lao
động phổ thông với các thành phần đa dạng và rất phức tạp, trong đó có cả
những đối tượng có tiền án tiền sự khác nhau. Trong khi đó, các cơ quan chức
năng mặc dù đã có những biện pháp nhằm ổn định TTATXH nhưng tình hình
tội phạm vẫn diễn biến phức tạp, nổi lên là các tội phạm truyền thống như
trộm cắp tài sản, cướp giật, các tội phạm về ma túy, tai nạn giao thông, lừa

hiện trên địa bàn tỉnh, thành phố trong cả nước, cũng như một số địa bàn
quận, huyện của Thành phố Hồ Chí Minh như:
- Phan Tô Ngọc (2015), Các tội xâm phạm danh dự, nhân phẩm của con
người trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh: Tình hình, nguyên nhân và giải
pháp phòng ngừa, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã hội.
- Nguyễn Thị Thanh Chung (2018), Tình hình các tội xâm phạm sở hữu
trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã
hội.
3


- Bùi Thị Tâm (2018), Tình hình tội phạm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam,
Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã hội.
- Nguyễn Tiến Nghĩa (2016), Tình hình tội phạm trên địa bàn Quận Phú
Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa
học xã hội.
- Trịnh Hùng (2017) Tình hình tội phạm trên địa bàn huyện Củ Chi,
Thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sỹ Luật học, Học viện Khoa học xã
hội.
Các công trình nghiên cứu trên đã cho thấy vấn đề tình hình tội phạm đã
được quan tâm và tập trung nghiên cứu ở các địa bàn khác nhau. Qua đó, đã
góp phần làm sáng tỏ về mặt lý luận cũng như đưa ra được các giải pháp
phòng ngừa tội phạm nói chung cũng như nhóm tội, tội danh cụ thể trên một
số địa bàn nghiên cứu. Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu và phân
tích chuyên sâu về tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 2 Thành phố Hồ Chí
Minh, một trong những quận có sự phát triển mạnh mẽ về KT-XH nhưng
cũng là điểm nóng về tình hình tội phạm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí
Minh.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu

phạm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu luận văn có sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể: phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh các báo cáo,
thống kê của tòa án nhân dân Quận 2 Tp. HCM cùng các cơ quan chức năng
khác và nghiên cứu một số vụ án xảy ra trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM. Cụ
thể:

5


- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Được sử dụng để phân tích số liệu
thống kê, tổng hợp đánh giá tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM
tại Chương 2 của Luận văn
- Phương pháp thống kê hình sự: Được sử dụng để tiến hành thống kê
hình sự trên cơ sở số liệu của Công an Quận 2 và Tòa án nhân dân Quận 2,
Tp. HCM. Qua đó làm rõ tình hình, đặc điểm, nguyên nhân, điều kiện của tình
hình tội phạm trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM
- Phân tích nghiên cứu án điển hình: được sử dụng lựa chọn một số vụ
án trên địa bàn Quận 2, Tp. HCM để phân tích.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm phong phú hơn lý luận về
tình hình tội phạm. Qua đó, áp dụng lý luận để nghiên cứu tình hình tội phạm
và đưa ra các giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 2
Tp. HCM.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu về tình hình tội phạm
trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM; làm tài liệu tham khảo, vận dụng vào công tác
phòng ngừa tội phạm trên các địa bàn tương tự.

được gọi là pháp luật. Xã hội phát triển thì pháp luật cũng có sự phát triển để
giải quyết các mâu thuẫn trong xã hội đó và pháp luật đã phát triển thành các
ngành luật khác nhau để điều chỉnh các quan hệ xã hội khác nhau như quan hệ
kinh tế, dân sự, hình sự. Trong đó, pháp luật hình sự quy định những hành vi
vi phạm các chuẩn mực xã hội ở mức nghiêm trọng thì bị coi là tội phạm và
cần phải được trừng trị và dần loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội của con người.
Cùng với sự phát triển của xã hội, những hành vi bị coi là tội phạm
không những không mất đi mà còn tiếp tục tăng lên về cả quy mô lẫn tính
chất nguy hiểm. Đây là vấn đề được rất nhiều các nhà nghiên cứu, xem xét ở
nhiều khía cạnh khác nhau, trong đó có khía cạnh về tội phạm học, tức là
khoa học nghiên cứu về tội phạm, và ở đó, tội phạm học nghiên cứu tội phạm
ở những khía cạnh như: Tình hình tội phạm đã xảy ra, nguyên nhân và điều
kiện làm phát sinh tội phạm đã xảy ra; Biện pháp có thể hạn chế, phòng ngừa
tội phạm. Để tìm ra quy luật của tội phạm trên một địa bàn nhất định ta phải
nghiên cứu chính sự vận động của tội phạm trên địa bàn đó. Nghiên cứu sự
vân động của tội phạm được gọi là nghiên cứu về tình hình tội phạm.
Trước hết, cần phải hiểu khái niệm tình hình tội phạm là như thế nào?
Hiện nay, khái niệm này được rất nhiều các nhà nghiên cứu đưa ra các khái
niệm khác nhau, như:
8


Quan điểm thứ nhất: “Tình hình tội phạm không chỉ là tổng thể các
hành vi nguy hiểm cho xã hội đơn lẻ mà còn là quá trình xã hội tuân theo các
quy luật chung của sự phát triển các hiện tượng xã hội
Tình hình tội phạm là toàn bộ tình hình, cơ cấu, động thái, diễn biến của
các loại tội phạm hay từng loại tội phạm trong một giai đoạn nhất định xảy ra
trong một lĩnh vực, một địa phương, trong phạm vi quốc gia, khu vực hoặc
toàn thế giới trong khoảng thời gian nhất định” [17, tr. 171]
Quan điểm thứ hai: “Tình hình tội phạm là hiện tượng xã hội tiêu cực,

khách quan trong bức tranh tổng thể về tình hình tội phạm trên một địa bàn cụ
thể. Tội phạm thì vẫn hàng ngày, hàng giờ vẫn đang xảy ra trong đời sống xã
hội. Tình hình tội phạm hiện (rõ) là những gì chúng ta phát hiện, xử lý và giải
quyết được nhưng còn những tội phạm chúng ta chưa phát hiện được thì vẫn
theo quy luật phát triển vẫn diễn ra liên tục, đòi hỏi chúng ta phải nhận thức
và tìm biện pháp giải quyết, đây gọi là tội phạm ẩn hay tình hình tội phạm ẩn.
Hiện nay, khi nghiên cứu về tình hình tội phạm ẩn thì có nhiều luồng
quan điểm khác nhau. “Tội phạm ẩn được tạo nên bởi tổng thể các hành vi
phạm tội đã xảy ra trong thực tế nhưng không được phát hiện, không bị xử lý
theo quy định của pháp luật hình sự hoặc không có trong thống kê tội phạm”
[7, tr.163]. Tội phạm ẩn là số lượng tội phạm và người phạm tội đã thực hiện
trên thực tế nhưng không được tường thuật với cơ quan có thẩm quyền hoặc
chưa bị phát hiện (một cách chính thức) và do vậy chưa bị xử lý về hình sự,
chưa có trong thống kê hình sự chính thức [17, tr. 181], hay một quan điểm
khác lại cho rằng: “tội phạm ẩn là số lượng tội phạm đã thực hiện trên thực tế
nhưng không được tường thuật với cơ quan cảnh sát hoặc chưa bị phát hiện
bởi cơ quan có thẩm quyền do vậy chưa bị đưa ra xét xử, chưa có thống kê
hình sự chính thức” [16, tr. 29].

10


Mặc dù các quan điểm trên còn những nhận xét khác nhau về tội phạm
ẩn nhưng tất cả đều thừa nhận rằng tội phạm ẩn là tội phạm chưa được thống
kê hình sự. Có thể thấy rằng, thống kê hình sự là về tội phạm là những cơ sở
để nghiên cứu về tình hình tội phạm, từ những số liệu thống kê để phân tích
về tình hình tội phạm, từ đó tìm ra những nguyên nhân, điều kiện của tội
phạm và áp dụng những biện pháp phòngcông tác quản lý địa bàn, công tác quản lý tạm trú, tạm
vắng, nhất là những khu vực là điểm nóng về ANTT, các khu nhà trọ, khách
sạn, tụ điểm giải trí nhằm kịp thời phát hiện đối tượng truy nã, ẩn náu, những

hòa nhập của người chấp hành hình phạt xong, trở về địa phương.
3.1.6. Hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự
- Về Bộ luật hình sự
66


BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã thể hiện được tinh thần
đề cao hiệu quả phòng ngừa, tăng cường tính hướng thiện trong công tác đấu
tranh phòng chống tội phạm theo hướng giảm bớt hình phạt tù, mở rộng hình
phạt tiền và hình phạt cải tạo không giam giữ, thu hẹp phạm vi áp dụng hình
phạt tử hình và quy định trong những hành vi nguy hiểm mới xuất hiện trong
xã hội là tội phạm.
Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, quy định về pháp nhân thương mại
phải chịu trách nhiệm hình sự được thể hiện trong BLHS, điều này đã làm
thay đổi cơ bản nhận thức truyền thống về tội phạm và hình phạt. Tội phạm
không chỉ là cá nhân mà còn bao gồm cả pháp nhân thương mại.
Bên cạnh những điểm mới trong BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
2017) thì vẫn còn những bất cập trong việc quy định hình phạt đối với người
phải chịu trách nhiệm hình sự.
Quá trình nghiên cứu tình hình tội phạm trên địa bàn Quận 2 Tp. HCM,
tác giả đưa ra ý kiến cá nhân trong việc hoàn thiện BLHS:
Về quy định hình phạt tù, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
đã thể hiện tinh thần hướng thiện, nhân đạo đề cao tính phòng ngừa, những tội
phạm được thực hiện do lỗi vô ý không nên quy định hình phạt tù là hình phạt
chính mà nên quy định các hình phạt khác như cải tạo không giam giữ hoặc
phạt tiền,… Ví dụ, quy định tại khoản 1 Điều 260 BLHS về hình phạt:
“Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn
giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền
từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến
03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

Theo quy định của Bộ luật TTHS năm 2015 thì “Công an xã khi tiếp
nhận tố giác, tin báo về tội phạm thì lập biên bản tiếp nhận, lấy lời khai ban
đầu, thông báo và chuyển tố giác, tin báo về tội phạm kèm theo tài liệu, đồ vật
68


có liên quan cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền trong thời hạn không quá 24
giờ kể từ khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm. Đối với các xã ở vùng
rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo, điều kiện đi lại khó khăn thì thời hạn
chuyển tố giác, tin báo về tội phạm không quá 48 giờ kể từ khi tiếp nhận”.
Điều này có nghĩa là lực lượng công an xã đã tham gia vào hoạt động tố tụng
hình sự và giải quyết các hoạt động ban đầu của quá trình xác minh. Tuy
nhiên, theo quy định hiện nay của BLTTHS thì hoạt động xác minh ban đầu,
kể cả việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm thì phải được viện kiểm sát
kiểm sát trực tiếp. Hiện nay chưa có quy định nào quy định viện kiểm sát
kiểm sát trực tiếp việc tiếp nhận, xác minh ban đầu của lực lượng công an xã.
Điều này thực tế dẫn đến nhiều trường hợp vi phạm thủ tục tố tụng hình sự,
nhiều trường hợp dùng nhục hình, bức cung đối với đối tượng bị tố giác trong
quá trình xác minh. Bên cạnh đó, trình độ của cán bộ công an xã hiện nay còn
có nhiều hạn chế, nên khi tiến hành xác minh ban đầu có những chứng cứ
quan trọng bỏ sót hoặc làm hỏng, mất dẫn đến khi cơ quan điều tra có thẩm
quyền tiến hành xác minh, điều tra thì gặp rất nhiều khó khăn, đôi khi có vụ
việc đi vào bế tắc, không giải quyết được. Do đó, theo ý kiến cá nhân thì cần
có những quy định cụ thể về kiểm sát việc tiếp nhận, xác minh ban đầu về tố
giác, tin báo về tội phạm của lực lượng công an xã trong thời gian tới.
3.2. Các giải pháp phòng ngừa chuyên ngành
3.2.1. Quản lý các đối tượng có nguy cơ cao phạm tội
Các đối tượng có nguy cơ cao phạm tội là những người đã từng có tiền
án, tiền sự, những người đã và đang nghiện ma túy. Nghiên cứu cho thấy, số
người nghiện ma túy ngày càng nhiều, càng trẻ hóa và trong những đối tượng

ích cho xã hội, không có cảm giác bị coi thường xa lánh để họ không mặc
cảm.

70


Hiện nay, xã hội đang thay đổi rất nhiều, có rất nhiều con đường để có
thể khiến cho con người sa ngã vào các tệ nạn như ma túy, mại dâm, cờ bạc
và hậu quả của nó rất có thể đưa con người đến việc thực hiện tội phạm, việc
quản lý các đối tượng có nguy cơ cao phạm tội còn khó khăn hơn gấp nhiều
lần vì họ đã có những thói quen, mối quan hệ từ chính những đối tượng phạm
tội, những nguồn nguy cơ dẫn đến thực hiện tội phạm. Bằng cách này hay
cách khác, các cơ quan quản lý, gia đình và chính bản thân các đối tượng này
phải thật sự cố gắng với tinh thần và trách nhiệm cao nhất trong việc không
để những đối tượng này thực hiện hành vi tội phạm. Phải đưa ra những
phương pháp quản lý phù hợp, như tạo ra sân chơi lành mạnh, những công
việc mà họ hứng thú và phù hợp với trình độ. Bên cạnh đó là thay đổi phương
pháp tiếp xúc, không nên xa lánh, xem họ như những người phạm tội. Ngoài
việc răn đe thì biện pháp giáo dục mà trực tiếp từ chính người thân trong gia
đình là những nhân tố quan trọng nhất kéo họ không sa vào tội phạm. Mỗi gia
đình khi có những đối tượng có nguy cơ cao phạm tội cần được sự cảm thông
và giúp đỡ của các cơ quan chức năng trong việc giáo dục, quản lý đối tượng.
Không có những biện pháp quản lý phù hợp với từng đối tượng khác nhau sẽ
dẫn đến không hiệu quả.
3.2.2. Quản lý phòng ngừa tái phạm tội
Phòng ngừa tái phạm tội là quản lý tốt những đối tượng đã chấp hành
xong hình phạt tù. Quản lý các đối tượng có nguy cơ cao phạm tội, các đối
tượng tái phạm tội còn ở mức nghiêm trọng hơn. Họ là những người đã chấp
hành xong các quyết định của tòa án, chấp hành xong hình phạt tù. Do vậy,
cần phải thực sự có những phương pháp quản lý phù hợp tới từng đối tượng

công tác chính sách xã hội như nhận người chấp hành hình phạt tù vào làm
việc, không để họ tiếp tục quay lại con đường phạm tội.

72



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status