Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi – qua nghiên cứu trường hợp phường phú diễn, quận bắc từ liêm, thành phố hà nội - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ KIM DUNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI
Qua nghiên cứu trường hợp phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm,
thành phố Hà Nội

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ KIM DUNG

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI
NGƯỜI CAO TUỔI
Qua nghiên cứu trường hợp phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm,
thành phố Hà Nội

Ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Trần Thị Minh Thi


Đồng thời, tôi cũng xin gửi lời cám ơn tới cán bộ phòng LĐ, TB & XH
phường Phú Diễn, cán bộ Trung tâm Y tế quận Bắc Từ Liêm, Lãnh đạo Hội
người cao tuổi và người cao tuổi phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành
phố Hà Nội đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong việc tìm hiểu một số thông tin
về người cao tuổi tại địa phương nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè thân thiết đã động
viên, khích lệ tinh thần và tạo mọi điều kiện về thời gian cũng như vật chất
giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Do thời gian có hạn cũng như còn hạn chế về chuyên môn, nên luận văn
này không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Vì vậy, tôi rất mong nhận
được ý kiến đóng góp của quý thầy cô để luận văn của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng 02 năm 2019

Tác giả luận văn

Lê Thị Kim Dung


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1 ........................................................................................................ 13
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ..................... 13
BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI .................................... 13
1.1. Một số khái niệm ................................................................................... 13
1.2. Lý thuyết thực thi chính sách công ..................................................... 15
1.3. Đặc điểm về hoạt động chăm sóc người cao tuổi của gia đình và xã hội20
1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia và sử dụng thẻ BHYT
của NCT ......................................................................................................... 23
1.5. Kinh nghiệm bảo hiểm y tế của một số quốc gia châu Á................... 25

Bảo hiểm xã hội

BHYT

Bảo hiểm y tế

CLB

Câu lạc bộ

CSSK

Chăm sóc sức khỏe

DVYT

Dịch vụ y tế

KCB

Khám chữa bệnh

KCB BHYT

Khám chữa bệnh bảo hiểm y tế

LĐ, TB & XH

Lao động, Thương binh và Xã hội


Bảng 2.18: Tương quan giữa giới tính và mức độ sử dụng BHYT đi
KCB.. .............................................................................................................. 45
Bảng 2.19: Số lần sử dụng BHYT đi KCB của NCT ................................. 45
Bảng 2.20: Vì sao không sử dụng BHYT đi KCB ...................................... 45
Bảng 2.21: Đánh giá của NCT về chính sách BHYT hiện nay ................. 51
Bảng 2.22: Mong muốn của NCT về chính sách BHYT ............................ 52


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA), trong giai đoạn 2015 - 2030,
số người cao tuổi (NCT) trên toàn cầu sẽ tăng lên 56% (từ 901 triệu lên 1,4 tỷ
người). Ở Việt Nam, số NCT chiếm 11,9% trong tổng dân số vào năm 2017.
Theo dự báo của Tổng cục Thống kê, đến năm 2038, nhóm dân số trên 60 tuổi
khoảng 21 triệu người, chiếm 20% tổng dân số. Đến năm 2050, cứ 4 người thì
có 1 người từ 60 tuổi trở lên (khoảng 27 triệu người). Cũng theo dự báo này,
từ năm 2038, dân số trong độ tuổi lao động bắt đầu giảm và sự biến động dân
số này sẽ tác động bất lợi đến sự phát triển kinh tế - xã hội nếu không có
chính sách thích ứng phù hợp.
Sức khỏe của NCT Việt Nam còn nhiều hạn chế. Tuy tuổi thọ trung bình
cao (73 tuổi),nhưng gánh nặng bệnh tật kép của NCT Việt cũng cao. Nước ta
có khoảng 95% NCT có bệnh,,chủ yếu là bệnh mãn tính không lây truyền.
Như vậy, trung bình 1 NCT Việt Nam mắc 3 bệnh. Gánh nặng bệnh tật kép
này,sẽ đe dọa nguồn ngân sách vốn đã eo hẹp của Việt Nam..Trong khi đó, hệ
thống chăm sóc sức khỏe chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của
NCT. Năm 2014,,cả nước chỉ có 49/63 tỉnh có khoa lão tại các bệnh viện tỉnh
và 60,8% NCT có bảo hiểm y tế [35]. Mặt khác, đời sống NCT tại Việt Nam
đang gặp rất nhiều khó khăn, thách thức. Chẳng hạn, tỷ lệ NCT thuộc hộ
nghèo cao (22,4% năm 2016). Số lượng NCT có lương hưu, bảo hiểm, trợ cấp
xã hội thấp cả về độ bao phủ và mức hưởng [50].

cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung [31].
BHYT là chính sách xã hội quan trọng hàng đầu, mang ý nghĩa nhân đạo
và có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc được Đảng và Nhà nước ta hết sức coi
trọng, luôn đề cao trong hệ thống chính sách ASXH. Chủ trương nhất quán
của Đảng và Nhà nước là xây dựng hệ thống ASXH đa dạng, phát triển mạnh
hệ thống BHXH, BHYT, tiến tới BHYT toàn dân [36, tr. 94].

2


Đối với NCT phường Phú Diễn cũng không tránh khỏi quy luật tuổi già,
sức yếu, bệnh tật nhiều và nhu cầu được chăm sóc sức khỏe ngày một tăng.
Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề này, nên tôi đã chọn đề tài “Thực
hiện chính sách bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi – Qua nghiên cứu trường
hợp phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Quá trình tổng quan tài liệu có liên quan đến tình hình nghiên cứu của đề
tài, tôi nhận thấy có nhiều tài liệu nghiên cứu về BHYT và NCT, những tài
liệu về BHYT thì thường nghiên cứu về nhiều đối tượng khác nhau, còn
nghiên cứu về BHYT đối với NCT chưa có nhiều. Vì vậy, trong phần tổng
quan này tôi chia thành 2 phần:
2.1. Các nghiên cứu chung về BHYT
“Bảo hiểm y tế trong hệ thống an sinh xã hội – Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn hiện nay” (2005) và “Bảo hiểm y tế trong hệ thống an sinh xã hội:
Nhu cầu và khả năng mở rộng ở nông thôn” (2006) của Trịnh Hòa Bình, các
đề tài nghiên cứu về hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam nói chung và hoạt
động của chính sách bảo hiểm y tế nói riêng; nhu cầu và khả năng mở rộng
bảo hiểm y tế ở nông thôn, qua đó làm rõ được thực trạng an sinh xã hội trong
lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
“Những yếu tố quyết định khả năng tiếp cận bảo hiểm y tế ở Việt Nam”

Trong nghiên cứu “Khám chữa bệnh bảo hiểm y tế ở Việt Nam” của Hà
Thị Minh Khương (2018) có đưa ra kết quả, đa số người dân đánh giá tích cực
về chất lượng, chi phí và hiệu quả khám chữa bệnh, điều kiện cơ sở vật chất
của các cơ sở y tế, thái độ phục vụ bệnh nhân và việc cấp phát thuốc. Nhưng
để đáp ứng nhu cầu KCB BHYT ngày càng cao và đa dạng của người dân, hệ
thống y tế, đặc biệt là các cơ sở y tế công lập, cần tiếp tục cải thiện quy trình và
thái độ phục vụ, cải thiện cơ sở vật chất và tăng cường trang thiết bị hiện đại,
giảm giá cả dịch vụ y tế cho phù hợp với mức sống của người dân ở Việt Nam.

4


2.2. Các nghiên cứu về BHYT đối với NCT
Trong các nghiên cứu về BHYT đối với NCT, có những vấn đề chính
như: 1) Những vấn đề của chính sách BHYT đối với NCT; 2) Vấn đề chăm
sóc sức khỏe của NCT; 3) Tình hình tiếp cận BHYT của NCT; 4) Khám chữa
bệnh bằng BHYT của NCT.
2.2.1. Những vấn đề của chính sách BHYT đối với NCT
Theo đánh giá của Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, việc cấp thẻ
BHYT cho người từ 90 tuổi trở lên (diện nghèo) mang tính động viên tinh
thần cho NCT nhiều hơn là hiệu quả thực tế, bởi vì có tỷ lệ khá cao người trên
90 tuổi dù có BHYT hầu như không đến được bệnh viện khi ốm đau. Đó là
chưa kể gần 1/3 số người từ 90 tuổi trở lên chưa được cấp thẻ BHYT. [Trích
theo 42, tr. 23]
Theo Báo cáo của Tổng Cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (Bộ Y tế),
chất lượng cuộc sống của người cao tuổi nhất là ở vùng nông thôn còn rất khó
khăn, tỷ lệ người nghèo ở người cao tuổi là 23,5%. Chỉ có khoảng 60% người
cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế.
Hệ thống các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật BHYT được ban hành
tương đối đầy đủ và đồng bộ với sự chỉ đạo và phối hợp thực hiện của các ban

bệnh” tại quầy hay người bán thuốc, cũng thường mua thuốc theo “kinh
nghiệm” [9, tr. 28].
Quan điểm về CSSK cho NCT được thể hiện xuyên suốt trong hệ thống
văn bản chính sách, pháp luật. Nhìn chung, các chính sách CSSK NCT hiện có
tập trung vào các điểm: NCT được CSSK ban đầu tại nơi cứ trú; cấp thẻ BHYT;
tổ chức mạng lưới tình nguyện viên CSSK cho NCT tại nhà; giảm hoặc miễn
viện phí cho bệnh nhân là NCT không có BHYT; NCT được CSSK ban đầu,
được ưu tiên khám, chữa bệnh tại các cơ sở y tế [25, tr. 119-128].
Người cao tuổi là một trong những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương
nhất trong xã hội. Nếu như công tác CSSK cho NCT không được quản trị tốt

6


bằng những cơ chế chính sách rõ ràng, cụ thể, minh bạch phù hợp với điều
kiện thực tế của Việt Nam và khả năng chi trả của NCT thì kết quả không chỉ
là làm giảm chất lượng dân số mà còn làm cho chất lượng cuộc sống của NCT
vốn đã hạn chế lại càng thêm khó khăn [48, tr. 4].
Có thể nêu vắn tắt về chính sách CSSK người cao tuổi theo tinh thần
nội dung cơ bản của Luật và các Thông tư như sau: Tại các cơ sở khám, chữa
bệnh: NCT (>80 tuổi) được ưu tiên khám trước người khác (trừ bệnh nhân
cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi và người khuyết tật nặng); được bố trí giường nằm
phù hợp khi điều trị nội trú; các bệnh viện (trừ bệnh viện Nhi khoa) có trách
nhiệm tổ chức khoa lão khoa hoặc dành một số giường để điều trị người bệnh
là người cao tuổi; Tại nơi cư trú: Trạm y tế xã có trách nhiệm lập hồ sơ quản
lý sức khỏe người cao tuổi, lập sổ theo dõi các bệnh mạn tính; tuyên truyền
phổ biến kiến thức CSSK cho người cao tuổi; tổ chức kiểm tra sức khoẻ định
kỳ, khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với chuyên môn cho người cao tuổi; cử
cán bộ y tế đến khám bệnh, chữa bệnh tại nơi cư trú đối với người cao tuổi cô
đơn bị bệnh nặng không thể đến cơ sở khám bệnh được... [6].

(NCT), chiếm khoảng 11,95% dân số. Trong đó, hơn 10,8 triệu NCT có thẻ
bảo hiểm y tế (chiếm 96%) [33].
2.2.4. Khám chữa bệnh bằng BHYT của người cao tuổi
Còn tỷ lệ khá cao người tham gia BHYT chưa hài lòng với chất lượng
dịch vụ khám chữa bệnh hiện nay, nhất là đối tượng được cấp thẻ BHYT
miễn phí; còn có sự phân biệt về cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh giữa đối
tượng tham gia BHYT bắt buộc với đối tượng được cung cấp thẻ BHYT miễn
phí… Mức độ sử dụng DVYT có sự khác biệt giữa NCT có thẻ BHYT và
không có thẻ BHYT, giữa các vùng miền và đặc điểm kinh tế nên chưa đáp
ứng được yêu cầu về sự công bằng trong CSSK NCT [17, tr. 196, 198].
Thẻ BHYT có ý nghĩa quan trọng đối với việc CSSK NCT. Số liệu
khảo sát về thực hiện Luật Người cao tuổi năm 2015 cho thấy có 92,7% NCT

8


sử dụng thẻ BHYT cho lần ốm đau gần nhất và tỷ lệ này sử dụng khá đồng
đều theo giới tính và khu vực [18, tr.284].
Tỷ lệ sử dụng dịch vụ của NCT có BHYT tại tất cả các tuyến đều cao
hơn NCT không có BHYT, trong khi NCT không có BHYT lại có tỷ lệ sử
dụng các loại hình khám chữa bệnh khác (y tế tư nhân,… ) lại cao hơn hẳn
NCT có BHYT [28, tr. 49].
Chất lượng các loại dịch vụ y tế, khám chữa bệnh có thẻ BHYT, vấn đề
y đức, tiêu cực trong ngành y tế,… có tác động tiêu cực đến thực hiện quyền
được đảm bảo CSSK của NCT nếu xem đây là lực lượng yếu thế trong xã hội.
Tỉ lệ NCT đến khám, chữa bệnh và được lập hồ sơ quản lý sức khỏe định kỳ
tại tuyến cơ sở rất thấp, nhiều bệnh viện tuyến huyện chưa thành lập được
khoa lão khoa, công tác cải cách thủ tục hành chính của ngành y tế còn chậm
[10, tr 19].
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Về mặt nội dung: Đề tài nghiên cứu 2 vấn đề chính: Thực trạng thực hiện
chính sách Bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi; Quan điểm, định hướng và một
số giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách bảo hiểm y tế đối với người cao
tuổi.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 . Cơ sở lý luận:
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chuyên ngành chính sách công và
xã hội học để phân tích; nêu lên các khái niệm về NCT, về BHYT, về chính sách
công; sử dụng lý thuyết thực thi chính sách công; đặc điểm về hoạt động chăm
sóc NCT của gia đình và xã hội; những yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia và
sử dụng thẻ BHYT của NCT; kinh nghiệm về BHYT của một số quốc gia châu
Á, để đánh giá khái quát tình hình thực hiện chính sách bảo hiểm y tế đối với
NCT và bài học kinh nghiệm về BHYT đối với NCT.

10


5.2 . Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích tài liệu
Đề tài phân tích các tài liệu có sẵn về bảo hiểm y tế đối với người cao
tuổi ở Việt Nam khoảng 15 năm trở về đây; cụ thể, đề tài tập trung tổng hợp,
phân tích các bài viết, các công trình nghiên cứu, báo cáo từ các cuộc điều tra
khảo sát có liên quan đến NCT và BHYT ở Việt Nam.
- Phương pháp điều tra bảng hỏi
Đề tài thực hiện 150 phiếu điều tra, đối tượng là những NCT, bao gồm
90 người cao tuổi nữ và 60 người cao tuổi nam, độ tuổi từ 60 tuổi trở lên.
Những người cao tuổi này hiện đang sinh sống trên địa bàn phường Phú Diễn,
quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Nhằm làm rõ hơn những nội dung liên quan tới chính sách BHYT đối

người cao tuổi ở phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
7. Kết cấu của luận văn
Đề tài bao gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về việc thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế đối với
người cao tuổi
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách bảo hiểm y tế đối với
người cao tuổi tại phường Phú Diễn, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội
Chương 3: Quan điểm, định hướng và giải pháp thực hiện chính sách
Bảo hiểm y tế đối với người cao tuổi

12


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BẢO HIỂM Y TẾ ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
1.1.

Một số khái niệm
Chính sách
Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ;

chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực
cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc
tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,... Muốn
định ra chính sách đúng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh
vực, từng giai đoạn, phải vừa giữ vững mục tiêu, phương hướng được xác
định trong đường lối, nhiệm vụ chung, vừa linh hoạt vận dụng vào hoàn cảnh
và điều kiện cụ thể [19, tr. 475].
Theo từ điển tiếng Việt, chính sách là chủ trương và các biện pháp của

lên, nhưng cũng có quốc gia quy định người ở độ tuổi 60 trở lên được xem là
người cao tuổi [48, tr. 6].
Xem xét từ góc độ sinh học, NCT là các cá nhân mà sự lão hóa của cơ
thể đã bộc lộ ở các mức khác nhau, thể hiện cụ thể ở tuổi thọ của họ. Tại Việt
Nam, Pháp lệnh về NCT (2000) và Luật về NCT Việt Nam được Quốc hội
thông qua năm 2009 quy định “những người từ 60 tuổi trở lên là người cao
tuổi”; Từ góc độ kinh tế, tuổi già là thời điểm mà người lao động ít còn khả
năng độc lập về kinh tế và do đó cần được hỗ trợ bởi các dịch vụ xã hội, có
nghĩa là họ trở thành những người phụ thuộc về mặt xã hội; Từ góc độ các
quan hệ xã hội, NCT được xác định dựa vào một trong các đặc điểm khá rõ
ràng là giảm dần các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội nói chung và tăng

14


dần sự phụ thuộc vào các thành viên xã hội khác để đáp ứng các nhu cầu cơ
bản của mình [25].
Hiện nay, theo tổ chức Liên Hợp Quốc, không có một chuẩn duy nhất về
định nghĩa người cao tuổi. Tuy nhiên, theo quan niệm của tổ chức này, một
người được coi là người cao tuổi khi họ bước vào tuổi 60.
Theo quy định của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), độ tuổi trên 60 thì
được gọi là người cao tuổi.
Tại Việt Nam, theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009,
người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Các nghiên cứu
của Việt Nam về người cao tuổi cũng thường sử dụng khái niệm người cao
tuổi theo quy định của Luật này.
Vì vậy, trong đề tài này tôi cũng sử dụng khái niệm người cao tuổi là
người đủ từ 60 tuổi trở lên như quy định trong Luật Người cao tuổi của
Việt Nam.
1.2.

Thực thi có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, theo
Daniel A.Mazmanian và Paul A.Sabatier: “Thực thi là thực hiện một quyết
định chính sách cơ sở, thường được thể hiện trong một đạo luật, nhưng cũng
có thể được thể hiện dưới hình thức các quyết định quan trọng của cơ quan
hành pháp hoặc các quyết định của tòa án. Theo lý tưởng, quyết định đó xác
định vấn đề cần được giải quyết, quy định các mục tiêu cần theo đuổi và rất
nhiều cách thức, định hình quá trình thực thi. Thông thường, quá trình này trải
qua nhiều giai đoạn, bắt đầu với việc thông qua đạo luật cơ bản, tiếp theo là
các quyết định của các cơ quan thực thi chính sách, sự tuân thủ của các nhóm
lợi ích với các quyết định đó, các tác động thực tế - cả chủ định và không chủ
định – của các đầu ra đó, những tác động nhận thức được của các quyết định,
và cuối cùng là những sửa đổi quan trọng trong đạo luật cơ bản”.
Theo Amy DeGroff, Margaret Cargo, “Thực thi chính sách công phản
ánh một quá trình thay đổi phức tạp mà các quyết định của nhà nước được

16


chuyển thành các chương trình, thủ tục, các quy định hoặc các hoạt động
nhằm đạt được những cải thiện xã hội”.
Theo Thomas Dye, “Thực thi bao gồm tất cả các hoạt động được thiết
kế để thực hiện các chính sách công đã được thông qua bởi cơ quan lập pháp.
Vì các chính sách công có những tác động mong muốn hoặc có chủ định, nên
chúng phải được chuyển thành các chương trình và các dự án mà sau đó được
thực hiện để đạt được một tập hợp các mục tiêu hoặc mục đích”.
Vậy, có thể hiểu: “Thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách
công vào thực tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các văn bản,
chương trình, dự án thực thi chính sách công và tổ chức thực hiện chúng
nhằm hiện thực hóa mục tiêu chính sách công”.
[46, tr. 93-97]

- Xây dựng kế hoạch tổ chức thi hành văn bản, hoặc lập kế hoạch thực
hiện chương trình, dự án;
- Tuyên truyền, phổ biến nội dung văn bản, chương trình, dự án;
- Tập huấn văn bản, bồi dưỡng những kiến thức và kỹ năng cần thiết để
triển khai văn bản, chương trình, dự án;
- Bảo đảm cơ sở vật chất, kinh phí, tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực
để triển khai thi hành văn bản, thực hiện chương trình, dự án;
- Chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, đôn đốc việc thi hành văn bản, việc thực
hiện chương trình, dự án.
Bước 3: Sơ kết, tổng kết thực hiện văn bản, chương trình, dự án thực thi chính
sách công
Việc sơ kết, tổng kết thực hiện chính sách công được tiến hành theo
trình tự từ dưới lên trên.
- Trước hết, các cơ quan, tổ chức được giao thi hành văn bản thực thi
chính sách công nào thì tiến hành sơ kết, tổng kết việc thi hành văn bản đó, và

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status