VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM NGỌC THỦY
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM NGỌC THỦY
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8.34.04.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ HẰNG
HÀ NỘI, 2019
LỜI CAM ĐOAN
Chương 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI
HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN TRONG THỜI GIAN TỚI .. 59
3.1. Định hướng, mục tiêu thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới
trên địa bàn huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn ............................................. 59
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xây dựng
nông thôn mới trên địa bàn huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn..................... 62
3.3. Kiến nghị............................................................................................... 72
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 77
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 84
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BCĐ
Ban chỉ đạo
CNH,HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
HĐND
Hội đồng nhân dân
MTQG
Mục tiêu quốc gia
Bảng 2.3. Kết quả khảo sát về thực hiện công tác xây dựng kế hoạch triển
khai thực hiện chính sách xây dựng NTM tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn
......................................................................................................................... 89
Bảng 2.4. Kết quả khảo sát về việc thực hiện công tác phổ biến, tuyên truyền
thực hiện chính sách xây dựng NTM tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn ... 90
Bảng 2.5. Kết quả khảo sát về công tác phân công, phối hợp thực hiện chính
sách xây dựng NTM tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn ............................. 91
Bảng 2.6. Kết quả khảo sát về thực hiện công tác duy trì thực hiện chính sách
xây dựng NTM tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn...................................... 91
Bảng 2.7. Kết quả khảo sát về công tác điều chỉnh thực hiện chính sách xây
dựng NTM tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn ............................................ 92
Bảng 2.8. Kết quả khảo sát về công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra thực hiện
chính sách xây dựng NTM tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.................... 92
Bảng 2.9. Kết quả khảo sát về công tác đánh giá tổng kết thực hiện chính sách
xây dựng NTM tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn...................................... 93
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, lao động khu vực nông thôn chiếm khoảng 68% lao động
xã hội, trong đó có khoảng 30% lao động tham gia sản xuất nông nghiệp
[39]. Thực hiện triển khai các nội dung của Nghị quyết số 26-NQ/TW Hội
nghị lần thứ bảy, Ban chấp hành Trung ương đảng (khoá X) về nông
nghiệp, nông dân, nông thôn [1]; Các quyết định: Quyết định số 491/QĐTTg ngày 16/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Bộ tiêu
chí Quốc gia về NTM [40] và Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010
của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chương trình mục tiêu Quốc gia về
xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020” [41], chương trình mục tiêu quốc
gia về xây dựng NTM là một chương trình tổng thể về phát triển KT-XH,
chính trị và an ninh quốc phòng. Trong 7 năm (2010 - 2017), phong trào
xây dựng NTM có sức lan tỏa cao, trở thành phong trào sâu rộng với sự
nhập của nông dân thấp, tỷ lệ hộ nghèo còn cao; kinh tế hộ, kinh tế trang
trại, hợp tác xã còn nhiều yếu kém; đời sống tinh thần của nhân dân còn
hạn chế, nhiều nét văn hoá truyền thống đang có nguy cơ mai một; môi
trường và an ninh nông thôn còn nhiều vấn đề bức xúc.... Vì vậy, để nâng
cao chất lượng chương trình xây dựng NTM, Quyết định 1600/QĐ-TTg
phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 20162020 và Quyết định 1760/QĐ-TTg ngày 10/11/2017 bổ sung một số nội
dung của Quyết định 1600/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc
gia xây dựng NTM giai đoạn 2016-2020 [44] đã ra đời nhằm tiếp tục bổ
sung và hoàn thiện chương trình NTM ở Việt Nam.
Năm 2011, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn bắt đầu triển khai thực
hiện “Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM”. Để xây dựng thành
công NTM, Đảng ủy, HĐND, UBND và toàn thể nhân dân trong huyện đã
xác định rõ quan điểm đây là cuộc vận động mang tính toàn diện, rất cần sự
2
đồng thuận, nỗ lực của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân [53].
Điều quan trọng nhất là phải phát huy tối đa vai trò của nông dân trong tiến
trình thực hiện xây dựng NTM văn minh, hiện đại. Trong xây dựng NTM,
người nông dân là chủ thể, nông thôn là địa bàn, Nhà nước giữ vai trò hỗ
trợ. Do vậy phải khơi dậy tinh thần, ý thức tự lực, tự cường, tự vươn lên
của từng người, từng hộ nông dân, từng cộng đồng thôn bản; phát huy cao
nhất vai trò lãnh đạo, vận động, giám sát của cấp ủy, chính quyền, Mặt trận
Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân ở cơ sở; huy động sự tự giác tham gia,
tích cực tham gia của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài huyện để tạo
thành phong trào vận động rộng lớn. Kể từ khi thực hiện xây dựng NTM
đến nay, Hữu Lũng đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể, đời sống của
nhân dân được nâng cao, bộ mặt nông thôn chuyển biến theo hướng tích
cực, đến hết năm 2017, có 04/26 xã, thị trấn được công nhận xã NTM; kinh
Tác giả GS.TS. Nguyễn Thế Nhã và TS. Hoàng Văn Hoan (1995),
“Vai trò của Nhà nước trong phát triển nông nghiệp của Thái Lan” đã đi
sâu phân tích quá trình hoạch định và chỉ đạo thực hiện chính sách nông
nghiệp của Thái Lan từng thời kỳ[30].
Tác giả Phan Xuân Sơn và Nguyễn Cảnh (2003), với công trình
“Xây dựng mô hình NTM ở nước ta hiện nay” đã đề ra phương pháp và các
điều kiện để thực hiện đạt 19 tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM [34].
Tác giả Nguyễn Sinh Cúc (2003), với tác phẩm tiêu biểu là“Nông
nghiệp, nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới” đã luận giải và làm rõ quá
trình đổi mới, hoàn thiện chính sách nông nghiệp, nông thôn nước ta trong
những năm đổi mới, những thành tựu và những vấn đề đặt ra trong quá
trình phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đã được đúc rút theo
từng tiêu chí cụ thể [6].
Bên cạnh đó, trên Tạp chí Cộng sản có đăng nhiều bài viết quan
trọng liên quan đến đề tài luận văn nghiên cứu: Bài viết “Xây dựng NTM:
4
một số vấn đề đặt ra” của TS. Phạm Tất Thắng, Phó Tổng Biên tập Tạp
chí Cộng sản, tháng 11/2015; Bài viết “Xây dựng NTM - những bài học
kinh nghiệm giai đoạn 2010 - 2015” của tác giả Lê Nguyễn, Báo điện tử
Đảng Cộng sản Việt Nam, tháng 1 năm 2016.
Hai là, những nghiên cứu liên quan đến thực hiện chính sách xây
dựng NTM nói chung
Tác giả Trần Đình Thao chủ trì (2012), “Nghiên cứu đề xuất giải pháp
hoàn thiện chính sách xây dựng nông thôn mới phù hợp với điều kiện tỉnh
Bắc Ninh đến năm 2020” với mục tiêu chính đó là: Phân tích, đánh giá tác
động tích cực của các chính sách đối với nông thôn nói chung và chính sách
NTM nói riêng trong triển khai xây dựng NTM ở Bắc Ninh. Từ những kết
sở lý luận về chính sách và việc thực hiện chính sách. Phân tích quá trình
hình thành và phát triển của chính sách trong phát triển nông nghiệp, nông
thôn nói chung, xây dựng mô hình nông thôn mới nói riêng của Đảng và
Nhà nước ta từ sau đổi mới đến nay. Phân tích quá trình thực hiện chính
sách xây dựng mô hình nông thôn mới ở địa phương. Trên cơ sở đó, luận
văn đưa ra những kiến nghị mang tính giải pháp nhằm thực hiện một cách
khoa học các chu trình thực hiện chính sách trong xây dựng mô hình nông
thôn mới, góp phần đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện giai đoạn
2017-2020 [58].
Tác giả Hoàng Văn Vĩ (2018), Thực hiện chính sách xây dựng nông
thôn mới từ thực tiễn huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, đã làm rõ cơ sở lý
luận và kinh nghiệm thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới; nghiên
cứu thực trạng thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới ở huyện Yên
Dũng; từ đó chỉ ra những mặt được, những hạn chế, bất cập và nguyên
nhân hạn chế trong thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới, từ đó
6
đưa ra các quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện chính sách xây
dựng nông thôn mới [59].
Những kết quả đạt được: Khi tìm hiểu và nghien cứu những công
trình khoa học nêu trên, cho thấy các đề tài, luận án, luận văn và bài viết
đã cung cấp phần nào những luận cứ, luận chứng, những dữ liệu rất quan
trọng cho việc thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn và
giải quyết vấn đề nông dân trong thời kỳ mới ở nước ta.
Khoảng trống chưa nghiên cứu: Tuy nhiên chưa có đề tài nào nghiên
cứu về thực hiện chính sách xây dựng NTM tại huyện Hữu Lũng, tỉnh
Lạng Sơn.
chính sách xây dựng NTM trên địa bàn huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn;
nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách xây dựng NTM trên địa bàn
huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn; nghiên cứu những định hướng và giải
pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xây dựng NTM trên địa bàn
huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
Phạm vi không gian nghiên cứu: Tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng
Sơn.
Phạm vi thời gian nghiên cứu: Từ năm 2014 đến 2018 (Năm 2018,
huyện Hữu Lũng tổng kết giữa giai đoạn 2016 - 2020 chương trình mục
tiêu quốc gia về xây dựng NTM trên địa bàn huyện).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận nghiên cứu của chủ nghĩa duy
vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử kết hợp với quản điểm của Đảng,
chính sách của Nhà nước và tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng cách tiếp cận
theo hệ thống, đa ngành, liên ngành về khoa học xã hội, tiếp cận dựa trên
phương pháp nghiên cứu quy phạm về chu trình thực thi và đánh giá chính
sách công.
8
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện việc nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng
tổng hợp các phương pháp cụ thể sau trên cơ sở phương pháp luận:
Phương pháp thu thập và xử lý thông tin: Thu thập thông tin về chính
sách xaayd ựng NTM, qúa trình thực hiện triển khai chính sách xây dựng
nông thôn mới của các địa phương thông nhiều phương tiện như: trên mạng
internet; qua các báo cáo tổng kết của Trung ương, tỉnh, huyện; qua các
quy định pháp luật về thực hiện chương trình nông nghiệp, nông thôn và
cần giải quyết trong quá trình thực hiện chính sách xây dựng NTM, đề xuất
các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả xây dựng NTM của huyện Hữu
Lũng, tỉnh Lạng Sơn nói riêng, của tỉnh và cả nước nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn được bố trí theo 3 chương:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về thực hiện
chính sách xây dựng NTM.
Chương 2. Thực trạng tổ chức thực hiện chính sách xây dựng NTM
từ thực tiễn huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn.
Chương 3. Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực
hiện chính sách xây dựng NTM trên địa bàn huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng
Sơn thời gian tới.
10
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CƠ BẢN
VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm nông thôn mới
Theo tinh thần Nghị quyết 26-NQ/TW của Trung ương khóa X về
nông nghiệp, nông dân, nông thôn thì NTM là khu vực nông thôn có kết
cấu hạ tầng KT-XH từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ
chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp,
dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông
thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái
được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần
của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa
là chính sách công mà cụ thể là chính sách xây dựng NTM. Đây là những
chính sách do nhà nước đề ra có phạm vi tác động rộng lớn đến đời sống
chính trị, kinh tế, xã hội trên phạm vi quốc gia, vùng, miền… Do đó,
“Chính sách xây dựng NTM được hiểu là một tập hợp các biện pháp được
thể chế hóa, mà Đảng, Nhà nước và Chính phủ cùng các bộ, ngành từ
Trung ương đến địa phương xây dựng nên, trong đó tạo sự ưu đãi đặc biệt
đối với sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn, kích thích vào động cơ
hoạt động về mọi mặt của nông nghiệp nông thôn nhằm thực hiện một mục
tiêu xây dựng NTM với 19 tiêu chí hết sức cụ thể”.
1.1.3. Khái niệm thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới
Các chính sách xây dựng NTM đóng vai trò rất quan trọng trong việc
phát triển nông nghiệp, nông thôn của nước ta hiện nay, tuy nhiên việc
triển khai thực hiện chính sách vào thực tế là một quá trình gồm nhiều nội
dung, thành tố cấu thành. Đề tài nghiên cứu khái niệm thực hiện chính sách
12
là việc triển khai chính sách, bao gồm việc cụ thểhóa chính sách hay
chương trình thành một kế hoạch và được hành động theo từng cấp, từng
ngành và từng địa phương; được tuyên truyền, phổ biến thông tin đến từng
cấp cơ sở; phân cấp các hoạt động; chuẩn bị các nguồn lực để triển khai
thực hiện và tổ chức thực hiện. Cùng với đó là sự kiểm tra, giám sát các
hoạt động, chuẩn bị các nguồn lực để đánh giá tình hình thực hiện cũng
như kết quả của việc thực hiện chính sách. Từ việc thực hiện chính sách,
rút ra những bài học kinh nghiệm cho những công việc và kế hoạch tiếp
theo, sửa đổi, điều chỉnh chính sách cho phù hợp [35, tr.14].
Thực hiện chính sách là một khâu hợp thành, chu trình chính sách là
khâu trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách. Việc tổ chức
thực thi chính sách xây dựng NTM được thực hiên từ cấp chính quyền
trung ương đến chính quyền địa phương, mỗi cấp chính quyền điều có
Về quy hoạch NTM: Đây là nội dung phải được triển khai thực hiện
trước một bước để làm căn cứ thực hiện các nội dung khác. uản lý xây
dựng nông thôn mới theo quy hoạch cần dựa trên việc xây dựng Quy định
quản lý xây dựng nông thôn mới theo tiêu chí quy hoạch xây dựng xã nông
thôn mới và cập nhật thay đổi theo các hoạch định của quy hoạch xây dựng
vùng huyện có liên quan đến xã đó. Nội dung của công tác lập quy hoạch
xây dựng nông thôn mới liên quan chủ yếu đến quy hoạch xây dựng, quy
hoạch sản xuất và quy hoạch sử dụng đất. Trong giai đoạn trước mắt công
tác quy hoạch là cơ sở cho việc lập các Đề án xây dựng nông thôn mới theo
19 tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới do Chính phủ ban hành.
Về mặt lâu dài công tác quy hoạch là cơ sở hoạch định đường lối trong xây
dựng phát triển nông thôn theo đúng tinh thần Nghị quyết 26 của Ban Chấp
hành Trung ương khóa X.
14
Về xây dựng cơ sở hạ tầng: Trong chương trình xây dựng nông thôn
mới, bước đầu các địa phương ưu tiên dành nhiều nguồn lực cho xây dựng
hạ tầng. Đây được coi là yếu tố quan trọng nhất để cải tạo bộ mặt nông
thôn, tạo đà cho phát triển kinh tế - xã hội - văn hoá - an ninh và đặc biệt là
tăng hưởng thụ trực tiếp cho người dân. 5 năm thực hiện xây dựng nông
thôn mới, bộ mặt nông thôn với hệ thống hạ tầng đã có những thay đổi
đáng kể. Trong giai đoạn tới, hạ tầng nông thôn vẫn cần sự tập trung đầu tư
phát triển có định hướng rõ ràng, cụ thể hướng tới phát triển bền vững để
tạo tiền đề cơ sở thúc đẩy sự thành công của một chương trình có nhiều ý
nghĩa kinh tế, xã hội [44]. Công tác quy hoạch xã nông thôn mới đi trước
một bước giúp cho việc lập kế hoạch và tổ chức thực hiện xây dựng các
công trình cơ sở hạ tầng từng xã đảm bảo tính hệ thống, đồng bộ và thống
nhất. Các công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng mới, cải tạo và nâng cấp
chủ thể xây dựng nông thôn mới.
1.2. Nội dung thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới
1.2.1. Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về xây dựng
nông thôn mới
Cương lĩnh Chính trị (1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng
định vai trò của nông dân trong cách mạng nước ta. Qua mỗi một giai đoạn
cách mạng, quan điểm và đường lối của Đảng về vấn đề này cũng được cụ
thể hóa, thay đổi, phát triển đáp ứng được những yêu cầu thực tiễn đề ra
[9]. Các chương trình đó là sự cụ thể hoá nội dung chính của công nghiệp
hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên”[9, tr.48]. Nhìn chung,
giai đoạn từ năm 1989 - 1999 là giai đoạn sản xuất nông nghiệp chuyển từ
tự cung, tự cấp sang kinh tế hàng hoá, từng bước chuyển dần hướng về
xuất khẩu.
16
Bước vào thập niên 90, Đại hội VII (1991) chỉ rõ “Phát triển nông,
lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triển toàn diện kinh tế
nông thôn và xây dựng NTM là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để ổn định
tình hình KT-XH” [10, tr.63], mở ra thời kỳ mới cho phát triển nông
nghiệp nông thôn theo chủ trương: Nông nghiệp, kinh tế nông thôn là mặt
trận hàng đầu.Cụ thể hoá đường lối Đại hội VII, Hội nghị Ban chấp hành
Trung ương lần thứ 5 (10/6/1993) đã ra Nghị quyết quan trọng tiếp tục đổi
mới và phát triển KT-XH nông thôn [10].
Đưa nhanh tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất, xây dựng
hợp lý cơ cấu sản xuất nông nghiệp... phát triển mạnh công nghiệp và dịch
vụ ở nông thôn. [11, tr.125].
Một trong những định hướng lớn để sớm đạt được mục tiêu nước ta
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại là phát triển nông
quả cao; xây dựng nông thôn mới, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện
sống của dân cư nông thôn; phát triển kết cấu hạ tầng, nâng cao năng lực
phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai; bảo vệ và sử dụng hợp lý, hiệu quả các
nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Đảng chỉ rõ nhiệm vụ và giải pháp cơ cấu lại nông nghiệp gắn với
xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn 2016 – 2020 là: “tập trung thực
hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp phát triển nông nghiệp bền vững, xây
dựng nông thôn mới và cải thiện đời sống của nông dân”(3).Đây là nhiệm
vụ hết sức khó khăn, bởi quá trình sản xuất nông nghiệp những năm gần
đây tuy đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng kém bền vững và còn nhiều
thách thức.
Tổng kết 5 năm xây dựng nông thôn mới, một yêu cầu bức thiết đặt ra
là phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn phải gắn với xây dựng nông
thôn mới bền vững. Xây dựng nông thôn mới bền vững là quá trình tiếp tục
18
củng cố và phát triển hài hòa các tiêu chí đã đề ra, duy trì và nâng cao chất
lượng các tiêu chí đã đạt được, bổ sung một số tiêu chí phản ánh mức độ
hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần của người dân nông thôn.
1.2.2. Ý nghĩa của tổ chức thực hiện chính sách xây dựng nông thôn
mới
Chính sách xây dựng NTM như là một phương tiện “bà đỡ” cho phát
triển mọi mặt ở nông thôn, nhất là những vùng miền có điều kiện KT-XH
khó khăn, những hộ gia đình và người dân yếu thế trong xã hội thì có điều
kiện vươn lên cải thiện đời sống và có đủ điều kiện để hòa nhập cộng đồng;
xóa bỏ mặc cảm, tự ti trong cộng đồng dân cư; dân chủ trong xã hội được
phát huy, quyền con người được bảo đảm.
Thông qua chính sách xây dựng NTM, truyền thống đoàn kết thương
yêu, giúp đỡ lẫn nhau, tính tự lực vươn lên của mỗi người, từng hộ gia