VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG MINH THẢO
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG MINH THẢO
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8.34.04.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. CAO THU HẰNG
HÀ NỘI, 2019
LỜI CAM ĐOAN
Du lịch MICE
Là loại hình du lịch kết hợp hội nghị,
hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện…
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
GRDP
Tổng sản phẩm trên địa bàn
GTVT
Giao thông Vận tải
KHCN
Khoa học công nghệ
KHĐT
Kế hoạch Đầu tư
KHXH
hóa Liên Hiệp quốc
VHTT
Văn hóa Thông tin
VHTT&DL
Văn hóa - Thể thao và Du lịch
WTO
Tổ chức Thương mại thế giới
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU......................................................................................................................... 1
Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
PHÁT TRIỂN DU LỊCH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ............................................
11
1.1. Khái niệm du lịch, chính sách phát triển du lịch, thực hiện chính sách phát triển
du lịch
................................................................................................................................................... 11
1.2. Quy trình thực hiện chính sách phát triển du lịch ...........................................................
21
1.3. Các chủ thể chủ yếu tham gia vào công tác thực hiện chính sách phát triển du lịch
ở
Việt Nam hiện nay ................................................................................................................... 24
1.4. Các yếu tố tác động đến việc thực hiện chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam
hiện nay.............................................................................................................................................
du
lịch............................................................................................ 54
Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ LẠNG SƠN, TỈNH LẠNG SƠN .....................................................
58
3.1. Quan điểm, mục tiêu phát triển du lịch của thành phố Lạng Sơn trong thời gian
tới .. 58
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển du lịch
trên
địa bàn thành phố Lạng Sơn....................................................................................................
60
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................
81
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ
BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp đất đai của thành phố Lạng Sơn ...............................................87
Bảng 2.2: Hiện trạng CSLT du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn .....................88
Bảng 2.3: Thống kê lượng khách du lịch đến thành phố Lạng Sơn..........................90
giai đoạn 2010 - 2017................................................................................................90
Bảng 2.4: Tổng thu từ khách du lịch của Thành phố ................................................91
giai đoạn 2010 - 2017................................................................................................91
Bảng 2.5: Tổng số lao động về du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn giai đoạn
2010 - 2017 ...............................................................................................................93
được đổi mới; nhận thức du lịch ngày càng cải thiện. Ngành du lịch Việt Nam đã có
những bước phát triển đáng ghi nhận, trở thành ngành kinh tế quan trọng trong phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước. Năm 2017, Việt Nam đón 12,92 triệu lượt khách
du lịch quốc tế và 73,2 triệu lượt khách du lịch nội địa; ngành du lịch đã đóng góp
khoảng 396.000 tỷ đồng; tạo ra gần 2,5 triệu việc làm, trong đó có 620.000 lao động
trực tiếp du lịch [36].
1
Thực hiện chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, của Ủy ban Nhân dân tỉnh Lạng Sơn,
trong những năm qua, thành phố Lạng Sơn đã chú trọng phát triển du lịch. Là trung
tâm kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội của tỉnh Lạng Sơn, thành phố Lạng Sơn là
một thành phố miền núi phía Đông Bắc của Việt Nam, có điều kiện thuận lợi để phát
triển du lịch; với những vùng núi đá cao, khí hậu quanh năm mát mẻ, dễ chịu; có
quần thể hang động tự nhiên lớn nhỏ là tiềm năng quan trọng để du khách thập
phương tham quan tìm hiểu ; nhiều danh lam thắng cảnh của thành phố Lạng Sơn đã
đi vào ca dao, lịch sử, tiếng hát, lời ru, được nhiều người biết đến:
“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh…”
Thành phố cũng là nơi có nhiều di tích, danh thắng gắn với những sự kiện lịch
sử như thành Nhà Mạc, Thành cổ Lạng Sơn, di chỉ khảo cổ học Mai Pha; với hệ
thống các đền, chùa đã được xếp hạng… Đây cũng là nơi cư trú của nhiều dân tộc
anh em cùng sinh sống như: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Hoa...với nhiều nét đẹp mang
đậm bản sắc văn hoá truyền thống phong tục tập quán trong sản xuất cũng như trong
sinh hoạt đời thường. Với những cảnh quan và tài nguyên có giá trị như vậy, có thể
thấy, thành phố Lạng Sơn thực sự là nơi lý tưởng cho phát triển du lịch.
Trong những năm qua, nhờ thực hiện tốt các quan điểm chỉ đạo, lĩnh vực du
lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn đã có những thành tựu đáng kể. Các di tích,
danh thắng được quan tâm tu bổ, tôn tạo; các nhà hàng, cơ sở lưu trú du lịch được
lịch đã có một số công trình triển khai nghiên cứu.
Về cơ bản, thứ nhất, nghiên cứu về du lịch ở góc độ chung nhất, có thể kể đến
một số công trình tiêu biểu sau:
Công trình Du lịch bền vững của tác giả Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn Hiếu
(Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001) đã đề cập đến vị trí của du lịch trong phát
triển, tác động của du lịch đến yếu tố sinh thái tự nhiên, tác động đến liên hệ xã hội nhân văn,… Công trình cũng đề cập đến một số chính sách du lịch bền vững trên thế
giới, đến du lịch bền vững ở vùng biển, vùng núi, vùng sinh thái hoang sơ… Có thể
thấy, những nội dung trong công trình Du lịch bền vững, đặc biệt là vấn đề du lịch
bền vững và du lịch bền vững ở vùng núi là tài liệu tham khảo cho tác giả luận văn
khi triển khai, nghiên cứu đề tài của mình [18].
Tác giả Phạm Trung Lương và cộng sự trong công trình nghiên cứu Cơ sở
khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam đã làm rõ được thực
trạng phát triển du lịch Việt Nam trong những năm gần đây, bao gồm cả những thành
tựu và hạn chế; khẳng định rằng, Việt Nam muốn coi du lịch như một ngành kinh tế
trọng điểm thì cần có quan điểm, giải pháp phát triển du lịch một cách bền vững.
Qua đó, công trình cũng đã đề xuất một số giải pháp phát triển du lịch bền vững ở
Việt Nam hiện nay, bao gồm cả những giải pháp về kinh tế, môi trường, thể chế và
văn hóa, xã hội,..[26].
Trong công trình Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đầu tư phát triển khu du
lịch, tác giả Lê Văn Minh đã đề cập đến vai trò của đầu tư trong phát triển du lịch,
thể hiện ở các khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội. Qua đó, công trình đã đề xuất một
số giải pháp nhằm tổ chức, quản lý khu du lịch, phát huy vai trò của cộng đồng, cải
cách hành chính… nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư khu du lịch. Dù không trực tiếp
đề cập đến vấn đề thực hiện chính sách phát triển du lịch, nhưng những đánh giá, đặc
biệt là những đề xuất của tác giả Lê Văn Minh trong bài viết này là những tài liệu
tham khảo quý cho học viên triển khai nghiên cứu đề tài, trong việc xem xét, tham
khảo các giải pháp mà tác giả đề xuất [28].
Văn hóa du lịch của Nguyễn Phạm Hùng (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
2020, đưa du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp,
có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có
chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, cạnh
tranh được với các nước trong khu vực và thế giới. Phấn đấu đến năm 2030, Việt
Nam trở thành quốc gia có ngành du lịch phát triển [37].
Đỗ Thị Thanh Hoa (2016), Những vấn đề đặt ra trong phát triển du lịch sinh
thái ở Việt Nam: nghiên cứu, đánh giá các tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, các
hoạt động du lịch sinh thái ở Việt Nam hiện nay; đồng thời đánh giá thực trạng khai
thác tiềm năng du lịch sinh thái giai đoạn hiện nay, phân tích những hạn chế, những
cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu của du lịch sinh thái Việt Nam, từ đó đề
xuất các thể chế, chính sách để có thể khai thác tiềm năng, phát triển du lịch sinh thái
trong tương lai.
Liên quan đến vấn đề du lịch, phát triển du lịch, còn có các công trình nghiên
cứu khác như Phát triển du lịch bền vững từ góc độ môi trường (Phạm Trung
Lương,Tạp chí Du lịch số 7/2007), Phát triển các ngành du lịch trong quá trình
phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế (Lưu Đức Hải, Tạp chí Tổng quan kinh tế xã
hội Việt Nam số 4-2009, Hà Nội), Quy hoạch du lịch (Bùi Thị Hải Yến chủ biên,
Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2010), Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam (Phạm
Trung Lương, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2010), Phát triển nguồn nhân lực du lịch yếu tố quyết định sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam (Nguyễn Văn Lưu, Nxb
Thông tấn, Hà Nội, 2014), Du lịch Việt Nam thời kỳ đổi mới (Trần Thị Minh Hòa
chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015), Phát triển du lịch bền vững ở Việt
Nam trong sự cạnh tranh với các nước trong khu vực ASEAN (Đoàn Mạnh
Cương, in trong: Toàn cầu hóa du lịch và địa phương hóa du lịch, Nxb Đại học
Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2017), Địa lý du lịch-cơ sở lý luận và thực tiễn
phát triển ở Việt Nam (Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2018), Phát triển công nghiệp văn
hóa ở Việt Nam (Từ Thị Loan chủ biên, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội, 2017)…. Các
công trình này đều khẳng định vai trò của du lịch đối với sự phát triển ở Việt Nam:
phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo; tạo sự trao đổi, giao lưu văn hóa, giữ gìn bản
Đây là công trình có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp thông tin liên quan đến
văn hóa của Lạng Sơn, qua đó cung cấp các thông tin giúp các nhà nghiên cứu, các
cơ quan quản lý nhà nước có định hướng trong việc bảo tồn, phát triển nền văn hóa
Xứ Lạng gắn với phát triển du lịch.
Ban Quản lý di tích tỉnh Lạng Sơn (2014), Những điểm đến văn hóa và du
lịch hấp dẫn tỉnh Lạng Sơn: công trình đã thống kê các điểm du lịch, văn hóa trên
địa bàn tỉnh Lạng Sơn, đây là cơ sở để xây dựng các tuyến du lịch, các sản phẩm du
lịch và đề ra các phương án khai thác các điểm du lịch, văn hóa gắn với phát triển
kinh tế.
Trần Thị Bích Hạnh (2016), Phát triển du lịch tâm linh ở Lạng Sơn, Luận
văn thạc sỹ Du lịch học, Đại học KHXH và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà
Nội: Luận văn phân tích, đánh giá sâu về du lịch tâm linh như đưa ra những cơ
sở lý luận, một số vấn đề về du lịch tâm linh, thực trạng du lịch tâm linh trên địa
bàn cả nước; đánh giá khái quát về du lịch tâm linh tại tỉnh Lạng Sơn, qua đó đề
xuất một số giải pháp để phát triển du lịch tâm linh trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
Tỉnh Lạng Sơn cũng đã ban hành các văn bản liên quan đến phát triển du lịch,
đó là:
Quyết định số 1278/QĐ-UBND ngày 21/8/2010 của UBND tỉnh Lạng Sơn về
việc phê duyệt "Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”. Quyết định đã đưa ra mục tiêu phát triển du lịch
tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, đó là: phát triển du
lịch sẽ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho
nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo; đưa du lịch Lạng Sơn trở thành một trong
những địa bàn trọng điểm du lịch của các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc; nâng
cao dân trí, bảo tồn và phát huy giá trị cảnh quan, di tích lịch sử và môi trường khu
vực [47].
Nghị quyết số 41-NQ/TU ngày 18/6/2012 của Tỉnh ủy Lạng Sơn về phát triển
thương mại, dịch vụ, du lịch đến năm 2015, định hướng đến năm 2020. Theo đó,
mục tiêu phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn là: Phát triển thương mại, du
lịch trên trên địa bàn thành phố Lạng Sơn.
Không gian nghiên cứu: Thực hiện chính sách phát triển du lịch trên địa bàn
thành phố Lạng Sơn.
Thời gian nghiên cứu: Thời gian thu thập số liệu, cơ sở dữ liệu sử dụng phục
vụ nghiên cứu từ năm 2010 đến nay. Thời gian này được tính từ khi Quyết định số
1278/QĐ-UBND ngày 21/8/2010 của UBND tỉnh Lạng Sơn về việc phê duyệt "Quy
hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2010 - 2020 và tầm nhìn
đến năm 2030” ban hành.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn có cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về văn hóa, du lịch, phát triển du
lịch.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử, cùng với các phương pháp nghiên cứu cụ thể, bao gồm:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp phỏng vấn; phương pháp thống kê;
phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích định
tính; phương pháp lịch sử và logic…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm sáng rõ hơn một số vấn đề lý luận về việc thực hiện
chính sách phát triển du lịch ở Thành phố Lạng Sơn hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong quá trình tham mưu thực hiện
chính sách phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Lạng Sơn. Đồng thời luận văn
cũng là tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, giảng dạy liên quan đến phát
triển du lịch, thực hiện chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam hiện nay.
một mục tiêu nào đó. Ở tầm vĩ mô, chính sách của Nhà nước, Chính phủ thường
được coi là chính sách công.
1.1.2.2. Chính sách công
Theo William Jenkins (1978): Chính sách công là một tập hợp các quyết định
có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền
với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó. Quan điểm
này xác định chính sách công là tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, quyết
định thuộc thẩm quyền nhà nước để xác định mục tiêu và cách thức đạt được mục
tiêu đó trong thực tiễn [24].
Về cơ bản, chính sách công có thể được hiểu như sau:“Chính sách công là
một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn mục
tiêu và giải pháp thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu tổng thể
đã xác định”[13].
Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là một chủ thể của chính sách
công [60, tr.3-8], trên cơ sở đó, Chính phủ hoạch định, xây dựng, ban hành và tổ
chức thực hiện. Bản chất của chính sách công là công cụ để nhà nước thực hiện chức
năng,
nhiệm vụ của mình, thực hiện các hoạt động liên quan đến công dân và can thiệp vào
hành vi xã hội trong quá trình phát triển chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội.
Về cơ bản, chính sách công có đặc điểm sau:
Thứ nhất, chủ thể ban hành Chính sách công là nhà nước
Nếu như chủ thể ban hành các chính sách tư có thể là các tổ chức tư nhân, các
đoàn thể chính trị - xã hội, cũng như các cơ quan trong bộ máy nhà nước để điều tiết
hoạt động trong phạm vi tổ chức, đoàn thể hay cơ quan riêng biệt đó, thì chủ thể ban
hành chính sách công chỉ có thể là nhà nước. Các cơ quan trong bộ máy nhà nước
vừa là chủ thể ban hành, vừa là chủ thể tổ chức thực thi chính sách công. Chủ thể
ban hành chính sách công là các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy nhà nước bao
gồm: Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, chính quyền địa phương các cấp...
chính sách công, thực thi chính sách công, thay đổi chính sách công, tiếp tục chính
sách công, chấm dứt chính sách công [16, tr.34]. Tuy nhiên, ở góc độ khái quát, luận
văn xem xét các giai đoạn của chu trình chính sách công như sau: Thứ nhất, xây
dựng chính sách công. Thứ hai, thực thi chính sách công. Thứ ba, đánh giá, tổng kết
chính sách công.
Như vậy, chu trình chính sách công là tất cả những giai đoạn phản ánh toàn
bộ tiến trình của một chính sách công kể từ khi nảy sinh ý tưởng tới việc thực hiện
và đánh giá. Thực hiện chính sách công là một giai đoạn trong một chu trình của
chính sách công.
1.1.2.3. Chính sách phát triển du lịch
Chính sách phát triển du lịch là tập hợp các chủ trương và hành động của
Nhà nước để đấy mạnh phát triển du lịch bằng cách tác động vào việc cung cấp và
giá cả của các yếu tố đầu vào (đất đai, lao động, vốn, cơ sở hạ tầng); tác động tới
giá sản phẩm du lịch; tác động đến số lượng khách du lịch; tác động việc thay đổi tổ
chức và năng lực của nguồn nhân lực du lịch; tác động vào việc chuyển giao công
nghệ du lịch... Hai vế quan trọng của chính sách là chủ trương và hành động, chủ
trương tốt và hành động quyết liệt sẽ đảm bảo chính sách thành công.
Trong bối cảnh hiện nay, để phát triển du lịch cần triển khai những chính
sách chủ yếu sau:
Chính sách tạo nguồn lực: Về chủ trương, cần huy động và sử dụng hiệu quả
mọi nguồn lực, tăng đầu tư phát triển để bảo đảm du lịch phát huy vai trò là ngành
kinh tế mũi nhọn.
Chính sách về đất đai và vốn: Chủ trương là khuyến khích, ưu đãi về đất đai,
tài chính, tín dụng đối với tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư vào các lĩnh
vực bảo vệ, tôn tạo tài nguyên du lịch và môi trường du lịch; tuyên truyền, quảng bá
du lịch; phát triển nguồn nhân lực du lịch; nghiên cứu, đầu tư, xây dựng sản phẩm
du lịch mới; hiện đại hóa hoạt động du lịch; xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch, cơ sở
vật chất kỹ thuật du lịch; phát triển du lịch tại nơi có tiềm năng du lịch nhưng điều
điều kiện thuận lợi cho việc hình thành quỹ hỗ trợ phát triển du lịch từ các nguồn
đóng góp của các chủ thể hưởng lợi từ hoạt động du lịch, nguồn đóng góp tự
nguyện của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Hành động là: Áp dụng thuế suất
thuế giá trị gia tăng 0% đối với doanh thu đón khách du lịch quốc tế vào Việt Nam;
hoàn thuế giá trị gia tăng cho khách du lịch quốc tế khi mua hàng của Việt Nam
mang ra; giảm và cho chậm nộp thuế trong các trường hợp cần thiết; sử dụng lãi
suất từ tiền ký quỹ của các doanh nghiệp lữ hành quốc tế gửi ngân hàng thương mại
để thành lập quỹ hỗ trợ phát triển du lịch; vận động, khai thác và tiếp nhận đóng
góp cho quỹ hỗ trợ phát triển du lịch của mọi tổ chức và cá nhân tình nguyện.
Chính sách về sự tham gia của cộng đồng dân cư trong phát triển du
lịch: Chủ trương là cộng đồng dân cư có quyền tham gia và hưởng lợi hợp pháp từ
hoạt động du lịch. Về hành động, cần nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ tài
nguyên du lịch, bản sắc văn hoá địa phương của cộng đồng; giữ gìn an ninh, trật tự,
an toàn xã hội, vệ sinh môi trường để tạo sự hấp dẫn du lịch; tạo điều kiện cho cộng
đồng dân cư được đầu tư phát triển du lịch, khôi phục và phát huy các loại hình văn
hóa, nghệ thuật dân gian, nghề thủ công truyền thống; sử dụng lao động và nguyên
liệu địa phương để sản xuất hàng hóa phục vụ khách du lịch, góp phần nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của người dân địa phương.
Chính sách về hiệp hội du lịch: Chủ trương là cho phép và tạo điều kiện cho
hiệp hội du lịch được thành lập và hoạt động thuận lợi theo quy định của pháp luật.
Về hành động, cần xem xét đơn giản hóa thủ tục thành lập hiệp hội, hội và câu lạc
bộ nghề nghiệp du lịch; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và góp phần thúc đẩy sự
phát triển của các thành viên; tạo điều kiện thuận lợi cho hiệp hội du lịch tham gia
tổ chức các hoạt động tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch, tham gia xây dựng,
tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về du lịch.
Chính sách quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước về du lịch: Chủ trương
là: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về du lịch; cơ quan quản lý nhà nước về
du lịch ở trung ương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước