Cải cách hành chính của UBND cấp xã từ thực tiễn thành phố tam kỳ, tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG NGỌC HẢI

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA UBND CẤP XÃ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH
QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG NGỌC HẢI

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH CỦA UBND CẤP XÃ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH
QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS. NGUYỄN THỊ VIỆT HƯƠNG

HÀ NỘI, năm 2019

CHƯƠNG 3. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH HÀNH
CHÍNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ
TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM.......................................................................... 57
3.1. Quan điểm đẩy mạnh cải cách hành chính của Ủy ban nhân dân cấp xã từ thực
tiễn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam................................................................ 57
3.2. Giải pháp đẩy mạnh cải cách hành chính của Ủy ban nhân dân cấp xã trên địa
bàn thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam................................................................ 61
KẾT LUẬN............................................................................................................ 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CCHC:

Cải cách hành chính

CNH-HĐH:

Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

CNQSD

Chứng nhận quyền sử dụng

HĐND:

Hội đồng nhân dân

HTX:


UBND:

Ủy ban nhân dân

VHXH:

Văn hóa xã hội

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
bảng
2.1

2.2


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài


giai đoạn hiện nay, chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế là nhiệm vụ lớn

để thúc đẩy chiến lược phát triển nhanh và bền vững của Đảng và Nhà nước ta.
Theo đó, cải cách thể chế nói chung và CCHC nói riêng được xác định là nhiệm
vụ cấp bách và trọng tâm hàng đầu để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động

nghiệp, công dân và cung cấp dịch vụ tốt hơn. Công tác quản lý CB,CC và xây
dựng cũng cố, kiện toàn CB,CC được thực hiện thống nhất, dần đi vào nền nếp.
Sự ứng dụng IT được chú trọng trong hoạt động cơ quan nhà nước. Cơ sở vật
chất làm việc ngày càng được đầu tư hiện đại, bước đầu đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ quản lý và phục vụ nhân dân trên địa bàn.
Tuy vậy, so với yêu cầu thực tiễn phát triển của địa phương thì vẫn còn
những bất cập đặt ra. Đó là: Việc ban hành một số VBQPPL có chất lượng chưa
cao, thiếu tính thống nhất và chưa sát thực tế. Cơ chế một cửa tuy đã được triển
khai hoạt động ở phần lớn các địa phương, đơn vị nhưng việc thực hiện còn tính
hình thức, chất lượng thấp. Cơ chế “xin - cho” còn khá nặng nề. So với yêu cầu,
trình độ, kỹ năng tác nghiệp và giao tiếp cũng như năng lực công tác của một bộ
phận đáng kể CB,CC ở bộ phận tiếp nhận và trả kết quả còn chưa đáp ứng. Chủ
trương phân cấp thực hiện chưa đồng bộ và đang còn chậm...


địa phương, chính quyền cấp xã vốn có vị trí, ý nghĩa vai trò hết sức

quan trọng để tổ chức thực hiện đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của
Nhà nước trong thực tiễn. Vì chính quyền cấp xã vốn là cấp chính quyền sát với
nhu cầu thực tế người dân nhất, có mối quan hệ trực tiếp liên quan đến quyền lợi,
nghĩa vụ của người dân, là nơi người dân trực tiếp thực hiện quyền dân chủ của
mình. Nên việc đẩy mạnh CCHC ở cấp xã là vấn đề cần được chú trọng để góp
phần căn bản tạo bước chuyển biến trong mối quan hệ giữa các cơ quan HCNN
với công dân, doanh nghiệp.
Xuất phát từ những vấn đề cấp thiết nêu trên cũng như để phù hợp điều
kiện thực tiễn công tác, tác giả lựa chọn đề tài “Cải cách hành chính của UBND

2




các ý kiến, bài tham luận của các nhà khoa học, nhà lãnh đạo về hiện trạng và
giải pháp CCHC nhà nước, cải cách thể chế pháp luật liên quan đến CCHC.
Dương Quang Tung (chủ nhiệm đề tài), Cải cách hành chính để thúc đẩy
sự phát triển đất nước trong thời kỳ mở cửa, hội nhập hiện nay, Viện khoa học
Tổ chức nhà nước, năm 2007.
Acuna-Alfaro, Jairo, (chủ biên), Cải cách nền hành chính Việt Nam: Thực
trạng và giải pháp, do UNDP, Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Trung
tâm Nghiên cứu và Phát triển hỗ trợ cộng đồng đồng chủ trì, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2009. Công trình này đưa ra những bình luận chi tiết về sự phát
triển nền hành chính ở Việt Nam trong hơn một thập kỷ đổi mới và đề xuất
những giải pháp nhằm đẩy nhanh quá trình CCHC.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu được đề cập trên chủ yếu nghiên
cứu lý luận và thực tiễn CCHC ở bình diện rộng, hoặc mới chỉ mới tập trung
nghiên cứu về các khía cạnh khác nhau của CCHC trên phạm vi cả nước.
Ngoài ra, có một số công trình nghiên cứu CCHC gắn liền với địa phương,
điển hình như:
Nguyễn Thị Hồng Hiếu (2010), “Các giải pháp tăng cường cải cách hành
chính tại tỉnh Lào Cai”, Luận văn thạc sỹ, Học viện Hành chính; Lê Thị Bình
Minh (2013),“Đẩy mạnh cải cách hành chính nhà nước tỉnh Hòa Bình giai đoạn
2011-2020”, Luận văn thạc sỹ, Học viện Hành chính.
Các công trình vừa nêu trên tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn ở
một lĩnh vực, một số địa phương khác nhau. Song với CCHC của UBND cấp xã
tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên
cứu về thực trạng và đề xuất giải pháp đẩy mạnh CCHCNN ở cấp xã. Chính vì
vậy, nghiên cứu CCHC của UBND cấp xã trên địa bàn thành phố Tam Kỳ là cần
thiết, có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn.
3.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

mạnh CCHC của UBND cấp xã tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam nói
riêng, của UBND cấp xã trên địa bàn cả nước nói chung.
4.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1.

Đối tượng nghiên cứu

-

Các quan điểm khoa học về CCHC và CCHC ở cấp cơ sở.

-

Nội dung đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta về

CCHC trong quá trình đổi mới đất nước hiện nay.
-

CCHC của UBND cấp xã tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.

4.2. Phạm vi nghiên cứu
-

Phạm vi nội dung: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về CCHC

nói chung và CCHC của UBND cấp xã nói riêng.
-

pháp phân tích định tính, định lượng nguồn số liệu, phương pháp tổng hợp,
phương pháp quy nạp, phương pháp thống kê, phương pháp chuyên gia…
6.

Ý nghĩa về cơ sở lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1.

Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu luận văn góp phần làm sáng tỏ các khía cạnh lý luận
về CCHC nói chung, CCHC của UBND cấp xã nói riêng ở Việt Nam hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có giá trị ứng dụng trong thực tiễn
CCHC, góp phần nâng cao nhận thức về CCHC của đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam.
Kết quả nghiên cứu luận văn có giá trị tham khảo đối với các nhà quản lý,
các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách, pháp luật. Ở mức độ nhất định, kết
quả nghiên cứu của luận văn có thể được tham khảo trong hoạt động đào tạo tại
các cơ sở đào tạo luật học và quản lý hành chính công.

6


7. Kết cấu của luận văn
Bên cạnh phần Mở đầu, Kết luận và tài liệu tham khảo, kết cấu nội dung
của luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp lý về cải cách hành chính.
Chương 2. Thực trạng cải cách hành chính của Ủy ban nhân dân cấp xã tại
thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam

hoạt động quản lý của nhà nước. Ngày nay, CCHC đã trở thành một thuật ngữ
thường được nhắc đến của đời sống chính trị - xã hội.
CCHC (ở nghĩa rộng) là quá trình thay đổi cơ bản, liên tục và lâu dài, bao
gồm: cơ cấu quyền lực hành pháp và mọi hoạt động có ý thức của bộ máy công
quyền để đạt được sự hợp tác giữa các cá nhân, các bộ phận vì mục đích, lợi ích
chung của cộng đồng.

8


CCHC (ở nghĩa hẹp) là quá trình cải cách để thiết lập chế độ, tổ chức và
phương pháp hành chính mới ở lĩnh vực quản lý của bộ máy HCNN nhằm nâng
cao hiệu quả, hiệu lực của nền hành chính.
Với những gợi ý nêu trên: Cải cách hành chính được hiểu là hành vi hành
chính để nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của nền hành chính công bằng
sự cải cách nhằm thiết lập chế độ, phương pháp hành chính mới trên các khía
cạnh: Cải cách thể chế, cải cách tổ chức bộ máy HCNN, cải cách thủ tục hành
chính, kiện toàn việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và viên chức, cải cách
tài chính công và hiện đại hóa hành chính.
1.1.2. Quá trình cải cách hành chính nhà nước ở Việt Nam
1.1.2.1. Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2001
Quan điểm của Đảng về CCHCNN đã được thể hiện nhất quán và xuyên
suốt trong các văn kiện của Đảng ta từ Đại hội VI, VII, VIII, IX, X và các Nghị
quyết Trung ương 2 và 8 (khoá VII), Nghị quyết Trung ương 3 và 7 (khoá VIII),
Nghị quyết Trung ương 6 và 9 (khoá IX), Nghị quyết Trung ương 5 (khoá X)...
Qua đó hình thành ngày càng toàn diện, đầy đủ, đồng bộ về quan niệm, nguyên
tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc CCHC cũng như đề ra phương hướng, chủ trương,
nội dung, giải pháp thực hiện trong giai đoạn này.
Để thiết lập cơ chế quản lý mới, Nghị quyết của Đại hội VI năm 1986 đã đề
ra chủ trương “thực hiện một cuộc cải cách lớn về tổ chức bộ máy của các cơ

ngăn chặn tình trạng suy thoái đạo đức lối sống, tham nhũng, lãng phí, quan liêu,
sách nhiễu người dân đang còn diễn ra rất nghiêm trọng trong bộ máy nhà nước.
Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) và 7 (khoá VIII) đã đặt CCHC với nhiệm vụ
trọng tâm trong tổng thể đổi mới hệ thống chính trị. Có thể thấy, đây là giai đoạn
Đảng và Nhà nước tập trung sự chỉ đạo CCHCNN trên diện rộng, trong một tổng
thể và chú ý tập trung chỉ đạo theo phương châm cải cách nền HCNN là trọng
tâm của việc xây dựng hoàn thiện Nhà nước.
1.1.2.2. Giai đoạn từ năm 2001 đến nay
Giai đoạn này được đánh dấu bằng việc năm 2001, Chính phủ xây dựng và
thực hiện Chương trình tổng thể CCHCNN giai đoạn 2001-2010.

10


Đại hội IX năm 2001, Đảng ta đã xác định mục tiêu: đẩy mạnh CCHC, xây
dựng bộ máy nhà nước trong sạch vững mạnh. Chủ trương, giải pháp quan trọng
trong CCHC là: điều chỉnh chức năng và cải tiến phương thức hoạt động của
Chính phủ; định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các bộ theo hướng bộ
quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; đẩy mạnh phân công, phân cấp, nâng cao tính chủ
động của chính quyền địa phương; kiện toàn các cơ quan chuyên môn của
UBND và bộ máy chính quyền cấp xã, tách cơ quan hành chính công với tổ chức
sự nghiệp; tiếp tục CCTTHC; xây dựng đội ngũ CB,CC trong sạch, có năng lực;
thiết lập trật tự kỷ cương, chống quan liêu, tham nhũng.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, tháng 9 năm 2001 Chính phủ đã ban
hành Chương trình tổng thể CCHCNN giai đoạn 2001 -2010 với hệ thống các
giải pháp và bước đi cụ thể. Mục tiêu chung của Chương trình này là: xây dựng
một nền HC dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại hoá, trong sạch, vững mạnh, hoạt
động đảm bảo hiệu quả, hiệu lực theo nguyên tắc Nhà nước pháp quyền XHCN
dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ CB,CC có trình độ, năng lực và
phẩm chất đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Đến năm 2010, cơ bản hệ thống

chế hóa làm rõ nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà
nước; gia tăng hiệu quả quản trị nhà nước và tính công khai, minh bạch, trách
nhiệm giải trình của cơ quan nhà nước trong tổ chức và hoạt động. Đẩy mạnh
hoàn thiện hệ thống thể chế, PL của nền HC và thể chế kinh tế thị trường định
hướng XHCN trên cơ sở phù hợp với Hiến pháp 2013. Đẩy mạnh việc hoàn thiện
PL về bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân theo
Hiến pháp 2013 và các chuẩn mực quốc tế; hoàn thiện quy định PL về mối quan
hệ giữa Nhà nước và nhân dân. Đổi mới công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát
trong quá trình tham mưu, ban hành VBQPPL. Đến năm 2020, hoàn thành căn
bản công tác xây dựng HTPL Việt Nam đồng bộ, thống nhất, khả thi, ổn định,
công khai, minh bạch, dễ tiếp cận dựa trên hệ thống các chính sách đã hoạch
định ở từng lĩnh vực nhằm phù hợp với mục tiêu thúc đẩy phát triển KT-XH.
Chú trọng thực hiện trọng tâm việc hoàn thiện và tổ chức thực thi PL, bảo đảm
PL nghiêm minh, liên thông và gắn kết mật thiết giữa công tác hoạch định và tổ
chức thực thi PL.
-

Cải cách thủ tục hành chính (TTHC):

Tổ chức thực hiện có hiệu quả Luật Ban hành VBQPPL năm 2015; kiểm

12


soát chặt chẽ việc quy định TTHC; thực hiện nghiêm trách nhiệm người đứng
đầu trong cải cách TTHC. Đẩy mạnh việc đơn giản hóa TTHC, giảm thiểu chi
phí tuân thủ TTHC; ưu tiên những TTHC phục vụ hội nhập kinh tế, TTHC ở một
số lĩnh vực trọng tâm. Tăng cường xây dựng và hoàn thiện các hình thức công
khai, minh bạch TTHC; công khai TTHC trên cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC
và trên trang thông tin điện tử. Thiết lập và triển khai vận hành hệ thống công


Kiện toàn và nâng cao chất lượng đội ngũ CB,CC,VC:

Đẩy mạnh cải cách đổi mới chế độ công vụ, công chức. Đẩy mạnh triển
khai hiệu quả của chính sách tinh giản biên chế và tái cơ cấu đội ngũ CB,CC,VC.
Đổi mới cách thức tuyển dụng CC,VC về quy trình thủ tục, thẩm quyền, trách
nhiệm và quy định rõ về xử lý vi phạm; thí điểm việc tổ chức đổi mới cách thức
tuyển chọn các chức danh lãnh đạo, quản lý. Bổ sung và hoàn thiện các chức
danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ của CC,VC. Tổ chức thực hiện việc đánh giá, phân
loại CB,CC,VC theo quy định PL, gắn với các nội dung khác của công tác quản
lý CB,CC,VC. Đổi mới công tác thống kê, báo cáo và quản lý hồ sơ CC,VC…
Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng CB,CC,VC. Sửa đổi, hoàn thiện
cơ chế đào tạo, bồi dưỡng nhằm phù hợp với điều kiện nước ta trước yêu cầu hội
nhập quốc tế. Tổ chức tập trung, thống nhất hệ thống quản lý cơ sở đào tạo, bồi
dưỡng CB,CC,VC một cách khoa học và tinh gọn để đáp ứng sự phù hợp yêu
cầu, nhiệm vụ mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng. Cải cách hệ thống chính sách khuyến
khích, tiền lương …
Năm 2020, kiện toàn đội ngũ CB,CC,VC có số lượng và cơ cấu hợp lý, đủ
trình độ và năng lực thực thi công vụ để phục vụ nhân dân và sự phát triển của
đất nước; 100% cơ quan HCNN đảm bảo cơ cấu CB,CC theo vị trí việc làm.
-

Cải cách tài chính công:

Kiểm soát chặt chẽ ngân sách nhà nước chi thường xuyên và đầu tư công.
Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách đối với cơ quan HCNN, thực hiện có hiệu quả
cơ chế cấp ngân sách dựa vào chất lượng hoạt động và kết quả, tập trung kiểm
soát đầu ra và chất lượng chi tiêu theo nhiệm vụ, mục tiêu của cơ quan HCNN.
Tăng cường đổi mới chính sách, cơ chế tài chính đối với khối hành chính và sự
nghiệp và khối doanh nghiệp nhà nước. Cơ chế sử dụng kinh phí nhà nước và cơ

Hệ thống QLHCNN Việt Nam tổ chức theo một hệ thống dọc, gồm 4 cấp:
Trung ương - tỉnh, thành phố - quận, huyện – xã, phường, thị trấn. Nếu nhìn dưới
lên, xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là cơ sở, rồi mới đến địa phương
và toàn quốc. Vì cấp xã là cơ sở nền tảng của nhà nước và xã hội. Sự ổn định của
xã hội được bắt đầu từ cơ sở, đó là tiền đề của sự phát triển; sự không bình yên
của thể chế thường bắt nguồn từ chỗ lòng dân không yên, quy luật quản lý là có

15


dân thì có tất cả, mất dân thì mất tất cả… Thuận lòng dân được nhìn một cách rõ
nhất, trực tiếp nhất là từ những người dân cơ sở, phải xuất phát từ đây thì mọi
hoạt động quản lý của các cấp mới triển khai có hiệu quả.
Cấp xã là một khái niệm về đơn vị hành chính ở cơ sở. Chính quyền cấp
xã gồm HĐND - UBND cấp xã tuy chịu sự chỉ đạo, kiểm soát của cấp huyện,
cấp tỉnh và trung ương; nhưng vì tính chất và tầm quan trọng ở mỗi cấp độ quản
lý là do sự quy định của chức năng, nhiệm vụ của bản thân nó. Cấp xã cũng là
nơi mà các đầu mối công việc, các quan hệ đa chiều, trên - dưới, dọc – ngang,
trong - ngoài đan xen ở một môi trường sống động của một không gian xác định,
thẩm quyền và trách nhiệm phải thực thi, nơi bộc lộ tập trung và trực tiếp của
một chế độ, một chính quyền. Cụ thể hơn, cấp xã là một địa bàn chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội, nơi có cả cộng đồng dân cư hàng nghìn, hàng vạn con người
sinh sống mà hàng ngày, hàng giờ họ phải lo chuyện an sinh, an ninh, đoàn kết,
đồng thuận và hoà hợp để phát triển. Nên nội lực và sinh lực của cấp xã là hệ
trọng.
Cấp xã là cấp sát dân nhất, là nền tảng của hoạt động hành chính. Cấp xã
làm được việc thì tất cả các công việc đều xong xuôi [9; tr.371]. Vị trí quan trọng
của cấp xã cũng đã được khẳng định tại Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khóa IX ngày 18/3/2002 (Nghị quyết số 17-NQ/TW) về “Đổi mới và
nâng cao chất lượng hoạt động hệ thống chính trị cơ sở xã, phường, thị trấn”.

chỉ đạo của cấp HC cấp trên nên có nội dung cơ bản CCHC, đó là:
-

Về cải cách thể chế ở cấp xã:

Đổi mới công tác kiểm tra, giám sát quá trình tham mưu, ban hành
VBQPPL ở cấp xã. Tổ chức thực hiện hiệu quả Luật Ban hành VBQPPL năm
2015. Do cấp xã không tổ chức các cơ quan chuyên môn, nên quy trình ban hành
ban hành văn bản của địa phương đề cao trách nhiệm của Chủ tịch UBND cấp xã
trong công tác ban hành VBQPPL của cấp xã, thể hiện qua việc tổ chức lấy ý
kiến các dự thảo, tiếp thu ý kiến, chỉ đạo việc soạn thảo các dự thảo (Điều 142
đến Điều 145 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015).
Sắp xếp hệ thống hóa các VBQPPL ở cấp xã đồng bộ, thống nhất, khả thi,
công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận dựa trên hệ thống chính sách đã được
hoạch định ở từng lĩnh vực phù hợp mục tiêu phát triển KT-XH địa phương. Chủ
tịch UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức xây dựng kế hoạch hệ thống hóa văn

17


bản do HĐND, UBND cấp mình ban hành.
Hoàn thiện hệ thống VBQPPL quy định về mối quan hệ giữa Nhà nước và
nhân dân, mà trọng tâm là bảo đảm việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân
được bắt đầu từ cơ sở, tham vấn ý kiến của người dân trước khi quyết định chính
sách quan trọng và phát huy quyền giám sát của nhân dân đối với các hoạt động
của chính quyền cấp xã. Hoàn thiện việc tổ chức thực thi PL hiện hành, bảo đảm
tính liên thông, tính nghiêm minh PL. Tăng cường trách nhiệm giải trình, công
khai, minh bạch trong tổ chức hoạt động của chính quyền cấp xã.
-


vị HC các cấp và khuyến khích sáp nhập cấp xã.
-

Về xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CB,CC ở cấp xã:

Xây dựng đội ngũ CB,CC cấp xã đủ số lượng, cơ cấu hợp lý, có bản lĩnh
chính trị, đạo đức tốt, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ, phục vụ nhân
dân và phục vụ sự nghiệp phát triển.
Đổi mới phương thức tuyển dụng CB,CC cấp xã. Chú trọng công tác đào
tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, năng lực, kỹ năng thực thi công vụ với tính
chuyên nghiệp cao, có đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ, ý thức trách
nhiệm phục vụ nhân dân cho đội ngũ CB,CC cấp xã. Triển khai có hiệu quả về
chính sách tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ CB,CC cấp xã. Quy định một
cách cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn của CB,CC cấp xã tương thích với trách
nhiệm và xác lập chế tài pháp lý để kỷ luật đối với các trường hợp hành vi phạm
pháp, vi phạm đạo đức công vụ của CB,CC cấp xã. Phòng ngừa, ngăn chặn tình
trạng tha hoá, thoái hóa biến chất của một số bộ phận cán bộ của chính quyền
cấp xã.
Cải cách hệ thống chính sách tiền lương và an sinh xã hội; Sửa đổi, bổ
sung các quy định về chế độ khuyến khích, chế độ phụ cấp ngoài lương theo
ngạch, bậc, theo cấp bậc chuyên môn, nghiệp vụ và điều kiện làm việc khó khăn
đối với CB,CC cấp xã. Đề cao kỷ luật, kỷ cương HC và đạo đức công vụ.
-

Cải cách tài chính công ở cấp xã:

Kiểm soát chặt chẽ ngân sách nhà nước chi thường xuyên và đầu tư công.
Chú trọng đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho UBND cấp xã, thực thi cơ chế
cấp ngân sách dựa vào kết quả và chất lượng hoạt động, dựa vào kiểm soát đầu
ra và chất lượng chi tiêu theo nhiệm vụ, mục tiêu của UBND cấp xã. Nhà nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status