Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm từ thực tiễn quận sơn trà, thành phố đà nẵng - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ HỒNG PHẤN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ HỒNG PHẤN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
TỪ THỰC TIỄN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

Chuyên ngành
Mã số

: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
: 8.38.01.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. BÙI THỊ ĐÀO

công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận văn

Lê Thị Hồng Phấn


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN TOÀN THỰC
PHẨM .............................................................................................................. 6
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của quản lí nhà nước về an toàn thực phẩm .......... 6
1.2. Nội dung quản lí nhà nước về an toàn thực phẩm ................................... 16
1.3. Các điều kiện đảm bảo quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm ............. 30
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN
THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ
NẴNG ............................................................................................................. 33
2.1. Tổng quan về quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng .................................. 33
2.2. Thực trạng tình hình an toàn thực phẩm trên địa bàn quận Sơn Trà, thành
phố Đà Nẵng.................................................................................................... 37
2.3. Thực trạng quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn quận Sơn
Trà, thành phố Đà Nẵng .................................................................................. 42
2.4. Đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn
quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng .................................................................. 58
CHƯƠNG 3. NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN
TOÀN THỰC PHẨM ................................................................................... 66
3.1. Quan điểm, định hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn
thực phẩm của Quận Sơn Trà .......................................................................... 66
3.2. Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn thực
phẩm tại Quận Sơn Trà ................................................................................... 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 78


Sản xuất kinh doanh

UBND

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1.

Đánh giá của cơ sở và người tiêu dùng về thực trạng
ATTP tại quận Sơn Trà

41

Bảng 2.2.

Tổng hợp kết quả thanh tra từ năm 2016 đến 2018

55

Bảng 2.3.


lượng cuộc sống và chất lượng giống nòi. Những năm gần đây, công tác đảm
bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; phòng, chống ngộ độc thực phẩm và các bệnh
truyền qua thực phẩm ngày càng được mọi tầng lớp xã hội quan tâm. Do vậy,
Đảng và Nhà nước ta thường xuyên chỉ đạo và đưa ra các giải pháp nhằm
hoàn thiện pháp luật về an toàn thực phẩm, không ngừng nâng cao hiệu lực,
hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khoẻ nhân dân.
Nhận thức của nhà quản lý, người sản xuất, kinh doanh, chế biến thực phẩm
và người tiêu dùng về an toàn thực phẩm bước đầu có chuyển biến. Hệ thống
các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý an toàn thực phẩm đã được xây
dựng và từng bước được hoàn thiện. Bộ máy tổ chức cơ quan quản lý nhà
nước về an toàn thực phẩm từ trung uơng đến địa phương đang được kiện
toàn, thực hiện phân công, phân cấp, công tác phối hợp giữa các bộ, ngành và
địa phương bước đầu có hiệu quả. Tuy nhiên, gần đây nhiều sự việc liên tục
xảy ra xoay quanh vấn đề về an toàn vệ sinh thực phẩm được lực lượng chức
năng kịp thời phát hiện và ngăn chặn hàng loạt các vụ vận chuyển thực phẩm
hôi thối, nhiễm khuẩn đi tiêu thụ; bên cạnh đó vì mục tiêu lợi nhuận các nhà
sản xuất, kinh doanh đã sử dụng nhiều loại hóa chất, chất phụ gia bị cấm để
chăn nuôi, trồng trọt, chế biến, bảo quản thực phẩm; việc sử dụng hóa chất
bảo vệ thực vật như thuốc trừ sâu, diệt cỏ, hóa chất kích thích tăng trưởng và
thuốc bảo quản không theo đúng quy định, gây ô nhiễm nguồn nước cũng như
tồn dư các hóa chất này trong thực phẩm. Ðây là nỗi lo của toàn xã hội không

1


chỉ ở thời điểm hiện tại mà còn là nỗi lo cho sự phát triển của thế hệ tương lai
đất nước.
Trên cơ sở đó, ngày 30 tháng 11 năm 2016, Ban Thường vụ Thành ủy
Đà Nẵng đã ra quyết định số 2526-QĐ/TU ban hành đề án thực hiện chương
trình “Thành phố 4 an” trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng đến năm 2020,

Minh” (2011), của tác giả Nguyễn Thị Phương Oanh, đề tài này đã làm rõ
được thực trạng của tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn thành
phố Hồ Chí Minh, thực trạng hoạt động quản lý nhà nước, nhưng chủ yếu đưa
ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, chứ
chưa chú trọng đến các giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về
vệ sinh an toàn thực phẩm.
Nhìn chung, những công trình trên đã tập trung nghiên cứu một số quy
định của pháp luật về an toàn thực phẩm (ATTP), việc tổ chức thực hiện pháp
luật về ATTP, phân tích, làm rõ những hạn chế, bất cập trong thực thi pháp
luật về ATTP. Ngoài ra hiện nay chưa có đề tài nghiên cứu nào đi sâu vào
nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn
quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
Đây là những lý do chính mà học viên muốn đi vào nghiên cứu để có thể
vừa kế thừa những thành quả của các công trình nghiên cứu trước vừa tìm ra
những cái mới có thể ứng dụng vào thực tiễn nhiều hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm đề ra phương huớng và giải pháp
tăng cường quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm tại quận Sơn Trà,
thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài tập trung giải quyết các
nhiệm vụ chủ yếu sau:

3


Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực
phẩm.
Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về an toàn vệ sinh thực phẩm của

v.v…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa những cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về an toàn
thực phẩm.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Dựa trên việc phân tích thực trạng quản lý nhà nước về an toàn thực
phẩm trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, đề tài đưa ra được một
số giải pháp giúp cơ quan nhà nước có thể áp dụng, từ đó nâng cao chất lượng
quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các nội dung: Lời cam đoan, danh mục từ viết tắt, danh mục các
biểu đồ, mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; nội dung
chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về an toàn thực phẩm
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa
bàn quận Sơn Trà, Thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm

5


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của quản lí nhà nước về an toàn thực
phẩm
1.1.1. Khái niệm thực phẩm và an toàn thực phẩm
Thực phẩm là nhu cầu thiết yếu của mỗi người, là yếu tố rất quan trọng
cho sự tồn tại và phát triển của nhân loại. Thực phẩm rất đa dạng về chủng
loại cũng như chất lượng. Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu về thực phẩm, từ

Y tế thế giới (WHO) thì “An toàn thực phẩm là việc bảo đảm thực phẩm
không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người sử dụng, bảo đảm thực phẩm
không bị hỏng, không chứa các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hoặc tạp
chất quá giới hạn cho phép, không phải là sản phẩm của động vật, thực vật bị

7


bệnh có thể gây hại cho sức khỏe người sử dụng”. Theo quy định của Luật
An toàn thực phẩm (ATTP) năm 2010, an toàn thực phẩm là việc bảo đảm để
thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người. Vậy, an toàn vệ
sinh thực phẩm là tất cả các điều kiện, biện pháp cần thiết từ khâu sản xuất,
chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử dụng nhằm đảm bảo
cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe, tính mạng người
tiêu dùng. Như vậy, an toàn thực phẩm là công việc đòi hỏi sự tham gia của
nhiều ngành, nhiều khâu có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp, thú y,
cơ sở chế biến thực phẩm, y tế, người tiêu dùng. [26]
1.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ
theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên
cứu. Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và
khoa học tự nhiên. Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc
độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động
của đời sống xã hội.
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng
những phương tiện khác nhau nhằm đạt được mục tiêu nhất định. Nhà nước là
thiết chế quyền lực công, đại diện cho toàn thể nhân dân quản lý mọi mặt của
đời sống xã hội. Nhà nước có những quyền lực đặc biệt, nắm trong tay những
công cụ quản lý đặc biệt, đảm bảo thực hiện quyền lợi của giai cấp thống trị
và quyền lợi của toàn xã hội.

thanh tra, xử lý vi phạm, công tác phối hợp liên ngành trong quản lý.
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có đích hướng của chủ thể quản lý lên
khách thể quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Quản lý nhà nước “là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền
lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của
cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong

9


bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và
phát triển của xã hội”[19]. Khái niệm này cho ta thấy được nhà nước thực
hiện quyền quản lý trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và chỉ có các
cơ quan nhà nước mới được thực hiện chức năng quản lý này, nét đặc trưng
quan trọng nhất của quản lý nhà nước chính là quyền lực nhà nước, chính nhờ
quyền lực nhà nước mà nhà nước mới có thể quản lý được các đối tượng
trong xã hội. Cũng chính nhờ đặc trưng đó mà nhà nước mới có thể duy trì
được sự ổn định và phát triển của toàn xã hội, vì quyền lực nhà nước mang
tính cưỡng chế và bắt buộc mọi chủ thể trong xã hội và tuân theo.
Từ khái niệm về quản lý nhà nước chúng ta có thể đưa ra được khái niệm
quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm như sau: Quản lý nhà nước về an toàn
thực phẩm là hoạt động của các cơ quan nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước
tác động lên các đối tượng có liên quan đến việc đảm bảo an toàn thực phẩm,
nhằm đảm bảo cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe,
tính mạng người tiêu dùng. An toàn thực phẩm là một lĩnh vực của quản lý nhà
nước do đó nó mang những đặc trưng chung của quản lý nhà nước.
Thứ nhất, quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là hoạt động quản lý
mang tính quyền lực nhà nước. Đây là đặc trưng cơ bản của hoạt động QLNN
so với hoạt động quản lý của các chủ thể khác. Quyền lực nhà nước cho phép
chủ thể nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật nhằm tác động

Thứ tư, hoạt động quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm phải tuân theo
quy định của pháp luật. Khi các chủ thể nhà nước được trao quyền để quản lý
về an toàn thực phẩm thì không có nghĩa là họ có thể quản lý một cách tùy
tiện, hay áp đặt ý chí của họ vào công tác quản lý mà mọi hoạt động của các
chủ thể quản lý phải tuân theo quy định pháp luật, không được làm trái với
các quy định của pháp luật. Nếu không tuân theo các quy định của pháp luật
thì có thể gặp phải sự phản kháng của các đối tượng quản lý, ngoài ra còn làm
mất lòng tin của nhân dân đối với nhà nước. Do đó không chỉ riêng trong hoạt

11


động quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm mà tất cả hoạt động của các cơ
quan nhà nước đều phải tuân thủ theo quy định của pháp luật, đây cũng là cơ
sở cho việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Ngoài những nét chung đó thì quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
cũng có những đặc điểm riêng biệt, sau đây:
Thứ nhất, quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là công việc của rất
nhiều cơ quan cùng thực hiện, do đó trong quá trình thực hiện cần phải phân
định rõ trách nhiệm của từng cơ quan tổ chức, ngoài ra cần có sự phối hợp
thực hiện để mang lại hiệu quả cao trong công tác quản lý.
Thứ hai, quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm có liên quan đến việc
quản lý nhà nước về xuất, nhập khẩu vì hiện nay các mặt hàng thực phẩm của
Việt Nam đang xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới, trước khi xuất khẩu
thực phẩm cần phải được các bộ ngành kiểm nghiệm, kiểm dịch để đảm bảo
chất lượng.
Thứ ba, quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là hoạt động rất phức
tạp. Hiện nay có rất nhiều chủ thể trong xã hội sản xuất, kinh doanh thực
phẩm, tuy nhiên không phải cơ sở kinh doanh nào cũng đăng ký với nhà
nước, những cơ sở kinh doanh tự phát hay những người kinh doanh nhỏ lẻ rất

càng trầm trọng, nhiều vụ ngộ độc thực phẩm xảy ra liên tiếp, gây thiệt hại
nhiều đến tính mạng con người và tiền của. Trước những diễn biến đó thì vai
trò của nhà nước đặc biệt quan trọng. Trước hết, nhà nước thông qua việc
hoạch định và ban hành các văn bản pháp luật có liên quan đến ATTP để
hướng dẫn các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thực phẩm có định hướng
để sản xuất thực phẩm sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngoài ra,
thông qua các văn bản chính sách, nhà nước cũng quy định rõ nhiệm vụ quản
lý của từng Bộ, ngành và các cấp chính quyền quản lý chặt chẽ vấn đề ATTP.
Thông qua việc tổ chức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật, các
chương trình, kế hoạch có liên quan đến ATTP, nhà nước sẽ trực tiếp quản lý

13


vấn đề ATTP. Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát
kết quả thực hiện về sản xuất, chế biến cũng như tiêu dùng của tất cả các mặt
hàng thực phẩm.
Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật cũng như đội ngũ thanh tra các cấp
để quản lý vấn đề ATTP. Các bộ phận này có trách nhiệm riêng biệt để thanh
tra, kiểm tra lập lại trật tự sản xuất, kinh doanh theo đúng yêu cầu, tiêu chuẩn
kỹ thuật của nhà nước. Các Bộ, ngành có liên quan phối hợp với Bộ Y tế để
cùng quản lý các vấn đề liên quan đến ATVSTP. Nhà nước tổ chức tuyên
truyền, giáo dục về VSTP cho nhân dân để nâng cao ý thức và hiểu biết vấn
đề này. Chỉ đạo tổ chức tháng hành động vì chất lượng VSATTP, đẩy mạnh
công tác phòng chống; công tác tuyên truyền, giáo dục đạt hiệu quả. Như vậy,
nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định trong mọi lĩnh vực có liên
quan đến thực phẩm từ sản xuất, chế biến đến tiêu dùng.
Mặt khác, quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm là hoạt động của các
cơ quan quản lý nhà nước nhằm định hướng phát triển, nâng cao khả năng
kiểm soát chất lượng sản phẩm thực phẩm đáp ứng các mục tiêu kinh tế xã

ở chỗ đề ra quy hoạch, kế hoạch tổng thể, đáp ứng những cân đối lớn của toàn
bộ nền kinh tế, tránh hiện tượng đầu tư dàn trải, không hiệu quả, đồng thời
khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển trong lĩnh vực an toàn
thực phẩm. Định hướng cho công tác đảm bảo an toàn thực phẩm theo đúng
chủ trương chính sách đã đề ra, hạn chế tiêu cực, tạo ra môi trường cạnh tranh
lành mạnh trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.
Quản lý an toàn thực phẩm đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo
đảm nguồn cung ứng thực phẩm an toàn, chất lượng và bổ dưỡng cho cộng
đồng. Mặt khác, bảo đảm chất lượng, an toàn thực phẩm còn là một trong
những điều kiện tiên quyết, thiết yếu để thúc đẩy sản xuất, chế biến, kinh
doanh thực phẩm phát triển ở cả thị trường nội địa và xuất khẩu, góp phần
phát triển kinh tế quốc gia và quốc tế. Nhà nước có vai trò quan trọng trong

15


việc hoạch định chính sách và tạo khung pháp lý nhằm giảm thiểu những rủi
ro, những mối nguy cơ đối với an toàn thực phẩm hay đề ra những quy định
mà các nhà sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải đáp ứng để bảo đảm thực
phẩm an toàn từ khâu sản xuất tới lưu thông. Tại Việt Nam, Pháp lệnh Vệ
sinh an toàn thực phẩm đã được Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa XI thông
qua từ năm 2003, để nâng cao tính hiệu quả và đồng bộ trong công tác quản lý
về an toàn thực phẩm, Luật An toàn thực phẩm (Luật số 55/2010/QH12) đã
được Quốc hội thông qua năm 2010, đến nay nhiều văn bản pháp lý khác đã
và đang được xây dựng, triển khai nhằm tạo lập một hệ thống kiểm soát thực
phẩm đồng bộ từ quá trình sản xuất tới lưu thông, phân phối. Nhìn chung,
quản lý an toàn thực phẩm không những là trách nhiệm và nghĩa vụ của các
cấp, các ngành chức năng mà còn cần sự đóng góp của toàn xã hội, đặc biệt là
sự tham gia tích cực từ phía người sản xuất, người kinh doanh và người tiêu
dùng nhằm mục đích bảo đảm sức khoẻ cho người tiêu dùng và mang lại

công tác bảo đảm an toàn thực phẩm và phòng chống ngộ độc thực phẩm
trong tình hình mới.
+ Chính phủ ban hành Nghị định 38/2012/NĐ-CP ngày 25/4/2012 về
quy định chi tiết một số điều của Luật an toàn thực phẩm; Nghị định
185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính
trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ
người tiêu dùng; Nghị định 115/2018/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành
chính về an toàn thực phẩm (thay thế Nghị định 178/2013/NĐ-CP của chính
phủ); Thông tư liên tịch số 13/2014/TLT-BYTBNNPTNT-BCT hướng dẫn
việc phân công, phối hợp trong quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm, các
văn bản quy định, hướng dẫn thực hiện của Bộ NN&PTNT, Bộ Y tế, Bộ,
Công thương …[15] cùng với việc ban hành Luật an toàn thực phẩm, nhà
nước ta cũng đã ban hành Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Luật tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; sửa đổi, bổ sung một số điều về vi phạm VSATTP

17



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status