BÀI BÁO CÁO THỰC TẬP-ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM - Pdf 27

1
PGS.TS TRẦN ĐÁNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG
VẤN ĐỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
HÀ NỘI – 3. 2010
PHẦN I: CHUỖI CUNG CẤP THỰC PHẨM VÀ NGUYÊN
TẮC KIỂM SOÁT (QUẢN LÝ) AN TOÀN THỰC PHẨM (ATTP)
I. CHUỖI CUNG CẤP THỰC PHẨM VÀ CÁC MỐI LIÊN QUAN:
Chuỗi cung cấp thực phẩm bao gồm tất cả các công đoạn, từ khâu cung cấp
các vật tư nông nghiệp, quá trình nuôi trồng, quá trình sơ chế, quá trình chế biến,
quá trình phân phối cho đến quá trình tiêu dùng thực phẩm (xem hình trang sau).
1. Cung cấp vật tư nông nghiệp: An toàn thực phẩm bắt đầu từ nguồn cung
cấp vật tư nông nghiệp cho người nông dân và sự tham gia của họ vào quá trình sản
xuất thực phẩm. Các vật tư như thuốc trừ sâu, thuốc thú ý có nhiều nguy cơ khác
nhau và vì thế cần phải đặc biệt chú trọng. Thức ăn chăn nuôi có chứa các mầm
bệnh hóa chất độc hại cũng như phân bón cũng là những nguy cơ dẫn đến mất
ATTP.
2. Quá trình nuôi trồng: Quá trình chăn nuôi và trồng trọt nếu không chú ý
tới các yếu tố: đất, nước, phân bón, thuốc thú ý, thuốc bảo vệ thực vật…cũng có thể
gây mất an toàn trong cung cấp thực phẩm. Ví dụ trong thịt gia súc, cá, cây quả…
có thể còn tồn dư các hóa chất độc hại do nuôi trồng gây nên.
3. Quá trình sơ chế thực phẩm: Cần đặc biệt chú ý quá trình gia súc được
giết mổ, quá trình vắt sữa, quá trình sơ chế bảo quan sau thu hoạch…ở khâu này rất
dễ bị ô nhiễm gây nên các mối nguy cho sức khỏe.
4. Quá trình chế biến thực phẩm: Công đoạn này bao gồm rất nhiều loại
thực phẩm đã được chế biến và nhiều khi chế biến đã sử dụng các công nghệ hiện
đại, phức tạp, thủ công, đơn giản…nhằm mục tiêu là: giảm bớt hư hỏng thực phẩm,
kéo dài thời hạn sử dụng và thúc đẩy thương mại. Trong công đoạn này, nguyên tắc
quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm cần phải được áp dụng nghiêm ngặt nhằm giảm
thiểu nguy cơ các mối nguy.

hành tốt về cách lựa chọn thực phẩm, chế biến, bảo quản thực phẩm. Như vậy
chuỗi cung cấp thực phẩm có rất nhiều mối lien quan, gồm tất cả 6 quá trình từ việc
cung cấp vật tư cho nông nghiệp đến tiêu dùng. Để đảm bảo an toàn vệ sinh thực
phẩm đòi hỏi phải có sự tham gia tích cực và hợp tác bởi tất cả các cơ quan, tổ
chức, cá nhân có liên quan đến chuỗi cung cấp thực phẩm. Chính phủ phải có các
biện pháp để kiểm soát toàn bộ chuỗi cung cấp thực phẩm thì mới đảm bảo có thực
phẩm đạt vệ sinh an toàn thực phẩm.
II. NGUYÊN TẮC KIỂM SOÁT AN TOÀN THỰC PHẨM
Xu thế quản lý ATTP đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu với những nguyên
tắc cơ bản sau đây:
1. Kiểm soát quá trình:
Hầu như tất cả các nước trên thế giới hiện nay đều đã chuyển từ kiểm tra thành
phẩm sang kiểm soát quá trình trong chương trình quản lý ATTP.
2. Chuyển từ kiểm tra các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm sang kiểm soát
các yếu tố tác động tới chất lượng trong các quá trình.
3. Chuyển từ loại bỏ thụ động các sản phẩm sai lỗi sang phòng ngừa chủ
động và toàn diện các nguy cơ gây sai lỗi.
4. Chuyển từ kiểm tra độc lập sang công nhận, thừa nhận lẫn nhau.
5. Chuyển từ kiểm tra dàn đều không tập trung sang kiểm soát tập trung
vào những điểm quyết định tới ATTP.
Để thực hiện được 5 nguyên tắc cơ bản trên, các nước trên thế giới đã có quy
định pháp luật về việc áp dụng tiêu chuẩn HACCP (phân tích mối nguy và kiểm
soát điểm tới hạn).
HACCP là một hệ thống quản lý CLVSATTP rất tiên tiến, chủ động phòng
ngừa các mối nguy VSATTP, đã có nhiều nước quy định bắt buộc áp dụng HACCP
trong việc sản xuất chế biến và cung cấp thực phẩm cho mình.
(1). Thế giới:
1.1.Mỹ: Cơ quan quản lý thực phẩm và thuốc (FDA) và cơ quan nông nghiệp
đã ban hành các quy định liên quan đến thịt, gia cầm và sản phẩm thủy sản phải áp
dụng HACCP, kể cả các sản phẩm nhập khẩu vào Mỹ. Từ ngày 18/12/1997 tất cả

1.8. Hà Lan: Chỉ thị của EU được chuyển dịch thông qua “Luật thực phẩm”,
trong đó quy định tất cả các cơ sở sản xuất, cung cấp thực phẩm phải áp dụng quy
định ATTP trên cơ sở của nguyên tắc hệ thống HACCP.
1.9. Nhật Bản: Quy định 34 ngành chế biến thực phẩm phải áp dụng HACCP
bắt buộc, còn lại là áp dụng tự nguyện. Thực phẩm muốn nhập vào Nhật Bản phải
là sản phẩm của các cơ sở áp dụng HACCP hoặc phải được kiểm tra rất chặt chẽ tại
các cửa khẩu. Bộ Y tế - lao động và phúc lợi trực tiếp chứng nhận HACCP cho 6
ngành chế biến thực phẩm có nguy cơ cao:
- Sữa và sản phẩm từ sữa.
- Bơ và sản phẩm từ bơ.
- Đồ uống không cồn.
- Thịt và sản phẩm thịt.
- Cá và sản phẩm cá.
- Sản xuất đồ hộp.
5
1.10. Các nước khác: Hầu hết các nước hiện nay đều có quy định về việc áp
dụng HACCP. Quy định bắt buộc với các ngành chế biến có nguy cơ cao hoặc quy
định áp dụng cho toàn bộ các cơ sở sản xuất chế biến thực phẩm.
(2) Ở Việt Nam:
Quyết định số 43/2006/QĐ-TTg ngày 20/2/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt kế hoạch hành động Quốc gia đảm bảo VSATTP đến năm 2010 đã xác định:
“Từng bước áp dụng hệ thống quản lý CLVSATTP theo HACCP. Phấn đấu đến
năm 2010, 100% các cơ sở sản xuất thực phẩm có nguy cơ cao áp dụng HACCP”.
Theo nghị định số 163/2004/NĐ-CP ngày 07/9/2004 của Chính phủ quy định
chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm đã xác định
10 nhóm thực phẩm nguy cơ cao là:
(1). Thịt và các sản phẩm từ thịt;
(2). Sữa và các sản phẩm từ sữa;
(3). Trứng và các sản phẩm chế biến từ trứng;
(4). Thủy sản tươi sống và đã qua chế biến;

kế thừa hiệu quả của các hệ thống khác thuộc chương trình PRP (GMP, GHP) bởi
vì bản thân hệ thống HACCP tập trung kiểm soát ở các điểm kiểm soát tới hạn
(CCP) còn phần lớn các điểm kiểm soát (CP) được kiểm soát bởi chương trình
PRP. Như vậy có thể nói không có chương trình PRP thì không thể thiết lập hệ
thống HACCP.
3.2. Đòi hỏi của xu thế quản lý chất lượng VSATTP đang diễn ra trên phạm vi
toàn cầu với đặc điểm chủ yếu là:
+ Chuyển từ kiểm tra thành phẩm sang kiểm tra quá trình.
+ Chuyển từ kiểm tra các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm sang kiểm soát các yếu
tố tác động tới chất lượng trong các quá trình.
+ Chuyển từ loại bỏ thụ động các sản phẩm sai lỗi sang phòng ngừa chủ động
và toàn diện các nguy cơ gây sai lỗi.
+ Chuyển từ kiểm tra độc lập sang công nhận, thừa nhận lẫn nhau.
+ Chuyển từ kiểm tra dàn đều không tập trung sang kiểm soát tập trung vào
những điểm quyết định tới an toàn thực phẩm.
Chính nhờ các đặc điểm trên HACCP ngày càng được cộng đồng quốc tế thừa
nhận và áp dụng rộng rãi trong phạm vi toàn thế giới.
HACCP không chỉ là phương thức quản lý hữu hiệu ở doanh nghiệp, HACCP
còn làm thay đổi nhận thức, cơ chế quản lý chất lượng thực phẩm ở tầm vĩ mô. Đề
cập tới vai trò của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và vai trò của cơ quan
quản lý đối với việc xúc tiến áp dụng HACCP, tháng 6 năm 1993 NACMCF đã nêu
rõ:
“Ngành công nghiệp thực phẩm chịu trách nhiệm xây dựng và thực hiện kế
hoạch HACCP, còn cơ quan quản lý có trách nhiệm thúc đẩy quá trình này”.
Nói cách khác, Nhà nước cần tạo điều kiện để doanh nghiệp áp dụng HACCP
đồng thời có trách nhiệm giám sát việc thực hiện đó.
3.3. Đáp ứng yêu cầu của tiến trình hòa nhập và đòi hỏi của thị trường nhập
khẩu
- Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đã yêu cầu các nước thành viên áp
dụng Hệ thống HACCP như một phương tiện kiểm soát ATTP trong thương mại

- Giảm chi phí cho sức khỏe cộng đồng.
- Tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển thương mại.
- Tăng lòng tin của người dân vào việc cung cấp thực phẩm.
+ Lợi ích doanh nghiệp:
(1) Nâng cao uy tín chất lượng đối với sản phẩm của mình, tăng tính cạnh
trạnh, khả năng chiếm lĩnh và mở rộng thị trường, đặc biết đối với thực phẩm xuất
khẩu.
(2) Được phép in trên nhãn dấu hoặc giấy chứng nhận phù hợp với hệ thống
HACCP, tạo lòng tin với người tiêu dùng và bạn hàng.
(3) Được sử dụng dấu hoặc giấy chứng nhận phù hợp với hệ thống HACCP
trong các hoạt động quảng cáo, chào hàng, giới thiệu cho sản phẩm và doanh
nghiệp.
(4) Là điều kiện để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động tự công bố tiêu
chuẩn chất lượng VSATTP.
(5) Là căn cứ để cơ quan kiểm tra chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm xem
xét chế độ giảm kiểm tra đối với các lô sản phẩm.
(6) Là cơ sở đảm bảo điều kiện thuận lợi cho việc đàm phán, ký kết hợp đồng
thương mại trong nước cũng như xuất khẩu.
(7) Là cơ sở của chính sách ưu tiên đầu tư, đào tạo của Nhà nước cũng như các
đối tác nước ngoài.
8
PHẦN II: NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VÀ CÁC CHỈ
BÁO VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ATTP
I. NỘI DUNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
Pháp lệnh VSATTP được Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành ngày
26/7/2003, trong đó quy định 10 nội dung quản lý Nhà nước về ATTP như sau:
1. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, quy hoạch, kế hoạch
về vệ sinh an toàn thực phẩm;
2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về vệ sinh
an toàn thực phẩm, các quy định và tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm;

9
độc tố vi nấm nhiễm vào thực phẩm trong quá trình gieo trồng, chăn nuôi, chế biến,
bảo quản, lưu thông, vận chuyển.
- Chất ô nhiễm vật lý: các dị vật, mảnh kim loại, mảnh thủy tinh, sạn, sỏi, chất
dẻo, lông tóc, các chất phóng xạ.
2. Ngộ độc thực phẩm:
Ngộ độc thực phẩm là hội chứng bệnh lý do ăn uống phải thực phẩm có chất
độc. Người ta chia ra:
- Ngộ độc thực phẩm cấp tính: xảy ra đột ngột, biểu hiện rõ rệt và hết đi cũng
nhanh chóng.
- Ngộ độc thực phẩm mạn tính: là các rối loạn, tổn thương, bệnh mạn tính do
thâm nhiễm dần dần các chất độc hại, biểu hiện là các tổn thương mạn tính về thần
kinh, gan, thận, tiêu hóa, ngoài da, ung thư Đặc biệt là các bệnh mạn tính không
lây đang trở thành dịch bệnh trong cộng đồng cũng liên quan đến ăn uống và thực
phẩm như: các bệnh tim mạch, tiểu đường, ung thư, xương khớp, dị ứng, suy giảm
miễn dịch, suy giảm chức năng
3. Các bệnh truyền qua thực phẩm: Hiện nay có tới 400 các bệnh truyền qua
thực phẩm như: bệnh bò điên (BSE), bệnh cúm gia cầm, bệnh tả, lỵ, thương hàn,
các bệnh giun, sán
PHẦN III. PHÂN CÔNG TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ ATTP.
Muốn nghiên cứu về phân công trách nhiệm quản lý Nhà nước về ATTP cần
phải nắm được lịch sử của việc phân công trách nhiệm quản lý Nhà nước về ATTP.
Căn cứ vào 2 văn bản cơ bản của Chính phủ là: Nghị định số 86/CP ngày
8/12/1995 của Chính phủ về phân công trách nhiệm quản lý Nhà nước về chất
lượng hàng hóa, trong đó có thực phẩm và Pháp lệnh VSATTP được Ủy ban
thường vụ Quốc hội ban hành ngày 26/7/2003, chia ra 3 giai đoạn sau:
I. GIAI ĐOẠN TRƯỚC NGHỊ ĐỊNH 86/CP:
Trong những năm đầu của thập niên 90, mối quan hệ liên ngành trong công tác
quản lý CLVSATTP đã bắt đầu được quan tâm và củng cố. Tuy nhiên, hiệu quả của

mình cho dù có sự chồng chéo hoặc bỏ sót trách nhiệm vẫn đang diễn ra và có xu
hướng ngày càng trầm trọng.
Chỉ nói riêng về lực lượng thanh tra, không có Bộ nào có thanh tra chuyên
ngành CLVSATTP, Bộ Y tế chỉ có thanh tra Nhà nước về vệ sinh, khám chữa bệnh
và dược phẩm (Điều 48 chương IX Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân); Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ có thanh tra về thú y, về phòng trừ sinh vật gây
hại, kiểm dịch động thực vật (Điều 43 chương V và Điều 33 chương V Pháp lệnh
Thú y và Pháp lệnh Bảo vệ thực vật); Bộ Thủy sản chỉ có thanh tra chuyên ngành
về bảo vệ nguồn lợi thủy sản (Quyết định số 415/QĐ-TTg ngày 10 tháng 8 năm
1994 của Thủ tướng Chính phủ). Với một hệ thống tổ chức như trên thì chưa thể
tiến hành quản lý chất lượng có hiệu quả chưa nói tới việc tổ chức phối hợp liên
ngành hợp lý.
Chính sự bất cập của hệ thống văn bản luật pháp và hệ thống tổ chức đã ảnh
hưởng không nhỏ tới kết quả hoạt động quản lý ngành và đặc biệt sự phối hợp liên
ngành nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chung về CLVSATTP. Vì các lý do trên,
ngày 8 tháng 12 năm 1995 Chính phủ đã ban hành nghị định 86/CP nhằm phân
công trách nhiệm quản lý Nhà nước về chất lượng hàng hóa để khắc phục tình trạng
lộn xộn, chồng chéo, bước đầu đặt nền móng cho công tác quản lý liên ngành về
CLVSATTP.
II. GIAI ĐOẠN SAU NGHỊ ĐỊNH 86/CP
Giai đoạn sau Nghị định 86/CP – tức thời kỳ năm 1996 tới nay – Giai đoạn
trung chuyển của quá trình đổi mới công tác quản lý CLVSATTP cũng như đổi mới
cơ chế phối hợp liên ngành dựa trên sự phân công trách nhiệm, xác định nội dung
11
quản lý, bước tiến hành và chỉ định cơ quan thực hiện của Nghị định 86/CP và các
Thông tư liên Bộ hướng dẫn thực hiện. Có hai đặc điểm của giai đoạn này, đó là:
việc ra đời của Nghị định 86/CP và việc thành lập 1 tổ chức chuyên trách có khả
năng điều phối các hoạt động quản lý thành lập 1 tổ chức chuyên trách có khả năng
điều phối các hoạt động quản lý liên ngành, đó chính là Cục quản lý chất lượng Vệ
sinh an toàn thực phẩm.

an toàn vệ sinh thực phẩm mà thực chất là quá trình chuyển giao quản lý chất lượng
thực phẩm từ Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường (Nói chính xác là từ Tổng
Cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng) sang Bộ Y tế (với thời gian đầu là Vụ Y tế
dự phòng và sau đó, từ năm 1999 là Cục Quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực
phẩm). Quá trình hợp tác này đã diễn ra suôn sẻ và có kết quả cả tầm vĩ mô (cấp
12
Trung ương) cũng như các cấp cơ sở và ở tất cả các công đoạn quản lý từ công bố
danh mục, đăng ký chất lượng đến kiểm tra, thanh tra tại cơ sở cũng như cửa khẩu.
- Các Trung tâm kỹ thuật của Tổng Cục TC-ĐL-CL cũng đã phối hợp chặt chẽ
với các Viện chức năng của Bộ Y tế trong công tác kiểm tra Nhà nước về chất
lượng đối với thực phẩm xuất khẩu, nhập khẩu. Các sở KHCN&MT, các Chi cục
TC-ĐL-CL ở các địa phương đã phối hợp chặt chẽ với cơ quan Y tế địa phương
trong các hoạt động thanh tra, kiểm tra cũng như các phong trào về VSATTP.
- Công tác phối hợp liên ngành Y tế với các ngành Thủy sản, Nông nghiệp và
phát triển nông thôn, Công nghiệp và Thương mại cũng đã đạt được kết quả đáng
khích lệ đặc biệt là đối với các nhóm sản phẩm đặc thù và các lĩnh vực đã được
phân công trọng Nghị định 86/CP. Sự phối hợp còn thể hiện rõ trong việc triển khai
các phong trào VSATTP cũng như các tháng hoạt động vì VSATTP trên phạm vi
toàn quốc. Hiện nay, Bộ Y tế đang chủ động thỏa thuận với các Bộ quản lý chuyên
ngành thông qua việc ký kết song phương các Thông tư liên Bộ nhằm cụ thể hóa
các trách nhiệm đã được phân công chủ yếu về các lĩnh vực: vệ sinh thú y, kiểm
dịch và bảo vệ động thực vật, quản lý CLVSATTP đối với thủy sản tiêu thụ trong
nước và nhập khẩu, kiểm soát điều kiện vệ sinh tại các cơ sở sản xuất, chế biến
thực phẩm Hy vọng rằng sự phối hợp liên ngành ngày càng phát triển vững chắc
trên cơ sở một sự phân công cụ thể, đầy đủ và hợp lý.
Tuy nhiên, cơ chế phân công trách nhiệm theo Nghị định 86/CP chỉ là phương
án tình thế để tạm thời giải quyết các lộn xộn và bất hợp lý đã tồn tại từ trước và
mới phát sinh trong giai đoạn giao thời, bản thân cơ chế đó vẫn còn thể hiện một số
tồn tại sau đây:
- Tiền đề pháp lý của cơ chế phân công trách nhiệm trong Nghị định 86/CP là

• Đối tượng quản lý: từ sản phẩm chuyển sang quá trình sản xuất;
• Phương thức quản lý: Từ kiểm tra, thanh tra chuyển thành công nhận,
chứng nhận;
• Yếu tố quản lý: Từ chỉ tiêu chất lượng thành phẩm chuyển sang điều
kiện và yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng trong quá trình sản xuất;
• Mục tiêu quản lý: từ loại bỏ sai lỗi của thành phẩm chuyển sang phòng
ngừa nguy cơ sai lỗi trong quá trình hình thành;
• Tính chất quản lý: Từ tương đối độc lập chuyển sang hài hòa, công
nhận, thừa nhận lẫn nhau.
Mặt khác, qua hơn 5 năm thực hiện hợp tác liên ngành trong công tác quản lý
chất lượng thực phẩm trên cơ sở sự phân công trách nhiệm của Nghị định 86/CP,
ngoài các kết quả đã đạt được đã nêu, cũng đã phát sinh một số xu hướng cần xem
xét:
- Xu thế phân công triệt để hơn về trách nhiệm, xu thế này muốn tăng cường
quyền lực quản lý Nhà nước cho các Bộ quản lý chuyên ngành, muốn nâng cao vai
trò quản lý ngành từ “khâu định hướng sản xuất đến tiêu thụ trên thị trường”, ý
tưởng của xu thế này là: các Bộ quản lý chuyên ngành trực tiếp tiến hành các hoạt
động quản lý Nhà nước về CLVSATTP đối với tất cả các loại thực phẩm do Bộ đó
tổ chức sản xuất, các cơ quan quản lý nhà nước (hiện đang được Chính phủ giao
cho Bộ Y tế) chỉ nên có trách nhiệm ban hành các chủ trương, chính sách, tiêu
chuẩn về chất lượng, vệ sinh an toàn đối với thực phẩm để hình thành khung pháp
lý chung và chỉ nên tổ chức kiểm tra kết quả thực hiện các tiêu chuẩn đó của các
Bộ quản lý chuyên ngành, có nghĩa là các Bộ quản lý chuyên ngành trực tiếp tiến
hành các hoạt động quản lý Nhà nước về CLVSATTP, xu hướng này có ưu điểm là
nâng cao trách nhiệm về CLVSATTP của người sản xuất, của Bộ quản lý chuyên
ngành đối với sản phẩm của mình, gắn việc kiểm soát điều kiện sản xuất với quản
lý chất lượng Tuy nhiên, xu hướng này khó có thể thực hiện vì không đảm bảo
tính thống nhất trong quản lý Nhà nước về CLVSATTP và mặt khác, đi ngược lại
với xu thế của Thế giới ngày nay, đó là: mỗi Quốc gia chỉ nên có một cơ quan quản
14

• Ngộ độc thực phẩm, các bệnh truyền qua thực phẩm (FBDs) cao.
Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm được Ủy ban thường vụ Quốc hội ban
hành ngày 26/7/2003 có một ý nghĩa đăc biệt đối với vấn đề quản lý vệ sinh an toàn
thực phẩm ở nước ta. Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm ra đời có ý nghĩa rất to
lớn:
- Lần đầu tiên ở nước ta có một văn bản pháp lý cao về vệ sinh an toàn thực
phẩm.
- Pháp lệnh sẽ là sự hướng dẫn cho người sản xuất, kinh doanh thực phẩm đảm
bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Chỉ dẫn cho việc kiểm soát, kiểm tra, thanh tra vệ sinh an toàn thực phẩm.
15
- Giúp cho nhà quản lý có một công cụ để quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Cung cấp niềm tin cho người tiêu dùng.
- Tạo niềm tin, độ tin cậy của Quốc tế khi đầu tư vào Việt Nam trong giai đoạn
“mở cửa” của nước ta.
2. Trách nhiệm quản lý Nhà nước về ATTP:
Điều 43 của Pháp lệnh VSATTP nêu nguyên tắc phân công trách nhiệm quản
lý Nhà nước về ATTP như sau:
(1) Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm.
(2) Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về
vệ sinh an toàn thực phẩm.
(3) Các Bộ, Ngành trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách
nhiệm phối hợp với Bộ Y tế thực hiện quản lý Nhà nước về vệ sinh an toàn thực
phẩm trong lĩnh vực được phân công phụ trách theo các nguyên tắc sau đây:
a) Việc quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá trình sản
xuất do các Bộ, Ngành quản lý chuyên ngành chủ trì phối hợp với các Bộ, Ngành
có liên quan;
b) Việc quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm trong quá trình lưu
thông do Bộ Y tế chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan thực hiện.
(4) Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình

khoản 1 của Điều này.
2.1.3. Bộ Thủy sản.
(1) Thực hiện quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sản
phẩm thủy sản tiêu dùng trong nước trong suốt quá trình sản xuất từ nuôi trồng,
khai thác, chế biến, bảo quản, vận chuyển cho đến khi sản phẩm được lưu thông
trên thị trường.
(2) Quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sản phẩm thực phẩm thủy
sản xuất khẩu, tạm nhập – tái xuất.
(3) Chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế xây dựng và ban hành các văn bản hướng
dẫn thực hiện công tác quản lý về vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định tải
khoản 1 và 2 của Điều này.
2.1.4. Bộ Công nghiệp.
(1) Thực hiện quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với sản
phẩm thực phẩm trong suốt quá trình sản xuất của các cơ sở trong phạm vi quản lý
của mình theo chức năng, nhiệm vụ được giao cho đế khi sản phẩm thực phẩm
được lưu thông trên thị trường trong nước và xuất khẩu.
(2) Chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế và các Bộ, Ngành liên quan xây dựng và ban
hành các văn bản hướng dẫn thực hiện công tác quản lý về vệ sinh an toàn thực
phẩm theo quy định tại khoản 1 của Điều này.
2.1.5. Bộ Thương Mại
(1) Phối hợp với Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan thực hiện quản lý nhà
nước đối với thực phẩm lưu thông trên thị trường theo chức năng, nhiệm vụ được
giao;
(2) Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan thực hiện kiểm tra, thanh tra vệ sinh
an toàn thực phẩm đối với thực phẩm lưu thông trên thị trường và thực phẩm nhập
khẩu;
(3) Chủ trì, phối hợp với các Bộ ngành liên quan xây dựng và ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh
dịch vụ tươi sống và chế biến; tổ chức kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy
phạm pháp luật nêu trên.

2.2. Trách nhiệm trong việc phòng ngừa, khắc phục ngộ độc thực phẩm và
bệnh truyền qua thực phẩm.
2.2.1. Ủy ban nhân dân các cấp.
(1) Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm quản lý và chỉ đạo các hoạt động
bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm đối với thực phẩm lưu thông trên địa bàn;
(2) Khi xảy ra ngộ độc thực phẩm, các bệnh truyền qua thực phẩm phải chỉ
đạo việc điều tra, khắc phục và giải quyết hậu quả kịp thời. Trường hợp vượt quá
khả năng của mình. Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân
nhân cấp trên trực tiếp và các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về vệ sinh
an toàn thực phẩm để phối hợp giải quyết và khắc phục triệt để hậu quả do ngộ độc
thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm gây ra trên địa bàn.
2.2.2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thủy sản.
(1) Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thủy sản có trách nhiệm quản
lý và chỉ đạo việc thực hành sản xuất tốt để bảo đảm vệ sinh an toàn đối với các sản
phẩm nông nghiệp, thủy sản trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường.
(2) Khi xảy ra ngộ độc thực phẩm có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân
dân các cấp, Bộ Y tế và các Bộ, ngành có liên quan để khắc phục và giải quyết hậu
quả.
18
2.2.3. Bộ Công Nghiệp
(1) Bộ Công nghiệp và các ngành liên quan chịu trách nhiệm quản lý và chỉ
đạo sản xuất và chế biến thực phẩm trong các nhà máy, xí nghiệp để sản phẩm thực
phẩm đưa ra thị trường phải bảo đảm vệ sinh an toàn;
(2) Khi xảy ra ngộ độc thực phẩm có trách nhiệm phối hợp với Ủy bản nhân
dân các cấp, Bộ Y tế và các Bộ ngành có liên quan để khắc phục và giải quyết hậu
quả.
2.2.4. Bộ Y tế.
(1) Bộ Y tế có trách nhiệm ban hành các tiêu chuẩn ngành và quy định về vệ
sinh an toàn thực phẩm; kiểm tra và thanh tra việc thực hiện các tiêu chuẩn ngành
và quy định đó, đồng thời tổ chức điều tra xác định cơ sở nguyên nhân, bữa ăn

trong kế hoạch hành động Quốc gia đảm bảo VSATTP đến năm 2010, Chính
phủ đã quy định cụ thể như sau:
3.1. Ban Chỉ đạo liên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm chịu trách nhiệm
chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra và đôn đốc các Bộ, Ngành, Ủy ban nhân dân các
Tỉnh, thành phố, trực thuộc Trung ương thực hiện có hiệu quả Kế hoạch hành
động Quốc gia bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.
3.2. Bộ Y tế
a) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan xây dựng và ban hành theo
thẩm quyền các văn bản pháp luật hướng dẫn thực hiện Pháp lệnh Vệ sinh an toàn
thực phẩm và Nghị định số 163/2004/NĐ-CP ngày 7 tháng 9 năm 2004 quy định
chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm.
b) Chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa – Thông tin và các Bộ, ngành liên quan
xây dựng chiến lược thông tin – truyền thông – giáo dục VSATTP; phối hợp với
các tổ chức quần chúng, Ban, ngành tại địa phương xây dựng mạng lưới cộng tác
viên tuyên truyền VSATTP tại tuyến cơ sở.
c) Kiểm soát ô nhiễm vi sinh vật và tồn dư hóa chất trong thực phẩm lưu thông
trên thị trường như: thực phẩm chức năng, thực phẩm có nguy cơ cao, thực phẩm
nhập khẩu và phụ gia thực phẩm; thực phẩm sản xuất trong nước, thực phẩm trong
và sau chế biến để tiêu dùng nội địa.
d) Chủ trì, phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ và các Bộ, ngành liên
quan quy hoạch và phát triển hệ thống kiểm nghiệm trong phạm vi cả nước.
đ) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng hệ thống cảnh báo
nhanh thực phẩm không an toàn và dự báo nguy cơ ô nhiễm thực phẩm; xây dựng
hệ thống giám sát ngộ độc thực phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm.
e) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan kiểm tra, thanh tra VSATTP.
g) Chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân địa phương và các cơ quan liên quan
xây dựng một số mô hình bảo đảm VSATTP tại công đồng.
h) Là cơ quan đầu mối, điều hòa, phối hợp trong việc thực hiện Kế hoạch,
Chịu trách nhiệm lập báo cáo trình Thủ tướng Chính phủ tình hình thực hiện Kế
hoạch hành động Quốc gia bảo đảm VSATTP hàng năm.

c) Kiểm soát VSATTP thủy sản và sản phẩm thủy sản chế biến tiêu dùng nội
địa trong quá trình chế biến, bảo quản, vận chuyển.
d) Kiểm soát chất lượng VSAT thức ăn chăn nuôi và vật tư sản xuất thủy sản.
đ) Tổ chức kiểm tra công nhận điều kiện đảm bảo VSAT các cơ sở sản xuất,
kinh doanh từ khai thác, nuôi trồng, bảo quản, chế biến thủy sản (bao gồm chương
trình quản lý chất lượng theo GMP, GHP, SSOP, HACCP).
e) Phối hợp với Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan tham gia hệ thống cảnh
báo nhanh thực phẩm không an toàn.
3.5. Bộ Thương mại:
a) Bộ Thương mại chủ trì, phối hợp với Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan
kiểm tra, kiểm soát các hoạt động kinh doanh thực phẩm trên thị trường, đặc biệt là
các nhóm thực phẩm có nguy cơ ô nhiễm cao; kiểm soát nhãn thực phẩm, thực
phẩm giả.
b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan, xây dựng và ban hành văn
bản pháp luật quy định điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống và kinh doanh dịch
vụ thực phẩm tươi sống thep Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm.
c) Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong quản lý giết mổ
tập trung và triển khai áp dụng GHP, HACCP tại các cơ sở giết mổ quy mô công
nghiệp.
3.6. Bộ Khoa học và Công nghệ.
a) Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với các Bộ: Y tế, Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn và các Bộ, ngành liên quan xây dựng và ban hành tiêu
21
chuẩn Việt Nam về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm cho các loại sản phẩm
thực phẩm.
b) Phối hợp với Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan quy hoạch và phát triển hệ
thống kiểm nghiệm VSATTP trong phạm vi cả nước.
3.7. Bộ Văn hóa – Thông tin
a) Phối hợp với Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, các Bộ, ngành liên quan
để định hướng chỉ đạo công tác thông tin tuyên truyền về VSATTP trong ngành

3.11. Bộ Giáo dục và Đào tạo.
22
a) Phối hợp với Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên quan tổ chức tuyên truyền, giáo
dục kiến thức về VSATTP trong học sinh, sinh viên, trong hệ thống nhà trường từ
mầm non đến đại học.
b) Đưa nội dung VSATTP vào chương trình giáo dục của các bậc học.
c) Tuyên truyền vận động nhân dân nâng cao nếp sống vệ sinh, khoa học; thay
đổi phong tục tập quán lạc hậu.
3.12. Bộ Tài nguyên và Môi trường
Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan quản lý nguồn chất thải gây ô nhiễm
môi trường và ô nhiễm thực phẩm và bảo đảm an toàn môi trường trồng trọt, chăn
nuôi và môi trường sống.
3.13. Bộ Quốc phòng
a) Bộ đội Biên phòng phối hợp với lực lượng hải quan và các Ban, ngành liên
quan của địa phương ngăn chặn việc nhập lậu thực phẩm, thực phẩm kém chất
lượng qua biên giới.
b) Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tham gia tuyên truyền, giáo dục nâng
cao nhận thức và thực hành VSATTP cho đồng bào dân tộc khu vực đóng quân,
vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.
3.14. Bộ Công an
a) Phối hợp với Bộ Thương mại, Bộ Y tế và các Bộ, ngành liên qua khác tăng
cường kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước về VSATTP đối với dịch
vụ kinh doanh thức ăn đường phố.
b) Phối hợp với các Bộ, ngành liên quan kiểm tra điều kiện bảo đảm VSATTP
của các phương tiện vận chuyển thực phẩm; kiểm soát thực phẩm giả, thực phẩm
nhập lậu.
c) Tham gia giải quyết các sự kiện phát sinh về vệ sinh an toàn thực phẩm.
3.15. Bộ Nội vụ
a) Nghiên cứu trình Chính phủ Đề án kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý, kiểm
nghiệm và thanh tra chuyên ngành VSATTP từ trung ương đến tuyến tỉnh, thành

a) Điều kiện về cơ sở:
+ Cơ sở là tất cả các loại nhà xưởng, lán trại, các dạng kiến trúc kiên cố hoặc
tạm thời kèm theo đất đai, phương tiện, xe cộ, cung cấp nước được sử dụng cho
sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
+ Các yêu cầu vệ sinh cơ sở cần đảm bảo bao gồm:
- Vị trí.
- Mặt bằng
- Kiến trúc, thiết kế.
- Thiết bị dụng cụ.
- Cung cấp nước.
- Xử lý chất thải.
- Quy trình sản xuất chế biến, chế biến.
- Khu vực vệ sinh.
- Vệ sinh nhà xưởng, chế độ làm sạch, khử trùng.
b) Điều kiện về người sản xuất kinh doanh thực phẩm:
+ Học tập kiến thức VSATTP.
+ Tiêu chuẩn sức khỏe.
+ Vệ sinh cá nhân.
c) Các chứng nhận kinh doanh và chuyên môn (ví dụ: giấy chứng nhận đủ
điều kiện).
4.2. Trách nhiệm của người sản xuất kinh doanh thực phẩm:
1) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất kinh doanh thực phẩm phải chịu
trách nhiệm về VSATTP do mình sản xuất kinh doanh.
2) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất kinh doanh thực phẩm tươi sống
phải đảm bảo nơi nuôi, trồng, buôn bán thực phẩm không bị ô nhiễm bởi môi
trường, gây nhiễm bẩn thực phẩm.
24
+ Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất kinh doanh thực phẩm tươi sống phải
thực hiện các biện pháp xử lý chất thải theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi
trường.

quản, sử dụng và thuận lợi cho việc ghi nhãn.
+ Bao bì tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm phải được thử nghiệm, kiểm nghiệm
về vệ sinh an toàn thực phẩm.
6) Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm phải áp
dụng phương pháp bảo quản thực phẩm thích hợp để bảo đảm thực phẩm không bị
hư hỏng, biến chất, giữ được chất lượng, mùi vị và không làm tăng thêm các chất ô
nhiễm vào thực phẩm.
25

Trích đoạn Công tác quản lý: Công tác giáo dục truyền thông an toàn thực phẩm: Hoạt động liên ngành và xã hội hóa các hoạt động về an toàn thực phẩm Công tác kiểm tra, thanh tra:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status