Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc - Pdf 57

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………

BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC
VIỆN
HÀNH
CHÍNH
QUỐC
GIA

NGUYỄN
HỒNG QUÂN

QU
ẢN

NH
À
N
Ƣ
ỚC
VỀ
AN
TO


ÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH VĨNH PHÚC


N
Ƣ



C VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH
PHÚC

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ
CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TIẾN SĨ
TRỊNH ĐỨC HƢNG

HÀ NỘI - NĂM 2017

2


LỜI CAM ĐOAN
Em cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là xác thực và có nguồn gốc rõ
ràng. Em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày
tháng năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Hồng Quân

4


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................................................................................................... 9
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ AN TOÀN
THỰC PHẨM
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài.................................................................................... 15
1.2. Đặc điểm, sư c ̣ ần thiết , các yếu tố ảnh hưởng tới quản lý nhà nước về an toàn
thực phẩm.................................................................................................................................................... 21
1. 3. Chủ thể và nội dung quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm...................................... 35
1.4. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm ở một số tỉnh, thành phố
cho Vĩnh Phúc........................................................................................................................................... 42
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG AN TOÀN THỰC PHẨM VÀ QUẢN LÝ NHÀ
NƢỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Vĩnh Phúc.................................... 47
2.2. Thực trạng an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc............................................ 49
2.3. Thực trạng quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 52
CHƢƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ CÁC GIẢI PHÁP KIỆN TOÀN QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH
PHÚC
3.1. Quan điểm của Đảng về an toàn thực phẩm......................................................................... 89
3.2. Quan điểm của Đảng bộ Vĩnh Phúc về an toàn thực phẩm............................................. 91
3.3. Giải pháp kiện toàn quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc................................................................................................................................................... 93
KẾT LUẬN............................................................................................................................................... 119

VBQPPL
VIETGAP
VSATTP


XHCN

6


DANH MỤC
CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 2.1: Số liệu về thông tin, giáo dục, truyền thông an toàn thực phẩm
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc 2012- 2016 ....................................................................... 59

Bảng 2.2: Số liệu về ngộ độc thực phẩm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai
đoạn 2012-2016 ............................................................................................................ 60

Bảng 2.3. Số liệu về hoạt động giám sát mối nguy ô nhiễm thực phẩm 20122016 ............................................................................................................................... 61

Bảng 2.4: Số liệu cấp giấy chứng nhận điều kiện an toàn thực phẩm trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc 2012- 2016 ...................................................................................
62
Bảng 2.5: Số liệu về quản lý công bố hợp quy, công bố phù hợp quy định về
an toàn thực phẩm và quảng cáo thực phẩm trên địa bàn tỉnh

Vĩnh Phúc 2012-

2016 ............................................................................................................................... 63


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
An toàn thực phẩm có vai trò rất quan trọng, nó không chỉ ảnh hưởng một
cách trực tiếp, thường xuyên đến sức khỏe và tính mạng con người mà về lâu dài
còn ảnh hưởng tới chất lượng nòi giống dân tộc. Bên cạnh đó, ATTP còn liên quan
chặt chẽ đến năng suất, hiệu quả phát triển kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh
xã hội. Ngày nay, ATTP còn trở thành một trong những tiêu chí quan trọng để đáng
giá mức độ phát triển của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nhất định.
Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động QLNN về ATTP còn gặp nhiều khó khăn,

thách thức. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phần lớn có quy mô nhỏ lẻ,
tính tự phát cao, thiếu quy hoạch dẫn tới việc kiểm soát chất lượng ATTP trở nên
khó khăn. Nhiều hành vi tiêu cực trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm ngày càng
trở nên phúc tạp, khó kiểm soát, có thể kể tới như: Sử dụng sai quy trình, liều lượng
các loại phụ gia thực phẩm, hóa chất bảo quản, thuốc kháng sinh, TBVTV, thuốc
kích thích tăng trưởng trong nuôi, trồng, sản xuất, chế biến thực phẩm; sử dụng các
hóa chất bị cấm hoặc không rõ nguồn gốc xuất xứ, không đảm bảo chất lượng trong
sản xuất, chế biến thực phẩm; sử dụng động vật bị bệnh trong sản xuất, kinh doanh
thực phẩm... Những hành vi tiêu cực như trên đã tất yếu dẫn tới việc thực phẩm bị ô
nhiễm nặng nề gây tổn hại nghiêm trọng tới sức khỏe của người tiêu dùng mà hậu
quả sau cùng là việc các chứng bệnh nan y, khó chữa đang ngày càng phổ biến hơn
trong cộng đồng. Mặc dù, trong thời gian vừa qua Việt Nam đã có những tiến bộ rõ
rệt trong QLNN về ATTP, song vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém và hạn chế.
Vĩnh Phúc là tỉnh tiếp giáp trực tiếp với thủ đô Hà Nội, đóng vai trò như cửa
ngõ từ thủ đô lên vùng tây bắc của tổ quốc, đồng thời là nơi cung cấp nhiều loại
thực phẩm thiết yếu như: Rau, quả, thịt... cho thị trường thủ đô. Song song với việc
luôn là một trong những địa phương đi đầu về phát triển kinh tế- xã hội và thu hút
đầu tư của cả nước, trong những năm gần đây hiệu quả hoạt động chăm sóc
và bảo vệ sức khỏe nhân dân trong đó có lĩnh vực ATTP đã được cải thiện rõ rệt. Số
vụ NĐTP có xu hướng giảm nhanh; hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông về

phù hợp quy định ATTP; thanh tra ATTP về ghi nhãn sản phẩm thực phẩm; thanh tra
ATTP về quảng cáo thực phẩm; thanh tra ATTP về điều kiện ATTP; thanh tra ATTP
về thực phẩm nhập khẩu; xử lý vi phạm hành chính về ATTP… Tuy nhiên, các nội
dung tài liệu đưa ra chỉ xoay quanh nội dung hoạt động thanh tra về ATTP.
Tài liệu chuyên khảo: “Truyền thông an toàn thực phẩm tại cộng đồng” chủ

10


biên: Lê Văn Bào, Hoàng Hải, Học viện Quân y, Hà Nội, 2013. Tài liệu đã đề cập
tới những nội dung như: Quan điểm, chiến lược về ATTP của Đảng và Nhà nước
Việt Nam; tầm quan trọng của công tác truyền thông ATTP tại cộng đồng; những
kiến thức cơ bản về ATTP phục vụ công tác truyền thông ATTP tại cộng đồng… Tuy
nhiên, những nội dung tài liệu đề cập chỉ xoay quanh nội dung truyền thông cộng
đồng về ATTP.
Đề tài: “Thể chế quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với
hàng nông sản ở Việt Nam”, tác giả: Đào Thế Anh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn, năm 2010. Đề tài đã xác định cơ sở khoa học của thể chế QLNN về
VSATTP đối với hàng nông sản; khảo cứu kinh nghiệm của một số quốc gia khác về
sự hình thành và triển khai thể chế QLNN về VSATTP đối với hàng nông sản; đánh
giá thực trạng VSATTP đối với nông sản, những bất cập và vấn đề đặt ra đối với thể
chế QLNN về VSATTP đối với hàng nông sản ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, đề xuất
các giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế QLNN về VSATTP đối với hàng nông sản ở
Việt Nam. Trên phương diện quản lý, có thể nhận thấy ý nghĩa của đề tài đối với
thực tiễn QLNN về VSATTP nông sản. Tuy nhiên, QLNN về VSATTP đối với nông
sản chỉ là một trong những nội dung của QLNN về ATTP, còn nhiều nội dung khác
trong QLNN về ATTP mà đề tài chưa đề cập tới như: Thực phẩm bao gói sẵn, thực
phẩm chức năng, dịch vụ ăn uống…
Chuyên đề: “Tình hình và xu hướng ngộ độc thực phẩm tại Việt Nam giai
đoạn từ 2002- 2010”, tác giả: Lâm Quốc Hùng, Cục ATTP- Bộ Y tế, năm 2011.

thể, khách thể, nội dung của hoạt động QLNN về ATTP; đánh giá thực trạng QLNN
về ATTP ở Việt Nam; đề xuất các mục tiêu, phương hướng, giải pháp nhằm tiếp tục
hoàn thiện QLNN về ATTP ở Việt Nam. Tuy nhiên, Luận văn chỉ tập trung vào
QLNN về ATTP ở cấp trung ương.
Các tài liệu nghiên cứu trên đây đã góp phần làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn
đối với hoạt động QLNN về ATTP. Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên biệt đối với hoạt động QLNN về ATTP trên
địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một
cách toàn diện và chuyên biệt về “Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc” dưới góc độ quản lý công, có ý nghĩa nhất định về lý luận và
thực tiễn đối với địa phương.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu

12


Trên cơ sở hệ thống hóa kiến thức QLNN về ATTP, phân tích thực trạng, tìm
ra những hạn chế và nguyên nhân những hạn chế của hoạt động QLNN về ATTP
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng QLNN về ATTP trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn được xác định như sau:
- Hệ thống hóa kiến thức QLNN về ATTP.
- Phân tích, đánh giá thực trạng, tìm ra những hạn chế và nguyên nhân

những hạn chế của hoạt động QLNN về ATTP trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng QLNN về ATTP trên địa

bàn tỉnh Vĩnh Phúc.

- Luận văn là đóng góp quan trọng vào hệ thống tài liệu tham khảo cho các

nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu và các đối tượng
khác quan tâm…
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Về mặt thực tiễn, Luận văn có những ý nghĩa như sau:
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động QLNN về

ATTP của Cục An toàn thực phẩm- Bộ Y tế, các cơ quan QLNN về ATTP trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Đồng thời, phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy
và học tập tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành về hành chính, QLNN, ATTP.
- Áp dụng các giải pháp sẽ nâng cao hiệu quả của hoạt động QLNN về

ATTP, góp phần phát triển kinh tế- xã hội.
7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, nội dung của Luận văn được kết cấu thành 03 chương, bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.
Chương 2: Thực trạng an toàn thực phẩm và quản lý nhà nước về an toàn
thực phẩm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Chương 3: Quan điểm và các giải pháp kiện toàn quản lý nhà nước về an
toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

14


CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài

chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhà nước giao cho trong việc tổ chức và điều
chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân.” [13, tr. 62]. Theo đó, QLNN là
một dạng quản lý đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước, do các cơ quan trong bộ
máy nhà nước thực hiện, lấy pháp luật làm công cụ quản lý chủ yếu nhằm duy trì sự
ổn định và phát triển của xã hội, thoả mãn các nhu cầu hợp pháp của nhân dân. Như
vậy, QLNN có thể được hiểu là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp,
hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước.
Từ việc tìm hiểu, nghiên cứu các khái niệm quản lý nhà nuớc của các học
giả, các nhà nghiên cứu như trên, có thể đưa ra khái niệm chung về QLNN như sau:
Quản lý nhà nước là sự tác động của nhà nước lên các đối tượng quản lý
của nhà nước, bao gồm: Các tổ chức, cơ quan, các cán bộ, công chức, viên chức
của nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội một cách thường xuyên,
liên tục để đạt được những mục tiêu mà nhà nước đề ra đó là ổn định và phát triển
xã hội.
* Khái niệm thực phẩm

“Thực phẩm” là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến, có thể hiểu: “Thực
phẩm là đồ làm món ăn nói chung, phân biệt với lương thực.” [40, tr. 1555].
Khái niệm về thực phẩm cũng có thể được hiểu là bất kỳ vật phẩm nào có
thành phần bao gồm các chất: Đường- bột (gluxit), chất béo (lipit), chất đạm
(protit), các chất vi lượng (vitamin, khoáng chất… ), nước mà con người có thể ăn,
uống được với mục đích cung cấp năng lượng, nước, các chất dinh dưỡng nhằm
nuôi dưỡng, duy trì sự tồn tại và vận động của cơ thể. Thực phẩm có nguồn gốc từ
thực vật, động vật, vi sinh vật hay là các sản phẩm chế biến từ các phương pháp
khác nhau.
Khái niệm thực phẩm được thu hẹp hơn tại Khoản 20, Điều 2, Luật ATTP số:
55/2010/QH12 ngày 17/6/2010, Quốc hội khóa 12, theo đó, thực phẩm là: “Sản
phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản”

16

- Thực phẩm bao gói sẵn: Là thực phẩm được bao gói và ghi nhãn hoàn

chỉnh, sẵn sàng để bán trực tiếp cho mục đích chế biến tiếp hoặc sử dụng để ăn
ngay.
* Khái niệm an toàn thực phẩm
Hiểu theo nghĩa rộng, ATTP là toàn bộ những vấn đề cần xử lý liên quan đến
việc đảm bảo vệ sinh đối với thực phẩm nhằm đảm bảo cho sức khỏe của người tiêu
dùng. Theo nghĩa hẹp, ATTP là khái niệm dùng để mô tả việc xử lý, chế biến, bảo

17


quản và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, phòng chống
bệnh tật do thực phẩm gây ra. ATTP cũng bao gồm một số thói quen, thao tác trong
khâu chế biến cần được thực hiện để tránh các nguy cơ sức khỏe tiềm năng nghiêm
trọng.
An toàn thực phẩm cũng được hiểu là tất cả những điều kiện, biện pháp cần
thiết từ nuôi trồng sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử
dụng nhằm đảm bảo cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe,
tính mạng người tiêu dùng. Vì vậy, thực hiện ATTP là công việc đòi hỏi sự tham gia
của nhiều ngành có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp, công thương, y tế..
và đặc biệt là người tiêu dùng, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
Theo một cách hiểu khác, ATTP là khả năng không gây ngộ độc của thực
phẩm đối với con người khi sử dụng.
Tại Khoản 1, Điều 2, Luật ATTP số: 55/2010/QH12 ngày 17/6/2010, Quốc
hội khóa 12, đưa ra khái niệm về ATTP: “Là việc đảm bảo để thực phẩm không gây
hại tới sức khỏe, tính mạng con người”.
Như vậy, có thể hiểu, ATTP là một hệ thống những nguyên tắc và điều kiện
được đưa ra thực hiện nhằm đảm bảo thực phẩm không gây hại tới sức khỏe, tính
mạng con người. Hệ thống các nguyên tắc và điều kiện này bao gồm các quy định,

chức chính quyền trung ương, tổ chức chính quyền địa phương, tổ chức liên hợp
quốc…” [38, tr. 332-333].
Đồng thời, “Nếu là một động từ, thì tổ chức là sắp xếp, thiết kế cơ cấu thành
hệ thống. Nếu là một danh từ, thì tổ chức là chỉ cơ cấu của hệ thống.” [38, tr. 333].
Qua những cách tiếp cận như trên, dưới góc độ hành chính và để phù hợp với
nhu cầu của Luận văn, có thể rút ra khái niệm tổ chức QLNN: Là hệ thống các cơ
quan QLNN và việc sắp xếp, thiết kế, cơ cấu hệ thống các cơ quan QLNN nhằm
thực hiện các quy định pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
* Khái niệm kiểm tra

Có thể hiểu: “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét.”
[38, tr. 523]. Như vậy, theo cách tiếp cận này, kiểm tra là sự xem xét thực tế từ đó
đưa ra đánh giá, nhận xét của bất kỳ một cá nhân nào trong xã hội đối với bất cứ
một hoạt động nào xem những diễn biến có diễn ra đúng với quy tắc đã xác lập và

19


các mệnh lệnh đã ban hành hay không. Chủ thể kiểm tra có thể là các cơ quan nhà
nước hoặc cũng có thể là một chủ thể phi nhà nước, chẳng hạn như hoạt động kiểm
tra của một tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội (Đảng, Công đoàn, Mặt trận
Tổ quốc, Đoàn Thanh niên…), hoạt động kiểm tra của nội bộ doanh nghiệp: Kiểm
tra của giám đốc đối với các phòng ban, kiểm tra của quản đốc đối với người lao
động.
Đồng thời, cũng có thể hiểu: “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đưa ra
đánh giá, nhận xét. Là hoạt động của cơ quan quản lý, của thủ trưởng cấp trên đối
với cán bộ thuộc quyền, cấp dưới về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.
Hoạt động kiểm tra có thể được thực hiện dưới hai góc độ: Kiểm tra khi có vụ việc
xảy ra và kiểm tra thường xuyên như là chức năng của hoạt động quản lý.” [8, tr.
153].

Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu, thanh tra:
Là hoạt động xem xét, đánh giá của cơ quan QLNN về việc làm của các cơ
quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân; thường được thực hiện bởi một cơ quan chuyên
trách theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm kết luận đúng, sai, đánh
giá ưu, khuyết điểm, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, góp
phần hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế, bảo vệ lợi ích của nhà nước,
các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Trong lĩnh vực QLNN về ATTP, thanh tra ATTP là thanh tra chuyên ngành,
do ngành y tế, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngành công thương thực
hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra.
1.2. Đặc điểm, sự cần thiết, các yếu tố ảnh hƣởng tới quản lý nhà nƣớc
về an toàn thực phẩm
1.2.1. Đặc điểm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
* Đặc điểm an toàn thực phẩm
Từ việc phân tích khái niệm ATTP và các khái niệm liên quan, có thể đưa ra
những đặc điểm của ATTP như sau:
Một là, an toàn thực phẩm đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp tới
sức khỏe người sử dụng. Nếu đảm bảo tốt ATTP, thực phẩm sẽ là nguồn cung cấp
chất dinh dưỡng cho sự tồn tại, phát triển của cơ thể, duy trì sức khỏe con người.
Tuy nhiên, thực phẩm không đảm bảo ATTP sẽ trở thành nguồn gây bệnh và ảnh
hưởng xấu tới sức khỏe con người. Sử dụng thực phẩm không được đảm bảo ATTP

21


có thể dẫn tới NĐTP cấp tính với các triệu chứng dễ nhận thấy, nguy hiểm hơn, sự
tích lũy lâu ngày các yếu tố độc hại trong cơ thể con người khi sử dụng thực phẩm
không đảm bảo ATTP có thể gây ra các bệnh nan y khó chữa, đặc biệt, về lâu dài
còn có thể gây ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe giống nòi.
Hai là, việc xác định ATTP là một việc khó khăn: Để xác định được thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status