VIỆN HÀN LÂM
HOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ TUYẾT LOAN
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC PHẨM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG THÁP
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60.38.01.02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Công trình được hoàn thành tại Học viện khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Thị Đào
Phản biện 1: Phó Giáo sư Tiến sĩ Phan Cảnh Hợp
Phản biện 2: Tiến sĩ Đặng Minh Đức
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học viện khoa học xã hội 15 giờ 50 ngày 10 tháng 10
năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện khoa học xã hội
MỞ ĐẦU
người dân Việt Nam thời gian qua của Nguyễn Tử Chương – Nguyên
Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng Nông, lâm sản và thủy sản; thực
trạng ATTP của Giáo sư – Tiến sĩ Phạm Duy Tường bộ Môn Dinh
dưỡng – ATTP Đại học Y Hà Nội; quản lý thế nào để bảo đảm an
toàn vệ sinh thực phẩm của Giáo sư Nguyễn Lân Dũng; thực trạng
quản lý nhà nước về ATTP của Tiến sĩ Nguyễn Thanh Phong – Cục
trưởng cục an toàn thực phẩm.Do đó, tác giả lựa chọn đề tài "Quản lý
nhà nước về an toàn thực phẩm từ thực tiễn tỉnh Đồng Tháp" để làm
luận văn thạc sĩ là không trùng lắp với các công trình khoa học đã
được công bố
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu quản lý nhà nước về ATTP tại tỉnh Đồng Tháp
nhằm định hướng cho nhận thức, hoạt động của các cơ quan, tổ chức
và các tổ chức,cá nhân được giao nhiệm vụ trong công tác tổ chức,
phối hợp chặt chẽ có hiệu quả và đúng quy định của pháp luật trong
quản lý ATTP. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện năng
lực quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm tại Tỉnh.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận quản lý nhà
nước về an toàn thực phẩm: Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý an
toàn thực phẩm tại tỉnh Đồng Tháp; đề xuất các giải pháp để tăng
cường quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm ở nước ta trong thời
gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
2
Trong đề tài này, tác giả tập trung nghiên cứu những vấn đề
pháp so sánh, để thấy điểm nổi bật trong công tác quản lý nhà nước
về ATTP tốt hơn trong thời gian tới.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
3
Luận văn khái quát, nhìn nhận và đánh giá những tồn tại,
hạn chế của địa phương, những khó khăn hạn chế trong công tác
quản lý ATTP. Qua đó, đề tài này được thực hiện với mong muốn
góp phần hệ thống hóa việc nhìn nhận, đánh giá toàn diện, đồng bộ
hơn trong công tác quản lý nhà nước góp phần hoàn thiện khung
pháp luật và công tác quản lý nhà nước về ATTP.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Từ thực tiễn và cơ sở lý luận để đánh giá tổng thể thực trạng,
từ đó xây dựng những giải pháp liên quan đến công tác quản lý về
ATTP nhằm thực hiện thống nhất, đồng bộ và đạt hiệu quả; tác giả
mong muốn nghiên cứu này sẽ quản lý nhà nước tốt hơn; các tổ
chức, cá nhân sản xuất kinh doanh thực hiện tốt các chủ trương ,
chính sách của Đảng pháp luật của nhà nước về ATTP để đảm bảo
sức khỏe cho mọi người.
7. Cơ cấu
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục; luận văn có 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận quản lý nhà nước về an
toàn thực phẩm
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về an toàn thực
phẩm tại tỉnh Đồng Tháp
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về
an toàn thực phẩm.
của người tiêu dùng. Bốn là, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm pháp
5
luật về vệ sinh ATTP đối với những tổ chức, cá nhân sản xuất kinh
doanh không đảm bảo chất lượng an toàn cho sức khỏe người sử
dụng. Năm là, vai trò không thể thiếu của quản lý nhà nước về ATTP
là việc đảm bảo lợi ích quốc gia, dân tộc. Sáu là, đề ra quy hoạch, kế
hoạch tổng thể, đáp ứng những cân đối lớn của toàn bộ nền kinh tế,
tránh hiện tượng đầu tư dàn trải..
1.3. Nội dung quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
Nhà nước quản lý về ATTP thông qua việc ban hành các văn
bản pháp luật về cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước từ Trung
ương đến địa phương; thực hiện phân công, phân cấp và phối hợp
giữa các bộ, ngành và địa phương; thanh tra, kiểm tra, xử lý những
trường hợp vi phạm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm.Những
nội dung cụ thể trong quản lý nhà nước về ATTP:
Một là, quản lý ATTP trong sản xuất, kinh doanh, vận
chuyển, bảo quản thực phẩm tươi sống trong chăn nuôi, giết mổ, vận
chuyển, bày bán, kiểm dịch động vật, kiểm tra vệ sinh thú y đối với
động vật và sản phẩm động vật. Hai là, Quản lý ATTP trong xuất
khẩu, nhập khẩu thực phẩm Bộ Nông nghiệp và PTNT đã hỗ trợ các
doanh nghiệp giải quyết các rào cản kỹ thuật các thị trường nhập
khẩu, duy trì và mở rộng thêm các thị trường mới.Ba là, quản lý
ATTP trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm việc cấp giấy chứng
nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP đối với cơ sở chế biến, kinh doanh
thực phẩm, cấp giấy tiếp nhận bản công bố hợp quy, giấy xác nhận
phù hợp quy định ATTP. Bốn là, quản lý ATTP đối với thực phẩm
biến đổi gen Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Thông tư số
02/2014/TT-BNNPTNT ngày 24/01/2014 quy định trình tự, thủ tục
đổi gen, muối và các nông sản thực phẩm khác. Bộ Nông nghiệp và
PTNT quản lý ATTP đối với các dụng cụ, vật liệu bao gói, chứa
đựng thực phẩm trong quá trình sản xuất, chế biến, kinh doanh thực
7
phẩm thuộc lĩnh vực được phân công quản lý. Bộ Công thương được
giao trách nhiệm quản lý ATTP trong suốt quá trình sản xuất, sơ chế,
chế biến, bảo quản, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, kinh doanh
đối với các loại rượu, bia, nước giải khát, sữa chế biến, dầu thực vật,
sản phẩm chế biến bột, tinh bột và các sản phẩm khác theo quy định
của Chính phủ. Tại các địa phương theo luật ATTP trách nhiệm quản
lý nhà nước về ATTP thuộc về UBND các cấp.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về an
toàn thực phẩm tại Đồng Tháp
1.5.1. Yếu tố pháp luật
Từ khi Luật ATTP năm 2010 có hiệu lực thì công tác quản lý
nhà nước về ATTP đã từng bước đi vào ổn định và đạt được những
kết quả nhất định. Bên cạnh Luật ATTP hệ thống các Nghị định,
Thông tư liên tịch, Thông tư đã được ban hành và thực thi.
1.5.2. Yếu tố nhận thức
Làm thế nào để nâng cao nhận thức của chính người tiêu
dùng, để họ thực sự thấy vấn đề ATTP là cần thiết và sẵn sàng trả
tiền nhiều hơn cho các sản phẩm an toàn hơn. Ý thức của người tiêu
dùng là quan trọng nhất trong việc lựa chọn thực phẩm an toàn. Bên
cạnh việc cần thường xuyên theo dõi thông tin trên báo, đài, tivi để
nắm các thông tin thì việc chủ động lựa chọn thực phẩm sạch và kiên
quyết nói không đối với những thực phẩm không an toàn gây hại đến
chính sức khỏe người tiêu dùng là góp phần xây dựng an toàn cho xã
hội và bảo vệ sức khỏe cho mọi người.
biến nông lâm sản và thủy sản nhằm làm tăng sản lượng cây trồng,
vật nuôi, giảm chi phí, tăng lợi nhuận cho tổ chức cá nhân trong hoạt
động sản xuất, kinh doanh.Tuy nhiên, trên thực tế vì mục đích lợi
9
nhuận các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh đã sử dụng hóa
chât, chất phụ gia vượt quá giới hạn cho phép. Các cơ quan quản lý
nhà nước về ATTP khi kiểm tra muốn phát hiện ra các tổ chức, cá
nhân sản xuất, kinh doanh có sử dụng hóa chất, chất cấm phải dùng
đến các máy móc thiết bị trong hoạt động kiểm nghiệm , xét nghiệm,
phân tích các hàm lượng sử dụng hóa chất, tồn dư thuốc bảo vệ thực
vật , chất cấm, chất phụ gia được sử dụng trong sản xuất, kinh doanh,
thực phẩm. Việc áp dụng các máy móc thiết bị hiện đại trong các
phòng kiểm nghiệm sẽ giúp các cơ quan quản lý về ATTP phân tích
được hầu hết các chỉ số về ATTP theo quy định của quốc tế.
10
Chương 2
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN TOÀN THỰC
PHẨM TẠI TỈNH ĐỒNG THÁP
2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về an
toàn thực phẩm tại Đồng Tháp
2.1.1. Yếu tố kinh tế - xã hội
Đồng Tháp là một tỉnh nằm ở miền Tây Nam Bộ, thuộc vùng
Đồng bằng sông Cửu Long. Tỉnh Đồng Tháp nằm ở cửa ngõ của
sông Tiền, có đường biên giới giáp với Campuchia có chiều dài hơn
50 km với 4 cửa khẩu, trong đó có 2 cửa khẩu quốc tế là Thường
phương của các ngành Y tế, Nông nghiệp và PTNT, Công thương
đến hết tháng 12 năm 2016 cụ thể sau:
Ngành Y tế (Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm) có tổng số
biên chế công chức chuyên trách là 13 người. Cấp Huyện, Thị xã,
Thành phố: Trung tâm Y tế, Y tế - Dân số có 48 biên chế chuyên
trách. Cấp xã, phường, thị trấn có 144 người kiêm nhiệm, không có
công chức chuyên trách.Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
có 22 người (Chi cục Quản lý chất lượng nông lâm sản và Thủy sản
18 người, Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật 04 người). Có 04
công chức kiêm nhiệm (Chi cục Chăn nuôi và Thú y). Cấp Huyện,
Thị xã, Thành phố: có 48 người kiêm nhiệm (Phòng kinh tế - Kinh tế
hạ tầng 24 người, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 12
người, Trạm Chăn nuôi và Thú y 12 người), không có công chức
chuyên trách. Cấp xã, phường, thị trấn: Không có công chức chuyên
trách và kiêm nhiệm. Ngành Công Thương chỉ có 01 công chức
chuyên trách và 64 công chức kiêm nhiệm (Chi cục Quản lý thị
trường). Cấp Huyện, Thị xã, Thành phố: có 24 người kiêm nghiệm
(Phòng Kinh tế- Kinh tế hạ tầng). Cấp xã, phường, thị trấn không có
12
công chức chuyên trách và kiêm nhiệm (theo số liệu báo cáo số
289/BC-UBND ngày 14 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban nhân dân
tỉnh Đồng Tháp).Hiện nay, tại địa phương các cơ quan tham mưu
cho Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện Quản lý nhà nước về ATTP có
03 ngành Ngành Y tế, Ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
và ngành Công thương. Công tác quản lý nhà nước về ATTP là sự
phối hợp liên ngành thực hiện theo quy định tại Thông tư liên tịch
theo Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT
ngày 09 tháng 4 năm 2014 của Bộ Y Tế - Bộ Nông nghiệp và Phát
ương.
Các văn bản do Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành tập
trung chỉ đạo triển khai hoạt động bảo đảm ATTP trong các dịp lễ,
Tết, tháng hành động ATTP,... Ủy ban nhân dân tỉnh luôn quan tâm
chỉ đạo thực hiện công tác quy hoạch nông nghiệp trên địa bàn trong
đó có sản xuất kinh doanh thực phẩm với 05 ngành hàng trọng tâm
của đề án tái cơ cấu nông nghiệp là lúa, cá tra, xoài, hoa kiểng,
vịt.Việc thực hiện nội dung các văn bản chỉ đạo điều hành của Ủy
ban nhân dân tỉnh được các Sở, Ban ngành, UBND Huyện, thị xã,
thành phố kịp thời được quán triệt và triển khai thực hiện tại các đơn
vị và địa phương trong toàn tỉnh. Hệ thống tổ chức quản lý ATTP tại
tỉnh được hình thành trong đó ngành Y tế có Chi cục an toàn vệ sinh
thực phẩm, các khoa an toàn vệ sinh thực phẩm thuộc Trung tâm Y
tế, Y tế - Dân số tuyến huyện và viên chức không chuyên trách tại
Trung tâm Y tế tuyến huện, thị xã, thành phố; ngành Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn có Chi cục Quản lý chất lượng Nông lâm sản và
Thủy sản, Chăn nuôi và Thú y, Thủy sản và các công chức tại Phòng
kinh tế, Kinh tế hạ tầng, Phòng nông nghiệp của các huyện, thị xã,
14
thành phố; ngành Công thương có 01 công chức chuyên trách tại
Phòng An toàn và Môi trường thuộc Sở Công Thương. Thực hiện
Thông tư liên tịch số 13 /2014/TTLT-BYT-BNNPTNT-BCT ngày
09/4/2014 của Bộ Y Tế, Bộ Nông nghiệp và PTNT và Bộ Công
Thương công tác phối hợp giữa ba ngành Y tế, Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn đã hạn chế sự chồng chéo trong quản lý nhà nước về
ATTP. Công tác truyền thông được đẩy mạnh theo yêu cầu mục tiêu
kế hoạch đã đề ra góp phần nâng cao nhận thức của người dân về
ATTP.
biến sâu rộng cho các hộ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ ăn uống, bếp
ăn tập thể và người dân về Luật ATTP để tạo sự ủng hộ , đồng tình
của toàn xã hội.
2.2.5. Tổ chức bồi dưỡng, cấp giấy xác nhận kiến thức, cấp
giấy chứng nhận an toàn thực phẩm cho tổ chức, cá nhân
Từ năm 2011 đến năm 2016 toàn Tỉnh quản lý 12.122 cơ sở,
cá nhân, tổ chức sản xuất kinh trong đó đã cấp giấy xác nhận kiến
thức ATTP cho 10.904 tổ chức, cá nhân tham gia xác nhận kiến thức,
cấp chứng nhận đủ điều kiện ATTP cho 4.738 tổ chức cá nhân. Cụ
thể ngành Y tế quản lý 7.809 tổ chức, cơ sở, cá nhân sản xuất kinh
doanh nước uống đóng chai, sản xuất nước đá, kinh doanh thực
phẩm chức năng, kinh doanh dịch vụ ăn uống đã cấp 7.042 giấy xác
nhận kiến thức ATTP, 3.366 giấy chứng nhận đủ điều kiện ATTP;
ngành Công Thương quản lý 3.209 tổ chức, cơ sở, cá nhân sản xuất
kinh doanh bia, rượu, cồn và đồ uống có cồn, nước giải khát, sữa chế
biến, dầu thực vật, bột, tinh bột, bánh mứt, kẹo đã cấp 2.666 giấy xác
nhận kiến thức cho tổ chức, cá nhân và 543 giấy chứng nhận cơ sở
đủ điều kiện ATTP; ngành Nông nghiệp quản lý 1.104 tổ chức, cơ
sở, cá nhân sản xuất kinh doanh động vật, sản phẩm động vật, rau củ
16
quả, thủy sản đã cấp 836 giấy xác nhận kiến thức ATTP và 836 giấy
chứng nhận cơ sở đủ điều kiện ATTP cho tổ chức, cơ sở cá nhân.
2.2.6. Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về an
toàn thực phẩm
Tăng cường trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP ở các
cấp thông qua hoạt động thanh tra, kiểm tra kịp thời phát hiện ngăn
chặn xử lý các trường hợp vi phạm về ATTP, hạn chế ngộ độc thực
phẩm và các bệnh truyền qua thực phẩm. Trong 05 năm từ năm 2011
Chính phủ, Bộ , ngành Trung ương ban hành ngày càng hoàn thiện
hơn đã tạo hành lang pháp lý để kiểm soát chất lượng ATTP bước
đầu đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước về chất lượng ATTP và hội
nhập quốc tế. Công tác thanh kiểm tra, giám sát ATTP được đẩy
mạnh giúp ngăn chặn, xử lý nhiều vụ vi phạm ATTP góp phần đảm
bảo an toàn cho thị trường thực phẩm. Bộ máy quản lý nhà nước về
ATTP được kiện đoàn, đặc biệt ở tuyến huyện; từ huyện đến tuyến
xã đã thành lập Ban chỉ đạo liên ngành về ATTP. Công tác phối hợp
liên ngành trong quản lý nhà nước về ATTP được thuận lợi, những
vấn đề phát sinh được các ngành bàn bạc thống nhất giải quyết, việc
phân định chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với từng
ngành.
2.3.2. Những tồn tại, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về
ATTP tại địa phương còn có những hạn chế, bất cập như việc chậm
ban hành hoặc đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật của
Trung ương chưa đồng bộ, còn xảy ra sự chồng chéo
Đối với ngành nông nghiệp và PTNT quy chuẩn kỹ thuật
một số tiêu chuẩn về sản phẩm an toàn như giá đỗ, nấm,... chậm
được ban hành gây khó khăn, giảm hiệu quả khi phát hiện, truy xuất,
xử phạt, khắc phục vi phạm ATTP tại địa phương.
18
Đối với ngành Công Thương: một số lĩnh vực chưa được
hướng dẫn đầy đủ như việc quản lý ATTP đối với các chợ, siêu thị,
cơ sở kinh doanh thực phẩm nhỏ lẻ, cơ sở sản xuất theo thời vụ...,
gây khó khăn trong công tác quản lý.
2.3.3. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng quản lý nhà nước
về an toàn thực phẩm
vệ thực vật, thuốc Thú y, chế phẩm xử lý, cải tạo môi trường giả,
kém chất lượng, không an toàn. Sắp xếp lại công tác tổ chức bộ máy
theo hướng kiện toàn Chi cục An toàn thực phẩm, Chi cục Quản lý
chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản tại các tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương .Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đặc biệt
tăng cường xử phạt vi phạm ở các tuyến cơ sở, công khai tên, địa chỉ,
sản phẩm, cơ sở vi phạm để mang tính răn đe. Đẩy mạnh công tác
thông tin, giáo dục truyền thông đặc biệt là truyền thông thay đổi
hành vi.
3.2. Những giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước về an toàn thực phẩm
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật quản lý nhà nước về an toàn
thực phẩm
Bộ Y tế đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương trình
Chính phủ, Quốc hội, Trung ương Đảng nhiều văn bản QPPL về
ATTP. Về cơ bản , hệ thống văn bản QPPL đồng bộ, đảm bảo quản
20
lý ATTP giữa các Bộ, ngành, địa phương để không bỏ sót cũng như
chồng chéo, đặc biệt Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BYTBNNPTNT-BCT ngày 09/4/2014 giữa Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương hướng dẫn việc phân công,
phối hợp trong quản lý nhà nước về ATTP trên nguyên tắc 01 doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh nhiều mặt hàng do các Bộ quản lý thì
giao 01 Bộ để tránh chồng chéo. Không để tình trạng 03 bộ quản lý
như hiện nay. Tại tuyến tỉnh, thành phố thành lập cơ quan đầu mối
có thể là Ban ATTP trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, Đẩy
mạnh vai trò và trách nhiệm quản lý nhà nước về ATTP của cấp
chính quyền quận, huyện, và nhất là tuyến xã, phường. Rà soát lại
toàn bộ các văn bản ATTP đã ban hành để loại bỏ các văn bản trái
ATTP. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát hậu kiểm, phát hiện
sớm xử lý nghiêm, công khai các vi phạm về ATTP và kiểm soát
ATTP đối với thực phẩm nhập lậu, thực phẩm không rõ nguồn gốc,
xuất xứ lưu thông trên thị trường.
3.2.4. Đẩy mạnh hoạt động truyền thông, tuyên truyền,
giáo dục về an toàn thực phẩm cho tổ chức, cá nhân sản xuất
kinh doanh và người tiêu dùng
Cần tăng cường hơn nữa công tác thông tin tuyên truyền về
ATTP, đặc biệt là truyền thông thay đổi hành vi trong sản xuất, tiêu
dùng thực phẩm. Công tác truyền thông cần tập trung vào các nội
dung những vấn đề tồn tại, yếu kém trong quản lý, sản xuất, kinh
doanh, chế biến thực phẩm.
Tăng cường các hoạt động truyền thông vận động nhằm tạo
sự đồng thuận ủng hộ và tham gia của lãnh đạo Đảng, Nhà nước,
chính quyền các cấp, các tổ chức chính trị - xã hội, các bộ ngành liên
22
quan trong việc xây dựng phổ biến và thực thi các chính sách của
Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước về ATTP.
3.2.5. Xã hội hóa hoạt động quản lý nhà nước về an toàn
thực phẩm
Ban hành chính sách, danh mục và lộ trình xã hội hóa đối với các
loại hoạt động trong lĩnh vực quản lý ATTP, hoàn thiện cơ chế quản
lý, đánh giá, công nhận các cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực
quản lý ATTP. Đẩy mạnh xã hội hóa một số khâu dịch vụ kỹ thuật
phục vụ công tác quản lý ATTP; phát huy vai trò của các doanh
nghiệp, các tổ chức xã hội, các tổ chức đoàn thể trong việc tham gia
bảo đảm ATTP. Từng bước xã hội hóa các hoạt động đánh giá,
chứng nhận, kiểm nghiệm, xét nghiệm thực phẩm phục vụ quản lý