BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN HỒNG QUÂN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ AN TOÀN THỰC
PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - NĂM 2017
1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN HỒNG QUÂN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ AN TOÀN THỰC
bạn bè đồng nghiệp.
Nhân dịp luận văn được hoàn thành, bằng tấm lòng thành kính và biết ơn sâu
sắc, em xin được bày tỏ tới TS. Trịnh Đức Hưng- Khoa quản lý nhà nước về Xã hội,
Học viện Hành chính Quốc gia, người hướng dẫn khoa học trong quá trình em
nghiên cứu, xây dựng và hoàn thành luận văn; Ban Giám đốc Học viện Hành chính
và các thầy cô Khoa Sau đại học; các giảng viên đã giảng dạy và tạo điều kiện
thuận lợi cho em trong suốt khóa học. Đồng thời, bày tỏ lòng biết ơn đối với sự giúp
đỡ, tạo điều kiện từ lãnh đạo Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Vĩnh Phúc,
lãnh đạo Trung tâm Y tế thị xã Phúc Yên, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã
quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ em trong suốt khóa học.
Mặc dù đã cố gắng hết mình trong quá trình hoàn thành luận văn, song là
lần đầu tiên nghiên cứu một đề tài thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước đang được cả xã
hội quan tâm, một nội dung mới, rộng lớn liên quan tới nhiều ngành,nhiều lĩnh vực
có tính lý luận cao, do vậy không thể tránh khỏi thiếu sót, hạn chế. Rất mong nhận
được sự góp ý tận tình của các thầy cô trong Hội đồng Chấm luận văn, các đồng
nghiệp và những người quan tâm tới đề tài.
Trân trọng cảm ơn./.
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Hồng Quân
4
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 9
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ AN TOÀN
THỰC PHẨM
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài ................................................................... 15
BVTV
An toàn thực phẩm
An toàn vệ sinh thực phẩm
Bảo vệ thực vật
GAP
Thực hành nông nghiệp tốt
GDP
Tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Product)
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
GMP
Thực hành sản xuất tốt
GHP
Thực hành vệ sinh tốt (Good Hygiene Practice)
GLP
Thực hành tốt phòng thí nghiệm (Good laboratory Practice)
Quy phạm pháp luật
QLNN
Quản lý nhà nước
TBVTV
Thuốc bảo vệ thực vật
TCVN
Tiêu chuẩn kĩ thuật
UBND
Uỷ ban nhân dân
VBHC
Văn bản hành chính
VBQPPL
Văn bản quy phạm pháp luật
VIETGAP
Quy định của Việt Nam về thực hành sản xuất nông nghiệp tốt
7
DANH MỤC
CÁC SƠ ĐỒ MINH HỌA
Sơ đồ 2.1. Bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc hiện nay ....................................................................................................... 68
Sơ đồ 3.1. Kiện toàn mới tổ chức bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước về
an toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc .......................................................... 100
8
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài luận văn
An toàn thực phẩm có vai trò rất quan trọng, nó không chỉ ảnh hưởng một
cách trực tiếp, thường xuyên đến sức khỏe và tính mạng con người mà về lâu dài
còn ảnh hưởng tới chất lượng nòi giống dân tộc. Bên cạnh đó, ATTP còn liên quan
chặt chẽ đến năng suất, hiệu quả phát triển kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh
xã hội. Ngày nay, ATTP còn trở thành một trong những tiêu chí quan trọng để đáng
giá mức độ phát triển của một quốc gia hay một vùng lãnh thổ nhất định.
Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động QLNN về ATTP còn gặp nhiều khó khăn,
thách thức. Các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm phần lớn có quy mô nhỏ lẻ,
tính tự phát cao, thiếu quy hoạch dẫn tới việc kiểm soát chất lượng ATTP trở nên
khó khăn. Nhiều hành vi tiêu cực trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm ngày càng
trở nên phúc tạp, khó kiểm soát, có thể kể tới như: Sử dụng sai quy trình, liều lượng
các loại phụ gia thực phẩm, hóa chất bảo quản, thuốc kháng sinh, TBVTV, thuốc
kích thích tăng trưởng trong nuôi, trồng, sản xuất, chế biến thực phẩm; sử dụng các
hóa chất bị cấm hoặc không rõ nguồn gốc xuất xứ, không đảm bảo chất lượng trong
học, đặc biệt các nhà nghiên cứu quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau. Nhiều
công trình nghiên cứu chuyên sâu QLNN về ATTP ở phạm vi trong nước đã được
công bố trên các sách, báo, tạp chí và luận văn... Có thể kể đến những nghiên cứu
tiêu biểu như:
Tài liệu chuyên khảo: “Quản lý an toàn thực phẩm” chủ biên: Phạm Ngọc
Khái, Đại học Y Thái Bình, Thái Bình, năm 2011. Tài liệu đã đưa ra nhiều nội dung
như: Ô nhiễm thực phẩm; NĐTP, các biện pháp phòng ngừa NĐTP; đảm bảo điều
kiện ATTP đối với dịch vụ ăn uống, bếp ăn tập thể… Tuy nhiên, các nội dung tài
liệu đề cập phần lớn là những nội dung mang tính chất chuyên môn, chưa có nhiều
nội dung QLNN về ATTP.
Tài liệu chuyên khảo: “Thanh tra an toàn thực phẩm” chủ biên: Trần Quang
Trung, Cục An toàn thực phẩm, Hà Nội, năm 2014. Tài liệu đã đưa ra các nội dung
như: Nội dung cơ bản về thanh tra; thanh tra ATTP về công bố hợp quy, công bố
phù hợp quy định ATTP; thanh tra ATTP về ghi nhãn sản phẩm thực phẩm; thanh
tra ATTP về quảng cáo thực phẩm; thanh tra ATTP về điều kiện ATTP; thanh tra
ATTP về thực phẩm nhập khẩu; xử lý vi phạm hành chính về ATTP… Tuy nhiên,
các nội dung tài liệu đưa ra chỉ xoay quanh nội dung hoạt động thanh tra về ATTP.
Tài liệu chuyên khảo: “Truyền thông an toàn thực phẩm tại cộng đồng” chủ
10
biên: Lê Văn Bào, Hoàng Hải, Học viện Quân y, Hà Nội, 2013. Tài liệu đã đề cập
tới những nội dung như: Quan điểm, chiến lược về ATTP của Đảng và Nhà nước
Việt Nam; tầm quan trọng của công tác truyền thông ATTP tại cộng đồng; những
kiến thức cơ bản về ATTP phục vụ công tác truyền thông ATTP tại cộng đồng…
Tuy nhiên, những nội dung tài liệu đề cập chỉ xoay quanh nội dung truyền thông
cộng đồng về ATTP.
Đề tài: “Thể chế quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với
hàng nông sản ở Việt Nam”, tác giả: Đào Thế Anh, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
QLNN về ATTP của tỉnh Vĩnh Phúc.
Luận văn thạc sĩ quản lý công: “Quản lý nhà nước về chất lượng vệ sinh an
toàn thực phẩm ở Việt Nam từ góc nhìn cải cách hành chính”, tác giả: Trương Thị
Thúy Thu, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2003. Luận văn đã góp phần làm
sáng tỏ về mặt lý luận và thực tiễn QLNN về VSATTP ở Việt Nam dưới góc độ cải
cách hành chính. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về chất
lượng VSATTP ở Việt Nam. Luận văn có ý nghĩa nhất định đối với lý luận và thực
tiễn của QLNN về ATTP cấp trung ương ở Việt Nam, tuy nhiên chưa có nhiều ý
nghĩa đối với thực tiễn QLNN về ATTP đối với từng địa phương cụ thể, trong đó có
tỉnh Vĩnh Phúc.
Luận văn thạc sĩ quản lý công: “Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm ở
Việt Nam hiện nay”, tác giả: Vũ Thanh Hoa, Học viện Hành chính Quốc gia, năm
2011. Luận văn đã hệ thống hóa kiến thức liên quan tới QLNN về ATTP, chỉ ra chủ
thể, khách thể, nội dung của hoạt động QLNN về ATTP; đánh giá thực trạng QLNN
về ATTP ở Việt Nam; đề xuất các mục tiêu, phương hướng, giải pháp nhằm tiếp tục
hoàn thiện QLNN về ATTP ở Việt Nam. Tuy nhiên, Luận văn chỉ tập trung vào
QLNN về ATTP ở cấp trung ương.
Các tài liệu nghiên cứu trên đây đã góp phần làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn
đối với hoạt động QLNN về ATTP. Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên biệt đối với hoạt động QLNN về ATTP trên
địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một
cách toàn diện và chuyên biệt về “Quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc” dưới góc độ quản lý công, có ý nghĩa nhất định về lý luận và
thực tiễn đối với địa phương.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
12
13
- Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ là những bổ sung quan trọng vào lý
luận quản lý công; góp phần làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt
Nam đối với QLNN về ATTP. Bên cạnh đó, góp phần nâng cao nhận thức về vai
trò, sự cần thiết của việc đảm bảo ATTP đối với xã hội và QLNN về ATTP.
- Luận văn là đóng góp quan trọng vào hệ thống tài liệu tham khảo cho các
nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý, các nhà nghiên cứu và các đối tượng
khác quan tâm…
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Về mặt thực tiễn, Luận văn có những ý nghĩa như sau:
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động QLNN về
ATTP của Cục An toàn thực phẩm- Bộ Y tế, các cơ quan QLNN về ATTP trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Đồng thời, phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy
và học tập tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành về hành chính, QLNN, ATTP.
- Áp dụng các giải pháp sẽ nâng cao hiệu quả của hoạt động QLNN về
ATTP, góp phần phát triển kinh tế- xã hội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo
và phụ lục, nội dung của Luận văn được kết cấu thành 03 chương, bao gồm:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.
Chương 2: Thực trạng an toàn thực phẩm và quản lý nhà nước về an toàn
thực phẩm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Chương 3: Quan điểm và các giải pháp kiện toàn quản lý nhà nước về an
toàn thực phẩm trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
14
pháp nhân công pháp (công quyền) tiến hành bằng các VBQPPL để thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn nhà nước giao cho trong việc tổ chức và điều
chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân.” [13, tr. 62]. Theo đó, QLNN là
một dạng quản lý đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước, do các cơ quan trong bộ
máy nhà nước thực hiện, lấy pháp luật làm công cụ quản lý chủ yếu nhằm duy trì sự
ổn định và phát triển của xã hội, thoả mãn các nhu cầu hợp pháp của nhân dân. Như
vậy, QLNN có thể được hiểu là hoạt động của nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp,
hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại của nhà nước.
Từ việc tìm hiểu, nghiên cứu các khái niệm quản lý nhà nuớc của các học
giả, các nhà nghiên cứu như trên, có thể đưa ra khái niệm chung về QLNN như sau:
Quản lý nhà nước là sự tác động của nhà nước lên các đối tượng quản lý của
nhà nước, bao gồm: Các tổ chức, cơ quan, các cán bộ, công chức, viên chức của
nhà nước và các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội một cách thường xuyên, liên
tục để đạt được những mục tiêu mà nhà nước đề ra đó là ổn định và phát triển xã
hội.
* Khái niệm thực phẩm
“Thực phẩm” là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến, có thể hiểu: “Thực
phẩm là đồ làm món ăn nói chung, phân biệt với lương thực.” [40, tr. 1555].
Khái niệm về thực phẩm cũng có thể được hiểu là bất kỳ vật phẩm nào có
thành phần bao gồm các chất: Đường- bột (gluxit), chất béo (lipit), chất đạm
(protit), các chất vi lượng (vitamin, khoáng chất… ), nước mà con người có thể ăn,
uống được với mục đích cung cấp năng lượng, nước, các chất dinh dưỡng nhằm
nuôi dưỡng, duy trì sự tồn tại và vận động của cơ thể. Thực phẩm có nguồn gốc từ
thực vật, động vật, vi sinh vật hay là các sản phẩm chế biến từ các phương pháp
khác nhau.
Khái niệm thực phẩm được thu hẹp hơn tại Khoản 20, Điều 2, Luật ATTP
số: 55/2010/QH12 ngày 17/6/2010, Quốc hội khóa 12, theo đó, thực phẩm là: “Sản
phẩm mà con người ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản”
Hiểu theo nghĩa rộng, ATTP là toàn bộ những vấn đề cần xử lý liên quan đến
việc đảm bảo vệ sinh đối với thực phẩm nhằm đảm bảo cho sức khỏe của người tiêu
dùng. Theo nghĩa hẹp, ATTP là khái niệm dùng để mô tả việc xử lý, chế biến, bảo
17
quản và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp phòng ngừa, phòng chống
bệnh tật do thực phẩm gây ra. ATTP cũng bao gồm một số thói quen, thao tác trong
khâu chế biến cần được thực hiện để tránh các nguy cơ sức khỏe tiềm năng nghiêm
trọng.
An toàn thực phẩm cũng được hiểu là tất cả những điều kiện, biện pháp cần
thiết từ nuôi trồng sản xuất, chế biến, bảo quản, phân phối, vận chuyển cũng như sử
dụng nhằm đảm bảo cho thực phẩm sạch sẽ, an toàn, không gây hại cho sức khỏe,
tính mạng người tiêu dùng. Vì vậy, thực hiện ATTP là công việc đòi hỏi sự tham
gia của nhiều ngành có liên quan đến thực phẩm như nông nghiệp, công thương, y
tế.. và đặc biệt là người tiêu dùng, các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
Theo một cách hiểu khác, ATTP là khả năng không gây ngộ độc của thực
phẩm đối với con người khi sử dụng.
Tại Khoản 1, Điều 2, Luật ATTP số: 55/2010/QH12 ngày 17/6/2010, Quốc
hội khóa 12, đưa ra khái niệm về ATTP: “Là việc đảm bảo để thực phẩm không gây
hại tới sức khỏe, tính mạng con người”.
Như vậy, có thể hiểu, ATTP là một hệ thống những nguyên tắc và điều kiện
được đưa ra thực hiện nhằm đảm bảo thực phẩm không gây hại tới sức khỏe, tính
mạng con người. Hệ thống các nguyên tắc và điều kiện này bao gồm các quy định,
quy trình, QCVN, TCVN trong nuôi trồng, sản xuất, chế biến, kinh doanh, bảo
quản, vận chuyển và sử dụng thực phẩm.
* Khái niệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
Từ những khái niệm đã được làm rõ ở trên, có thể đưa ra khái niệm QLNN về
ATTP:
Qua những cách tiếp cận như trên, dưới góc độ hành chính và để phù hợp với
nhu cầu của Luận văn, có thể rút ra khái niệm tổ chức QLNN: Là hệ thống các cơ
quan QLNN và việc sắp xếp, thiết kế, cơ cấu hệ thống các cơ quan QLNN nhằm
thực hiện các quy định pháp luật trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
* Khái niệm kiểm tra
Có thể hiểu: “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét.”
[38, tr. 523]. Như vậy, theo cách tiếp cận này, kiểm tra là sự xem xét thực tế từ đó
đưa ra đánh giá, nhận xét của bất kỳ một cá nhân nào trong xã hội đối với bất cứ
một hoạt động nào xem những diễn biến có diễn ra đúng với quy tắc đã xác lập và
19
các mệnh lệnh đã ban hành hay không. Chủ thể kiểm tra có thể là các cơ quan nhà
nước hoặc cũng có thể là một chủ thể phi nhà nước, chẳng hạn như hoạt động kiểm
tra của một tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội (Đảng, Công đoàn, Mặt trận
Tổ quốc, Đoàn Thanh niên…), hoạt động kiểm tra của nội bộ doanh nghiệp: Kiểm
tra của giám đốc đối với các phòng ban, kiểm tra của quản đốc đối với người lao
động.
Đồng thời, cũng có thể hiểu: “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đưa ra
đánh giá, nhận xét. Là hoạt động của cơ quan quản lý, của thủ trưởng cấp trên đối
với cán bộ thuộc quyền, cấp dưới về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.
Hoạt động kiểm tra có thể được thực hiện dưới hai góc độ: Kiểm tra khi có vụ việc
xảy ra và kiểm tra thường xuyên như là chức năng của hoạt động quản lý.” [8, tr.
153].
Qua những cách tiếp cận và phân tích như trên, có thể hiểu, kiểm tra:
Là một chức năng có liên quan mật thiết với các chức năng quản lý khác,
đặc biệt là với chức năng kế hoạch hóa; nó cho phép các nhà quản lý biết được các
mục tiêu của tổ chức có đạt được hay không, hoặc đạt được như thế nào, cũng như
những nguyên nhân tạo nên tình hình đó, tạo ra sự linh hoạt trong hoạt động, vận
các quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Trong lĩnh vực QLNN về ATTP, thanh tra ATTP là thanh tra chuyên ngành,
do ngành y tế, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngành công thương thực
hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra.
1.2. Đặc điểm, sự cần thiết, các yếu tố ảnh hƣởng tới quản lý nhà nƣớc
về an toàn thực phẩm
1.2.1. Đặc điểm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
* Đặc điểm an toàn thực phẩm
Từ việc phân tích khái niệm ATTP và các khái niệm liên quan, có thể đưa ra
những đặc điểm của ATTP như sau:
Một là, an toàn thực phẩm đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp tới
sức khỏe người sử dụng. Nếu đảm bảo tốt ATTP, thực phẩm sẽ là nguồn cung cấp
chất dinh dưỡng cho sự tồn tại, phát triển của cơ thể, duy trì sức khỏe con người.
Tuy nhiên, thực phẩm không đảm bảo ATTP sẽ trở thành nguồn gây bệnh và ảnh
hưởng xấu tới sức khỏe con người. Sử dụng thực phẩm không được đảm bảo ATTP
21
có thể dẫn tới NĐTP cấp tính với các triệu chứng dễ nhận thấy, nguy hiểm hơn, sự
tích lũy lâu ngày các yếu tố độc hại trong cơ thể con người khi sử dụng thực phẩm
không đảm bảo ATTP có thể gây ra các bệnh nan y khó chữa, đặc biệt, về lâu dài
còn có thể gây ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe giống nòi.
Hai là, việc xác định ATTP là một việc khó khăn: Để xác định được thực
phẩm đảm bảo ATTP không thể chỉ sử dụng qua cảm quan trực tiếp mà cần phải có
những thiết bị, máy móc chuyên dụng thông qua những thao tác, quy trình phức tạp
đòi hỏi nhiều điều kiện kĩ thuật cao. Đồng thời, người được giao nhiệm vụ xác định
thực phẩm an toàn cũng phải đảm bảo những tiêu chuẩn nhất định về trình độ
chuyên môn và phải được đào tạo chuyên biệt.
Ba là, an toàn thực phẩm có tính chất phổ biến chung: Tính phổ biến chung
thịt lợn có thể bị nhiễm các yếu tố gây mất ATTP và kết quả cuối cùng là có thể gây
NĐTP cho người tiêu dùng.
* Phân tích các đặc điểm quản lý
Từ việc phân tích những đặc điểm của ATTP như trên, có thể đưa ra những
đặc điểm của QLNN về ATTP:
Một là, QLNN về ATTP là hoạt động đòi hỏi có sự phối hợp liên ngành.
Xuất phát từ việc thực phẩm trước khi tới tay người tiêu dùng phải đi qua rất nhiều
các công đoạn như: Nuôi trồng, đánh bắt - thu hoạch, sản xuất - chế biến cho tới bảo
quản, vận chuyển do đó, để đảm bảo ATTP đòi hỏi phải có sự vào cuộc của nhiều
ngành liên quan trong hoạt động QLNN về ATTP. Ở Việt Nam hiện nay, hoạt động
QLNN về ATTP được thực hiện trên cơ sở phối hợp giữa ba ngành chính đó là:
Ngành y tế, ngành nông nghiệp và ngành công thương, bên cạnh đó còn có sự tham
gia của một số ngành khác có liên quan như: Công an, môi trường, thông tin truyền thông, tài chính… Sự phối hợp liên ngành là cần thiết và tất yếu trong
QLNN về ATTP trong tình hình hiện nay.
Hai là, QLNN ở Việt Nam hiện nay là một hoạt động khó khăn: Xuất phát từ
nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chủ yếu làm theo phong tục, tập quán cũ, việc sản
xuất lương thực, thực phẩm của Việt Nam chủ yếu thực hiện ở quy mô hộ gia đinh,
nhỏ lẻ, phân tán và thiếu quy hoạch. Bên cạnh đó, trình độ sản xuất còn chưa cao,
tâm lý thực dụng trong kinh doanh dẫn đến việc sử dụng tràn lan, thiếu kiểm soát,
sai quy trình, không đúng liều lượng, nồng độ đối với các loại hóa chất và phụ gia
23
trong nuôi trồng, sản xuất, kinh doanh thực phẩm như: Chất kích thích tăng trưởng,
chất bảo quản, TBVTV, phụ gia ngoài danh mục... vẫn còn khá phổ biến. Đồng
thời, nền kinh tế của Việt Nam hiện nay đang có tốc độ phát triển nhanh, tất yếu dẫn
tới đô thị hóa nhanh tại nhiều địa phương có điều kiện thuận lợi, cùng với việc hình
thành nhanh chóng các khu công nghiệp đã và đang gây ra nhiều tác động tiêu cực
tới môi trường, ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc đảm bảo ATTP trong nuôi, trồng,
là bệ phóng, là điểm tựa vững chắc cho hoạt động đảm bảo ATTP phát huy hiệu lực
và hiệu quả. Do đó, việc tạo lập môi trường thuận lợi cho hoạt động đảm bảo ATTP
được thực hiện một cách có hiệu quả là một trong những vai trò quan trọng của
QLNN về ATTP.
Những môi trường chính, cần thiết để hoạt động đảm bảo ATTP phát huy
hiệu quả:
- Môi trường pháp lý: Là tổng thể các yếu tố luật định về ATTP được nhà
nước thiết lập ra, buộc các cá nhân, tập thể và toàn cộng đồng tuân theo nhằm thực
hiện mục tiêu ATTP toàn xã hội. Môi trường pháp lý về ATTP càng rõ ràng, chính
xác, bình đẳng càng phát huy được hiệu quả của hoạt động đảm bảo ATTP và bảo
vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng.
- Môi trường văn hoá- xã hội: Môi trường văn hoá được tạo nên bởi các quan
niệm về giá trị, nếp sống, phong tục, tập quán, các yếu tố truyền thống và thói quen.
Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ xã hội giữ người với người do luật
lệ, các thể chế, các cam kết, các quy định của pháp luật, các quy định của các tổ
chức, các cơ quan, các vùng miền và các quốc gia... Môi trường văn hoá- xã hội ảnh
hưởng lớn tới tâm lý, thái độ, hành vi và nhu cầu của con người. Do đó, dưới góc độ
quản lý toàn xã hội, nhà nước cần tạo lập một môi trường văn hoá- xã hội vừa phù
hợp với các yếu tố truyền thống, phong tục tập quán của riêng từng vùng, miền, địa
phương vừa đảm bảo tác động tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức, hành vi,
nhu cầu về thực phẩm và ATTP của toàn xã hội.
- Môi trường kĩ thuật: Là không gian khoa học công nghệ bao gồm các yếu
tố về số lượng, tính chất và trình độ của các ngành liên quan tới ATTP; các yếu tố
về nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất, chế biến,
cung ứng thực phẩm, dịch vụ thực phẩm và quản lý ATTP...
Để thực hiện tốt vai trò tạo lập môi trường thuận lợi cho hoạt động đảm bảo
25