THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ NINH TỈNH QUẢNG NAM - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ THU THỦY

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHỤ NỮ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN PHÚ NINH TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ THU THỦY

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHỤ NỮ
PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN PHÚ NINH TỈNH QUẢNG NAM

Ngành: Chính sách công
Mã số: 834.04.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ HẰNG

HÀ NỘI, năm 2019


Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam ...................................................................................... 51
CHƯƠNG 3. ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TẠI
HUYỆN PHÚ NINH TỈNH QUẢNG NAM ......................................................... 58
3.1. Định hướng, mục tiêu thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT tại huyện Phú
Ninh tỉnh Quảng Nam .............................................................................................. 58
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT
tại huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam ....................................................................... 62
3.3. Kiến nghị và đề xuất ......................................................................................... 68
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ KH&ĐT

Bộ Kế hoạch và đầu tư

Bộ KH&CN

Bộ Khoa học và công nghệ

CN- TTCN

Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

CLB

Câu lạc bộ


Phát triển kinh tế nông nghiệp

THT/HTX

Tổ hợp tác/Hợp tác xã

TM&DV

Thương mại và dịch vụ

TMDV

Thương mại dịch vụ

TTCN-TMDV

Tiểu thủ công nghiệp, thương mại dịch vụ

UBND

Uỷ ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

bảng
2.1

2.2

Cơ cấu kinh tế huyện Phú Ninh năm 2018

42

2.3

2.4

Biến động cơ cấu kinh tế huyện Phú Ninh trong giai đoạn 20152018
Kết quả đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động nữ (phi
nông nghiệp) từ năm 2015 đến năm 2018

42

49


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ cổ chí kim, phụ nữ luôn là nhân tố và lực lượng quan trọng nằm trong đội
ngũ những người lao động tạo dựng nên các giá trị của đời sống kinh tế - xã hội.
Trong đời sống hiện đại, người phụ nữ có vai trò to lớn, họ không những là người
bà, người mẹ, người vợ, người con, giữ vai trò cầu nối tình cảm trong gia đình mà
họ còn đảm đương được nhiều vị trí quan trọng ngoài xã hội. Để xây dựng gia đình
hạnh phúc, phải bắt đầu từ người phụ nữ. Người Việt Nam có câu “Đàn ông xây
nhà, đàn bà xây tổ ấm”, nhằm đề cao vai trò của người phụ nữ trong việc xây dựng
một gia đình bền vững. Hiện nay, phụ nữ trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói
riêng đã tham gia vào hầu như tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội.

Phú Ninh là một huyện một huyện đồng bằng, nằm ở phía đông tỉnh Quảng
Nam, nhân dân chủ yếu sống bằng nông nghiệp. Do đó các chính sách hỗ trợ phụ nữ
phát triển kinh tế trên địa bàn huyện Phú Ninh chủ yếu là trong lĩnh vực nông
nghiệp, nhằm phát huy thế mạnh vốn có của địa phương.
Vì những lý do kể trên, tác giả lựa chọn đề tài “Thực hiện chính sách hỗ trợ
phụ nữ phát triển kinh tế trên địa bàn huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam” làm đề
tài luận văn tốt nghiệp, nhằm tìm hiểu về thực trạng thực hiện các chính sách hỗ trợ
phụ nữ phát triển kinh tế đặt biệt là phụ nữ trên lĩnh vực nông nghiệp và đề xuất
một số khuyến nghị góp phần nâng cao hiệu quả của các chính sách hỗ trợ phụ nữ
phát triển kinh tế trên địa bàn huyện phục vụ cho công việc sau này.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công ước CEDAW (1979) (tiếng Anh: Convention on the Elimination of all
Forms of Discrimination against Women, viết tắt là CEDAW) là Công ước về Xoá
bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc
phê chuẩn ngày 18/12/1979. Ngày 3/9/1981, công ước này bắt đầu có hiệu lực với
tư cách một văn kiện quốc tế tổng hợp nhất về quyền con người của phụ nữ.
Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ký tham gia công ước vào
29/7/1980 phê chuẩn vào 27/11/1981. Theo Ông Jesper Morch, Quyền Điều phối
viên thường trú của Liên Hiệp Quốc (LHQ) tại Việt Nam cho biết, trong 30 năm
qua, Công ước CEDAW đã có ảnh hưởng sâu sắc và tích cực đến công cuộc phát

2


triển luật pháp, chính trị- xã hội ở các nước, những điều khoản của công ước đã
được sử dụng làm công cụ mạnh mẽ để tạo cơ sở thiết lập pháp luật nhằm bảo vệ
quyền con người của phụ nữ.
Các chính sách của Đảng và Nhà nước ngày càng quan tâm đến phụ nữ như
chính sách việc làm đối với lao động nữ, chế độ thai sản, nuôi con nhỏ,… chính
sách xã hội, chính sách việc làm, chính sách vay vốn,…

tiêu quốc gia xây dựng NTM, đến ngày 23 tháng 10 năm 2018 Ủy Ban nhân dân
tỉnh Quảng Nam ban hành Quyết định số 3180/QĐ-UBND về việc điều chỉnh bổ
sung một số nội dung Bộ tiêu chí “khu dân cư nông thôn mới kiểu mẫu” trên địa bàn
tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016-2020 ban hành kèm theo Quyết định 2363 QĐUBND Ngày 26 tháng 7 năm 2016 của UBND tỉnh Quảng Nam.
Quyết định số: 4396/QĐ-UBND ngày 18 tháng 12 năm 2017 của UBND tỉnh
Quảng Nam về việc phê duyệt kế hoạch thực hiện “Hệ sinh thái khởi nghiệp đổi
mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2018-2025”, với định hướng và phát triển
hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tế của tỉnh.
Ngoài ra có một số nghiên cứu liên quan đến nội dung đề tài, đó là vai trò của
phụ nữ:
Theo tạp chí Cộng sản: “Chính sách đối với phụ nữ nông thôn trong thời kỳ
công nghiệp hoá”, ngày 22/10/2010 đã chỉ ra phụ nữ nông thôn có vai trò hết sức
quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp, nông thôn trong quá trình đô thị hóa,
công nghiệp hóa đất nước. Là một lực lượng chủ yếu trong nông nghiệp và chiếm
đông đảo trong nguồn nhân lực của đất nước, nhưng phụ nữ nông thôn còn gặp
nhiều khó khăn so với nam giới nông thôn và phụ nữ đô thị. Chính vì vậy, cần có
những quan tâm hợp lý đến phụ nữ nông thôn.
Tác phẩm: “Phụ nữ nông thôn với việc phát triển ngành nghề phi NN”, năm
1998; và “Việc làm - đời sống của phụ nữ trong chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam, năm
1999 của tác giả Lê Thi”. Các nghiên cứu này có nội dung khẳng định vai trò của
phụ nữ sinh sống và làm việc tại nông thôn đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu lao
động, nghề nghiệp và phát triển ngành nghề phi nông nghiệp ở nông thôn.
Trong nghiên cứu “vai trò của người phụ nữ nông thôn trong công nghiệp
hóa, hiện đại hóa” năm 2001 của tác giả Hoàng Bá Thịnh đã phân tích vai trò của
người phụ nữ nông thôn trong Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, đặc biệt

4


nhấn mạnh vai trò của phụ nữ đối với chuyển dịch cơ cấu ngành nghề trong khu vực



- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT trên địa bàn
huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam trong những năm gần đây.
- Đề xuất các giải pháp tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT trên
địa bàn huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các chính sách hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đối với địa phương huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam với hơn 50% phụ nữ
sống bằng nông nghiệp đời sống còn nhiều khó khăn do việc làm không ổn định,
thu nhập thấp dẫn đến ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới và sự phát triển chung của
huyện và là một thách thức đặt ra đối với chính quyền và các cấp Hội phụ nữ trên
địa bàn huyện, vì vậy đề tài tập trung nghiên cứu chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế
nói chung của phụ nữ trong đó tập trung nghiên cứu chính sách trên lĩnh vực nông
nghiệp nhằm tổng hợp, thống kê xem vấn đề này xem vấn đề này thực hiện tại địa
phương mình để đề xuất giải pháp thực hiện chính sách và giải pháp thực hiện trong
thời gian tới.
- Phạm vi nội dung:
Một là, xây dựng cơ sở lý luận về thực hiện chính hỗ trợ phụ nữ PTKT.
Hai là, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT trên địa
bàn huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam trong những năm gần đây.
Ba là, đưa ra các đề xuất và giải pháp tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ phụ
nữ PTKT trên địa bàn huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2015 đến nay, năm 2015 huyện Phú Ninh tỉnh
Quảng Nam được công nhận là huyện nông thôn mới, nên có đầy đủ các điều kiện
thuận lợi về cơ sở vật chất để phát triển kinh tế nông nghiệp và tập trung đầu tư
nâng chuẩn các tiêu chí xây dựng nông thôn mới và xây dựng khu dân cư nông thôn
mới kiểu mẫu.

kinh tế ở địa phương.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3
chương, gồm:

7


Chương 1: Một số vấn đề lý luận thực tiễn cơ bản về thực hiện chính sách hỗ
trợ phụ nữ PTKT
Chương 2: Thực trạng và một số vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện chính
sách hỗ trợ phụ nữ PTKT tại huyện Phú Ninh tỉnh Quảng Nam
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách
hỗ trợ phụ nữ PTKT tại huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.

8


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN THỰC TIỄN CƠ BẢN VỀ THỰC
HIỆN CHÍNH HỖ TRỢ PHỤ NỮ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
1.1. Lý Luận về chính sách hỗ trợ phụ nữ PTKT
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1. Phụ nữ là gì?
Phụ nữ là từ chỉ giống cái của loài người, phụ nữ chỉ một người trưởng thành,
con gái chỉ đến trẻ gái nhỏ hay mới lớn. Bên cạnh đó từ phụ nữ, đôi khi dùng để chỉ
đến một con người giống cái, bất kể tuổi tác, như là trong nhóm từ “quyền phụ nữ”
(tức quyền nữ giới hay quyền phụ nữ, là các quyền lợi bình đẳng giới được khẳng
định là dành cho phụ nữ và trẻ em gái trong nhiều xã hội trên thế giới). Ở Việt Nam
trong từng thời kỳ, các quy định về quyền con người, quyền công dân và quyền của

nay, việc không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người là một nỗ lực
của các nhà nước (Chính phủ), xã hội và cả cộng đồng quốc tế).
Việc làm: Theo bộ luật lao động Điều 13: “Mọi hoạt động tạo ra thu nhập,
không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”. Theo Bách khoa toàn thư
mở Wikipedia việc làm hay công việc là một hoạt động được thường xuyên thực
hiện để đổi lấy việc thanh toán hoặc tiền công, thường là nghề nghiệp của một
người. Một người thường bắt đầu một công việc bằng cách trở thành một nhân viên,
người tình nguyện, hoặc bắt đầu việc buôn bán. Thời hạn cho một công việc có thể
nằm trong khoảng từ một giờ (trong trường hợp các công việc lặt vặt) hoặc cả đời
(trong trường hợp của các thẩm phán). Nếu một người được đào tạo cho một loại
công việc nhất định, họ có thể có một nghề nghiệp. Tập hợp hàng loạt các công việc
của một người trong cả cuộc đời là sự nghiệp của họ.
Tạo việc làm là quá trình tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất; số
lượng và chất lượng sức lao động và các điều kiện kinh tế xã hội cần thiết khác để
kết hợp tư liệu sản xuất và sức lao động.
1.1.1.3. Nông nghiệp là gì?
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Nông nghiệp là ngành sản xuất vật
chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây
trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương

10


thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một
ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế
nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản.
Phát triển kinh tế nông nghiệp là quá trình lớn lên về mọi mặt của nền kinh tế
nông nghiệp trong một thời kỳ nhất định. PTKT nông nghiệp theo những khía cạnh
sau: Phát triển sức sản xuất trong nông nghiệp; Phát triển phân công lao động trong
nông nghiệp; Nâng cao dân trí; Giải quyết tốt vấn đề môi trường.

từng thời kỳ, (hiện nay Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ
Tướng Chính phủ).
- Điều kiện vay vốn: Cư trú hợp pháp tại địa phương; Có tên trong danh sách
hộ nghèo của xã theo chuẩn hộ nghèo do Bộ Lao động Thương Binh và xã hội công
bố từng thời kỳ; Là thành viên của tổ Tiết kiệm và vay vốn; hộ vay không phải thế
chấp tài sản, được miễn phí thủ tục vay vốn và người đại diện hộ gia đình đứng tên
vay vốn phải chịu trách nhiệm trong quan hệ vay vốn và trả nợ Ngân hàng.
- Mục đích sử dụng vốn vay: Phục vụ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và một
phần nhu cầu thiết yếu trong sinh hoạt về sửa chữa nhà ở, điện thắp sáng, nước sạch
và học tập của con em hộ nghèo đang theo học tại các trường phổ thông.
- Mức cho vay tối đa: 50 triệu đồng .
- Lãi suất cho vay: Theo quy định của Thủ tướng Chính phủ từng thời
kỳ (Hiện nay là 0,55%/tháng).
2. Cho vay hộ cận nghèo theo Quyết định số 15/2013/QĐ-TTg ngày
23/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ
- Đối tượng được vay vốn: Hộ cận nghèo theo quy định của Thủ tướng Chính
phủ từng thời kỳ (hiện nay, thực hiện Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày
19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ).
- Điều kiện vay vốn: Cư trú hợp pháp tại địa phương; Có tên trong danh sách
hộ cận nghèo của UBND cấp xã xác nhận theo chuẩn hộ cận nghèo được Thủ tướng
Chính phủ quy định từng thời kỳ; Là thành viên của tổ tiết kiệm và vay vốn; Hộ vay
không phải thế chấp tài sản và được miễn phí thủ tục vay vốn.
- Mục đích sử dụng vốn vay: Đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.
- Phương thức cho vay: Cho vay trực tiếp có ủy thác một số nội dung công
việc cho các tổ chức Hội, đoàn thể.

12


- Mức cho vay tối đa: 50 triệu đồng.



lao động, có xác nhận của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nơi thực hiện dự án; Cư
trú hợp pháp tại địa phương nơi thực hiện dự án.
- Mức cho vay:
+ Đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh: Tối đa là 01 tỷ đồng/01 dự án và không
quá 50 triệu đồng/01 lao động được tạo việc làm.
+ Đối với người lao động: Tối đa là 50 triệu đồng.
- Lãi suất cho vay: Bằng lãi suất vay vốn đối với hộ nghèo theo từng thời kỳ
do Thủ tướng Chính phủ quy định;
* Các trường hợp sau đây được vay vốn với mức lãi suất bằng 50% lãi suất
cho vay vốn theo quy định nêu trên:
+ Người lao động là người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, người khuyết tật;
+ Hộ gia đình vay vốn cho người lao động mà người lao động là người dân tộc
thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn,
người khuyết tật;
+ Cơ sở sản xuất, kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người
khuyết tật hoặc là người dân tộc thiểu số hoặc là người khuyết tật và người dân tộc
thiểu số.
5. Cho vay các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài
- Đối tượng:
+ Đối tượng là người lao động thuộc hộ nghèo, người dân tộc thiểu số.
+ Cho vay đối với người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo Nghị định số
61/2015/NĐ-CP ngày 09/7/2015 của Chính phủ về chính sách hỗ trợ tạo việc làm
và Quỹ quốc gia về việc làm.
+ Cho vay đi làm việc ở nước ngoài đối với người lao động bị thu hồi đất theo
QĐ số 63/2015/QĐ-TTg ngày 10/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ.
+ Cho vay để ký quỹ đối với người lao động đi làm việc tại Hàn Quốc theo
Chương trình cấp phép việc làm cho lao động nước ngoài của Hàn Quốc

về thực hiện Chính sách khuyến khích thoát nghèo bền vững giai đoạn 2014-2015.
Nghị quyết 13/2017/NQ-HĐND ngày 18 tháng 4 năm 2017 về chính sách khuyến
khích thoát nghèo bền vững tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2017-2021. Nghị quyết

15


14/2018/NQ-HĐND ngày 19 tháng 7 năm 2018 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng
Nam quy định một số mức chi từ ngân sách nhà nước hỗ trợ thực hiện chương trình
mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, giai đoạn 2018-2020 trên địa bàn tỉnh.
* Ba là, chính sách đào tạo nghề
Quyết định số 971/QĐ-TTg ngày 1/7/2015 cuả Thủ tướng Chính phủ đã sửa
đổi, bổ sung Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 về Đào tạo nghề cho lao
động nông thôn đến năm 2020 theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả của đào
tạo nghề. Theo Quyết định 971/TTg: ”Sau đào tạo, ít nhất 80% số người học có việc
làm mới hoặc tiếp tục làm nghề cũ nhưng năng suất, thu nhập cao hơn”. Đối tượng
được tham gia học nghề là lao động nông thôn từ đủ 15 tuổi đến 60 tuổi (đối với
nam), 55 tuổi (đối với nữ), đảm bảo sức khỏe và có trình độ học vấn phù hợp với
nghề cần học, bao gồm: Những người lao động có hộ khẩu thường trú tại xã,
phường, thị trấn đang trực tiếp làm nông nghiệp hoặc hộ gia đình có đất nông
nghiệp bị thu hồi.
Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành Nghị quyết số 12/2016/NQHĐND tháng 7 năm 2016 quy định về cơ chế hỗ trợ đào tạo lao động cho chương
trình, dự án trọng điểm và các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn
2016-2020. Quyết định số 46/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 28
tháng 9 năm 2015 quy định chính sách hỗ trợ đào tạo trình độ sơ cấp. Qua đó chính
sách đào tạo nghề hiện nay ở Quảng Nam đi đôi nhu cầu tuyển dụng của các doanh
nghiệp đã đồng thời bổ sung chính sách hỗ trợ tiền giữ trẻ cho người lao động nữ
sau học nghề theo Cơ chế bắt đầu tham gia làm việc tại doanh nghiệp đang có con
nhỏ dưới 60 tháng với mức hỗ trợ: 300.000 đồng/trẻ/tháng; thời gian hỗ trợ tối đa
24 tháng. Cho phép người lao động sau học nghề có thể vào làm việc tại các doanh

Trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng năm 1930 đã khẳng định “Nam, nữ bình
quyền”, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định vai trò vị trí của phụ nữ Việt Nam
trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, Bác luôn căn dặn các cấp uỷ Đảng, các cơ
quan, đơn vị phải quan tâm chăm lo công tác phụ nữ, đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ,
vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Gần 90 năm qua, quan điểm đó luôn được quán
triệt trong các văn kiện, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng qua các thời kỳ.
Ngày 10/01/1967, Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 152-

17


NQ/TW về một số vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận, chỉ rõ: “Tư tưởng
phong kiến đối với phụ nữ còn tồn tại khá sâu sẳc trong một số cán bộ, đảng viên,
kể cả cán bộ lãnh đạo. Thể hiện rõ nhất tư tưởng hẹp hòi, “trọng nam khinh nữ”,
chưa tin vào khả năng lãnh đạo và khả năng quản lý kinh tế của phụ nữ, chưa thấy
hết khó khăn trở ngại của phụ nữ…”
Chỉ thị số 44- CT/TW ngày 7/6/1984 của Ban Bí thư về một số vấn đề cấp
bách trong công tác cán bộ nữ chỉ rõ: “Nhiều cấp uỷ Đảng và lãnh đạo các ngành
buông lỏng việc chỉ đạo thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ nữ…còn tư tưởng phong kiến, coi thường phụ nữ, đối xử thiếu công
bằng với chị em…”; “Các trường lớp đào tạo, bồi dưỡng trong nước và ngoài nước,
khi chiêu sinh cần quy định tỷ lệ nữ một cách thoả đáng;…Các trường lớp tập trung
cần tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo để chị em có con nhỏ gửi cháu”….
Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư Trung Ương Đảng về
một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới khẳng định: “Cần xây dựng
Chiến lược đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng lao động nữ nói chung và cán bộ nữ nói
riêng…”.
Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: “Đối với
phụ nữ, thực hiện tốt luật pháp và chính sách bình đẳng giới, bồi dưỡng, đào tạo
nghề nghiệp, nâng cao học vấn; có cơ chế, chính sách để phụ nữ tham gia ngày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status