VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ QUANG HẠT
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH THỦ TỤC
HÀNH CHÍNH THEO MÔ HÌNH MỘT CỬA
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THĂNG BÌNH,
TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN BÙI NAM
HÀ NỘI, năm 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công: “Thực hiện chính sách cải cách thủ
tục hành chính theo mô hình một cửa từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh
Quảng Nam” là hoàn toàn trung thực, các thông tin trích dẫn có nguồn gốc rõ
ràng và không trùng lắp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này./.
Tác giả luận văn
3.1. Phương hướng đẩy mạnh thực hiện chính sách cải cách thủ tục hành
chính theo mô hình một cửa trên địa bàn huyện Thăng Bình ......................... 52
3.2. Những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh thực hiện chính sách cải cách thủ
tục hành chính theo mô hình một cửa trên địa bàn huyện Thăng Bình .............. 55
3.3. Những kiến nghị nhằm đẩy mạnh thực hiện chính sách cải cách thủ tục
hành chính theo mô hình một cửa trên địa bàn huyện Thăng Bình ................ 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay, đất ngước ta đang trong quá trình hội nhập
quốc tế sâu rộng. Công tác cải cách hành chính có vai trò hết sức quan trọng
trong việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, năng động,
trách nhiệm, phục vụ nhân dân, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì mục tiêu xây
dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Xuất phát từ vai trò quan trọng của công tác cải cách hành chính, Đảng
và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp quyết liệt trong chỉ đạo thực
hiện công tác cải cách hành chính. Ngày 08/11/2011, Chính phủ đã ban hành
nghị quyết số 30c/NQ-CP, ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính
nhà nước giai đoạn 2011 - 2020 và đã đạt được những kết quả quan trọng trên
tất cả các lĩnh vực: từ công tác cải cách thể chế, cải cách thủ tục hành chính, cải
cách bộ máy, xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên
chức, cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền hành chính. Đặc biệt, công
tác cải cách thủ tục hành chính đã đạt được những kết quả bước đầu, đã loại bỏ
những thủ tục rườm rà, không còn phù hợp với thực tiễn, phù hợp với thông lệ
quốc tế, giảm phiền hà cho người dân và doanh nghiệp đến giao dịch.
Song, bên cạnh đó vẫn còn tình trạng: các thủ tục hành chính chồng chéo
đăng trên các tạp chí chuyên ngành cũng đề cập, phân tích các vấn đề về cải
cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa; các giải pháp thực hiện như:
Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành chính ở Việt Nam, Nxb Chính
Quốc gia, Hà Nội; Hà Quang Ngọc (2010), Điều chỉnh một số hoạt động của
chính quyền địa phương đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, Tạp chí Cộng
sản 9/2010; Hoàng Quang Đạt (2011), Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính
theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số
6/2011; Lê Đình Lung (2011), Sự chỉ đạo của Đảng về cải cách hành chính
trong những năm đầu thời kỳ đổi mới, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 12/2011;
Lưu Thị Thủy (2016), Thực hiện chính sách cải cách hành chính từ thực tiễn
huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội; Nguyễn Văn Thâm (2011), Cải cách
2
hành chính và những kinh nghiệm về bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính quyền
cơ sở, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 9/2011…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu khoa học, các tác phẩm sách,
báo đã phản ánh rất nhiều góc độ khác nhau về cơ sở lý luận thực hiện chính
sách về cải cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa của cả nước nói
chung và ở địa phương nói riêng. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình
nào nghiên cứu trực tiếp về thực hiện chính sách cải cách thủ tục hành chính
theo mô hình một cửa trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Do
vậy, tác giả chọn nội dung này làm luận văn thạc sỹ của mình, đề tài có tính
kế thừa một số kết quả nghiên cứu đã công bố, kết hợp tổng hợp kết quả thực
tiễn tại địa phương để phân tích, đánh giá, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp
nhằm thực hiện có hiệu quả chính sách cải cách thủ tục hành chính trên địa
bàn huyện Thăng Bình.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích của luận văn: Trên cơ sở lý luận về thực hiện chính sách cải
- Phương pháp luận: Luận văn tập trung nghiên cứu các đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước ta về cải cách hành thủ
tục hành chính theo mô hình một cửa.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu dựa trên việc thu thập,
xử lý thông tin liên quan đến cải cách hành thủ tục hành chính theo mô hình
một cửa. Dựa trên các nguồn tài liệu sẳn có và phân tích, liên hệ thực tiễn các
vấn đề trên thực tiễn, tìm hiểu, đánh giá những mặt tích cực và hạn chế của
các đề tài nghiên cứu, các báo cáo, tài liệu liên quan đến việc thực hiện chính
sách cải cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa ở nước ta nói chung và
thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam nói riêng. Ngoài ra, luận văn sử
dụng kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê,...
6. Đóng góp mới và ý nghĩa luận văn
- Đóng góp mới: Qua kết quả nghiên cứu, luận văn góp phần khái quát
và làm rõ thêm về thực trạng thực hiện chính sách cải cách thủ tục hành chính
theo mô hình một cửa ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, đồng thời đề
4
xuất một số nội dung cơ bản nhằm thực hiện chính sách cải cách thủ tục hành
chính theo mô hình một cửa ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đáp ứng
nhiệm vụ trong tình hình mới hiện nay.
- Ý nghĩa: luận văn góp phần nâng cao nhận thức của người đọc về thực
hiện chính sách cải cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa, từ đó có
thể làm tài liệu quan trọng để cho cán bộ, công chức làm cơ sở để nghiên cứu
và vận dụng trong chỉ đạo và thực hiện nhằm tiếp tục tăng cường thực hiện
công tác cải cách hành chính trong thời gian đến. Đồng thời, luận văn là tư
liệu tham khảo hữu ích cho các cá nhân, tổ chức quan tâm đến việc thực hiện
chính sách cải cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa.
7. Kết cấu luận văn
những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không
hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra”
(William N.Dunn). “Chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay
không làm” (Thomas R.Dye, 1984), “Chính sách công là toàn bộ các hoạt
động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc
sống của mọi công dân” (B. Guy Peter). [16, tr8]
1.1.2. Mục đích chính sách công
“Chính sách công phải có ít nhất 3 mục đích: đó là một bộ phận thuộc
chính sách kinh tế và chính sách nói chung của các nước trên thế giới; Về mặt
6
kinh tế, chính sách công phản ánh và thể hiện các mặt hoạt động cũng như
quản lý đối với khu vực công, phản ánh việc đảm bảo hàng hóa, dịch vụ công
cộng cho nền kinh tế của các nước; Chính sách công là công cụ quản lý của
nhà nước, được nhà nước sử dụng để khuyến khích việc sản xuất, đảm bảo
hàng hóa, dịch vụ công cho nền kinh tế, quản lý nguồn nhân lực công một
cách có hiệu lực, hiệu quả thiết thực đối với cả chính trị, kinh tế, xã hội, môi
trường, cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn”. [18, tr9]
1.1.3. Chu trình chính sách công
“Là một chuỗi các giai đoạn kế tiếp nhau có liên quan từ khi lựa chọn
vấn đề chính sách đến khi kết quả của chính sách được đánh giá gồm: hoạch
định chính sách - xây dựng chính sách - thực hiện chính sách - đánh giá chính
sách. Các bước trong chu trình chính sách có mối liên hệ hữu cơ có sự tương
tác qua lại và bổ sung cho nhau, làm tốt, hiệu quả ở khâu này sẽ có tác động
tích cực đến khâu sau và ngược lại sẽ tác động tiêu cực”. [18, tr9]
1.1.4. Thực thi chính sách công
“Là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành
hiện thực. Nếu chính sách không được đưa vào thực hiện nó trở thành vô
một mục tiêu nhất định được xác định bởi cơ quan có thẩm quyền, không làm
thay đổi bản chất của hệ thống hành chính, mà chỉ làm cho hệ thống này trở
nên hiệu quả hơn, phục vụ nhân dân tốt hơn so với trước, chất lượng các thể
chế nhà nước đồng bộ, đi vào cuộc sống hơn, cơ chế hoạt động, chức năng,
nhiệm vụ của bộ máy, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm
việc trong các cơ quan nhà nước sau khi tiến hành cải cách hành chính đạt
hiệu quả, hiệu lực hơn, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế - xã hội của một quốc
gia”.[23]
“Chính sách cải cách hành chính tùy theo các yếu tố của từng thời kỳ,
giai đoạn của lịch sử, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước, có thể
đặt ra những tâm điểm khác nhau hướng tới hoàn thiện một hoặc một số nội
8
dung của nền hành chính, đó là thủ tục hành chính, tổ chức bộ máy, nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, cải cách thể chế pháp lý, hoặc tài chính
công, hiện đại hóa nền hành chính v.v. Nói đầy đủ thì phải gọi là cải cách
hành chính nhà nước. Thêm từ nhà nước vào là để phân biệt với cải cách hành
chính không chỉ diễn ra ở khu nhà nước, mà còn ở các tổ chức, cơ quan, nhất
là doanh nghiệp tư nhân, tức là khu vực tư nhân. Yếu tố quản trị, hành chính
trong các doanh nghiệp khu vực tư cũng đóng vai trò quan trọng trong hoạt
động của các doanh nghiệp và nếu không đổi mới, cải cách thì hoạt động của
doanh nghiệp sẽ bị ảnh hưởng, hiệu quả thấp”. [18, tr11]
Như vậy có thể hiểu: “Chính sách cải cách hành chính nhà nước là tạo
ra những sự thay đổi trong các yếu tố cấu thành của nền hành chính nhà nước
nhằm làm cho các cơ quan hành chính nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả
hơn, nhằm phục vụ người dân, doanh nghiệp, phục vụ xã hội được tốt
hơn”.[6, tr20]
1.2.2. Thủ tục hành chính
luật trong quá trình giải quyết các công việc của hoạt động quản lý hành
chính nhà nước”.
1.3. Cải cách thủ tục hành chính
1.3.1. Khái niệm
“Cải cách thủ tục hành chính là một bộ phận của cải cách hành chính
Nhà nước nhằm xây dựng và thực thi thủ tục hành chính theo những chuẩn
mực nhất định, đơn giản, gọn nhẹ, vận hành nhịp nhàng; hoạt động theo đúng
quy trình, thích ứng với từng loại đối tượng, từng loại công việc, phù hợp với
điều kiện thực tế và đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. Cải cách thủ tục hành chính là cải cách, đổi mới quá trình thực
hiện các thủ tục hành chính trong mối liên hệ tới quyền và nghĩa vụ của người
dân, doanh nghiệp và trong nội bộ cơ quan hành chính nhà nước”. [3, tr7]
Cải cách thủ tục hành chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng,
10
cần thiết trong tiến trình đổi mới, phát triển và hội nhập của nước ta. Điều này
đã được Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Đại hội XII “Tập trung cải cách
thủ tục hành chính theo hướng tinh giản, gắn với nâng cao chất lượng chính
sách, pháp luật; quy định rõ cơ quan chịu trách nhiệm đối với từng thủ tục
hành chính”. [28]
1.3.2. Nhu cầu cải cách thủ tục hành chính
“Cải cách thủ tục hành chính là nội dung quan trọng trong chương trình
tổng thể cải cách hành chính và đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước Việt
Nam. Từ thực tiễn cho thấy thủ tục hành chính ở nước ta còn nhiều hạn chế, bất
cập: đòi hỏi quá nhiều hồ sơ, thủ tục, quy trình rườm rà, gây nhiều phiền hà cho
nhân dân, nhiều cấp trung gian, không rõ ràng về quy trình, trách nhiệm của
từng cơ quan, đơn vị; không phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của thời kỳ đổi mới
và hội nhập quốc tế;” [26] “thủ tục hành chính trong một số lĩnh vực thiếu tính
chính để hoàn thành chương trình tổng thể cải cách nền hành chính Nhà nước
được Đảng và Nhà nước ta ưu tiên giải quyết.”
Mặt khác, công tác cải cách thủ tục hành chính sẽ góp phần xây dựng
một nền hành chính chuyên nghiệp, dân chủ, hoạt động hiệu lực, hiệu quả,
góp phần tích cực trong công cuộc phát triển đất nước và đấu tranh phòng
chống tham nhũng đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc
tế.
Do đó, có thể khẳng định công tác cải cách thủ tục hành chính ở nước
ta là một đòi hỏi cấp thiết, mang tính tất yếu khách quan nhất là trong giai
đoạn hội nhập quốc tế hiện nay.
1.3.3. Mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của cải cách thủ tục hành chính
Trước hết, cần phải nhận thức một cách đúng đắn về mục tiêu, yêu cầu
của công tác cải cách thủ tục hành chính trong giai đoạn hiện nay, từ đó giúp
chúng ta đưa ra được những giải pháp cụ thể phải để thực hiện trong chương
trình tổng thể cải cách hành chính. Tại Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành
12
Trung ương Đảng khoá XI đã nhấn mạnh “tập trung đẩy mạnh cải cách thủ
tục hành chính, xem đây là khâu đột phá để tạo điều kiện thuận lợi, minh
bạch cho hoạt động của người dân và doanh nghiệp. Tiến hành rà soát các
thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực, cần thiết phải loại bỏ những thủ
tục rườm rà, xét duyệt không cần thiết, những quy định không còn phù hợp để
sửa đổi, giảm phiền hà cho cho cá nhân và tổ chức, ngăn chặn được tệ quan
liêu, tham nhũng, cửa quyền, sách nhiễu”. [36] Do đó mục tiêu, yêu cầu đặt
ra cho công cuộc cải cách thủ tục hành chính ở nước ta trong giai đoạn hiện
nay là phải tạo ra được những thay đổi căn bản mang tính đột phá trong quan
hệ và giải quyết công việc của người dân và các tổ chức để từ đó mỗi người
dân, tổ chức khi tham gia vào các quan hệ này sẽ nhận thức được nghĩa vụ,
1.3.4. Cơ sở pháp lý của cải cách thủ tục hành chính
Trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc
tế sâu rộng. Công tác cải cách hành chính có vai trò hết sức quan trọng trong
việc xây dựng một nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, trách
nhiệm, phục vụ nhân dân, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, vì mục tiêu xây dựng
nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà Nước,
thời gian qua công tác cải cách hành chính đã góp phần quan trọng vào sự
nghiệp đổi mới phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Ngày 23/4/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định 61/2018/NĐ-CP về
thực hiện cơ chế một cửa, “một cửa liên thông” trong giải quyết thủ tục hành
chính (thủ tục hành chính). Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày
21/6/2018 và thay thế Quyết định số 09/2015/QĐ-TTg ngày 25 tháng 03 năm
2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa,
“một cửa liên thông” trong giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan hành
chính Nhà nước ở địa phương.
Như vậy, công tác cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản hóa
14
gắn với việc thực hiện mô hình một cửa đã từng bước được triển khai một
cách đồng bộ và mạnh mẽ trong quá trình thực hiện chương trình tổng thể cải
cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020. Đây thật sự là giải pháp
mang tính đột phá về cách thức làm việc của cơ quan hành chính nhà nước ở
các cấp, đồng thời tạo nên sự chuyển biến tích cực trong quan hệ giữa người
dân, doanh nghiệp với cơ quan hành chính nhà nước. Mặc khác, công tác hệ
thống hóa các thủ tục hành chính làm giảm chi phí, giảm phiền hà, giảm thời
gian, giảm công sức; đồng thời, thay đổi một bước về tổ chức của bộ máy nhà
nước và cải tiến, đổi mới quy chế làm việc và mối quan hệ công tác giữa các
quyền giải quyết hoặc liên thông giải quyết của Ủy ban nhân dân cấp huyện
và những thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của ủy ban nhân
dân cấp huyện hoặc liên thông giải quyết của các cơ quan theo hệ thống
ngành dọc cấp trên tại các địa phương theo sự chỉ đạo của Trung ương, của
Tỉnh, thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan chuyên
môn thuộc UBND cấp tỉnh và UBND xã, thị trấn được giao tiếp nhận tại cấp
huyện.
Nghị định số 61/2018/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 21/6/2018, đã tạo cơ
sở pháp lý đầy đủ cho việc triển khai mô hình một cửa, “một cửa liên thông”
trong giải quyết thủ tục hành chính hiệu quả từ Trung ương đến địa phương,
tăng cường chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp, bảo đảm sự gắn kết
chặt chẽ, đồng bộ giữa cải cách hành chính, cải cách thủ tục hành chính với
xây dựng chính phủ điện tử. Góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ công và
dịch vụ hành chính, từng bước đổi mới căn bản mối quan hệ giữa người dân,
doanh nghiệp với các cơ quan nhà nước theo hướng hành chính phục vụ, tạo
thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp đến giao dịch, làm việc với cơ quan
hành chính nhà nước. Mặc dù, công tác cải các thủ tục hành chính đã có
những bước chuyển mình đáng kể nhưng ở một số cơ quan, đơn vị, địa
phương kết quả giải quyết thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực cho người
16
dân, doanh nghiệp còn thấp so với yêu cầu đặt ra.
Trong quá trình thực hiện cải cách thủ tục hành chính, Chính phủ đã kịp
thời ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với từng giai đoạn
phát triển của đất nước để hoàn thiện hệ thống thể chế, giúp nâng cao hiệu
lực, hiệu quả cải cách thủ tục hành chính của nước ta. Các thủ tục hành chính
rườm rà định kỳ được kiểm tra, rà soát và bãi bỏ, trách nhiệm của đội ngũ cán
bộ công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước không ngừng được nâng
ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ đã đạt được nhiều kết quả tích cực.
Về cơ bản, các thủ tục hành chính trên các lĩnh vực quản lý nhà nước đã được
kiểm soát và đơn giản hóa, bước đầu được các cá nhân, tổ chức trong và ngoài
nước ghi nhận. Tuy nhiên, trước sự đòi hỏi phải nâng cao chất lượng công tác
xây dựng thể chế gắn theo dõi và thi hành pháp luật với công tác kiểm soát
thủ tục hành chính, bảo đảm việc thực hiện thống nhất công tác quản lý nhà
nước về kiểm soát thủ tục hành chính và có hiệu quả trên phạm vi toàn quốc.
Ngày 14 tháng 5 năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
48/2013/NĐ-CP về sửa đổi bổ sung Nghị định số 63/2010/NĐ-CP. Theo đó
Chính phủ đã chuyển giao nhiệm vụ kiểm soát thủ tục hành chính từ Văn
phòng Chính phủ sang Bộ Tư pháp theo dõi và thực hiện. Để triển khai thực
hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao, ngày 24 tháng 02 năm 2014, Bộ Tư pháp
ban hành Thông tư số 07/2014/TT-BTP hướng dẫn việc đánh giá tác động của
thủ tục hành chính và soát, đánh giá thủ tục hành chính. Theo đó Bộ Tư pháp
đã quy định cụ thể về trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước có
thẩm quyền trong đánh giá tác động của việc thực hiện các thủ tục hành
chính, rà soát, đánh giá các thủ tục hành chính; quy định chi tiết về quy trình
rà soát, đánh giá thủ tục hành chính, quy trình đánh giá tác động;[3]
Thực hiện Nghị định số 92/2017/NĐ-CP ngày 07/8/2017 của Chính
phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến kiểm soát
18
thủ tục hành chính (có hiệu lực từ ngày 25/9/2017). Theo đó, Chính phủ giao
chức năng kiểm soát thủ tục hành chính từ Bộ Tư pháp sang Văn phòng
Chính phủ. Việc chuyển giao này góp phần khắc phục những hạn chế trong
công tác kiểm soát thủ tục hành chính trong thời gian qua.
1.3.5. Cải cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa
Mô hình một cửa là cách thức đổi mới về phương thức làm việc của các
giải pháp đột phá góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh - quốc
phòng. Những năm qua, chúng ta đã từng bước tiến hành cải cách thủ tục
hành chính và gặt hái được nhiều kết quả nhất định.
Cải cách hành chính ở Việt Nam gồm: “cải cách thể chế, cải cách tổ
chức bộ máy hành chính, xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
công chức, viên chức, cải cách tài chính công và hiện đại hóa nền hành
chính”, trong đó cải cách thủ tục hành chính là một khâu quan trọng, đột phá
và được đặt ra ngay từ bước đầu tiên của quá trình cải cách thủ tục hành chính
liên quan đến các công việc trong nội bộ của từng cơ quan, đơn vị, một cấp
chính quyền, mà còn đến người dân, doanh nghiệp trong mối quan hệ với nhà
nước. [8]
Cải cách thủ tục hành chính là mục tiêu quan trọng mang tính đột phá,
hướng đến việc giải quyết tốt hơn các công việc của người dân, doanh nghiệp.
Nhằm tạo ra những thay đổi cơ bản trong quan hệ và thủ tục giải quyết công
việc giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa người dân, doanh nghiệp với
các cơ quan nhà nước.
1.4. Thực hiện chính sách cải cách thủ tục hành chính theo mô
hình một cửa
Sau khi chính sách cải cách thủ tục hành chính theo mô hình một cửa
được hoạch định, chính sách đó cần được thực thi trong cuộc sống. Đây là
giai đoạn tiếp theo trong cả quá trình chính sách sau giai đoạn hoạch định,
nhằm hiện thực hóa chính sách thành những hoạt động và kết quả trong thực
20
tiễn. Các cơ quan hành chính nhà nước sẽ hoạch định chính sách cải cách thủ
tục hành chính theo mô hình một cửa, cũng đồng thời sẽ tổ chức thực thi
chính sách trên thực tế.
Như vậy, thực hiện chính sách cải cách thủ tục hành chính theo mô