Thực hiện chính sách an sinh xã hội trên địa bàn thành phố đà nẵng - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ THỊ LỆ THỦY

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
AN SINH XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, Năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HÀ THỊ LỆ THỦY

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
AN SINH XÃ HỘI TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY

Chuyên ngành : Chính sách công
: 8340402
Mã số

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG



DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASXH

An sinh xã hội

BHXH

Bảo hiểm xã hội

BHYT

Bảo hiểm Y tế

HĐND

Hội đồng nhân dân

KT-XH Kinh tế - xã hội
MTTQ

Mặt trận tổ quốc

UBND

Ủy ban nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Số người tham gia BHYT từ năm 2010 đến năm 2016 ..................

ương Đảng về “Một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020”
khẳng định: Đến năm 2020 cơ bản hình thành hệ thống an sinh xã hội bao phủ
toàn dân với các yêu cầu: bảo đảm để người dân có việc làm, thu nhập tối
thiểu; tham gia bảo hiểm xã hội, bảo đảm hỗ trợ những người có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn (trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người cao tuổi thu thập thấp,
1


người khuyết tật nặng, người nghèo…), người có công với cách mạng; bảo
đảm cho người dân tiếp cận được các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu (y
tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch, thông tin giải trí), góp phần từng bước nâng
cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân
dân trên bình diện chung của đất nước. Trên cơ sở mục tiêu chung của Đảng
và chính sách pháp luật của Nhà nước, thành phố Đà Nẵng đã thực hiện chủ
trương, chính sách gắn các chương trình phát triển kinh tế với giải quyết các
vấn đề xã hội của thành phố.
Nghị quyết Đại hội lần thứ XXI của Đảng bộ thành phố Đà Nẵng đã
khẳng định: Trong thời gian tới việc phát triển văn hóa, giáo dục và các vấn
đề xã hội phải tương xứng với vị thế trung tâm kinh tế xã hội của khu vực
Miền Trung; nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân và tiếp tục
đầu tư hạ tầng cho ngành y tế. Phấn đấu đến năm 2020, toàn dân tham gia
BHYT trên địa bàn thành phố.Với việc phát động các chương trình, các phong
trong nổi bật như: “Thành phố 3 có”,“Thành phố 5 không” gắn các chương
trình, dự án này với hệ thống ASXH thành phố ở mọi cấp ngành. Trong giai
đoạn 2014-2018, với những định hướng mục tiêu về chương trình ASXH,
thành phố đã tập trung chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách, đối
tượng xã hội, hộ nghèo. Mục tiêu “không có hộ đặc biệt nghèo” cơ bản được
hoàn thành.Tính đến hết tháng 12/2017 thì trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã
có 990.573 người tham gia BHYT và theo quy định mới về chuẩn nghèo 2015
hiện nay trên địa bàn thành phố còn khoảng 6.594 hộ nghèo cần được quan

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hệ thống ASXH nói chúng, thực hiện chính sách ASXH không phải là
vấn đề mới.Nhưng với sự phát triển của kinh tế - xã hội cũng như quá trình
hội nhập trong mọi lĩnh vực của nước ta, thì việc nghiên cứu này luôn nhận
được sự quan tâm của nhiều tác giả, nhà khoa học. Dưới đây, tác giả giới
3


thiệu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu:
- Giáo trình và sách chuyên khảo
Tác giả Nguyễn Thị Lan Hương, Đặng Kim Chung, Lưu Quang Tuấn,
Nguyễn Bích Ngọc, Đặng Hà Thu (2013), với tác phẩm“Phát triển hệ thống
ASXH ở Việt Nam đến năm 2020”, thuộc Viện Khoa học Lao động và Xã hội
Việt Nam đã giới thiệu những vấn đề chung về ASXH như quan điểm của các
tác giả trong và ngoài nước, lịch sử hình thành và phát triển của hệ thống
chính sách ASXH. Đồng thời, nhóm tác giả cũng giới thiệu một số mô hình
ASXH trên thế giới, quan điểm của Việt Nam,các nội dung cơ bản của Nghị
quyết số 15-NQ/TW liên quan đến thực hiện ASXH, các kết quả đạt được,
những tồn tại hạn chế của chính sách ASXH hiện hành, cũng như các định
hướng chính sách cho giai đoạn từ nay đến năm 2020 đã được tác giả đề cấp
và giới thiệu đến người đọc [20].
Cuốn sách “Lý thuyết và mô hình ASXH” (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà
nội năm 2009) của Phạm Văn Sáng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn Huyền,
Nguyễn Anh Dũng. Cuốn sách trình bày những bất cập, xu hướng vận động,
kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và phát triển hệ thống ASXH, đồng thời
phân tích ASXH nhìn từ đối tượng thụ hưởng và những trụ cột chính trong an
sinh xă hội thực tiễn ở tỉnh Đồng Nai [27].
Tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn chủ biên (2000), với công trình khoa học
“Tiến bộ xã hội: Một số vấn đề lý luận cấp bách”, trong quá trình nghiên cứu
tác giả đã chỉ ra một số vấn đề có liên quan đến chính sách xã hội nói chung,

thu hồi đất sản xuất; phân tích và đánh giá chính sách việc làm cho nông dân
bị thu hồi đất trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; đề xuất một số giải pháp nhằm
hoàn thiện chính sách giải quyết việc làm cho nông dân bị thu hồi đất trên địa
bàn thành phố Đà Nẵng.
5


“Quản lý nhà nước về dạy nghề trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai
đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Văn An đã đánh giá thực trạng dạy nghề


Đà Nẵng; dự báo tình hình phát triển của lực lượng lao động, phát triển dạy

nghề và đề xuất các giải pháp phát triển dạy nghề đến năm 2020; kiến nghị
với các cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề thành phố Đà Nẵng với vai trò,
chức năng quản lý để phát triển dạy nghề trên địa bàn.
Đề tài“Phát triển hệ thống ASXH ở Việt Nam đến năm 2020” của
Nguyễn Thị Lan Hương - Viện khoa học Lao động và xã hội. Đề tài đưa ra
những vấn đề chung của ASXH, nguyên tắc xây dựng hệ thống ASXH, nhìn
nhận đánh giá tình hình thực hiện chính sách ASXH ở nước ta trong thời gian
qua. Đặc biệt đề tài đã đưa ra các mô hình hệ thống ASXH của một số nước
trên thế giới để từ đó người đọc có thể so sách đối với mô hình ASXH ở Việt
Nam và từ đó có thể nhận thấy những nét đặc thù riêng biệt trong hệ thống
ASXH ở nước ta. Ngoài ra, đề tài còn đưa ra những nhận định, mục tiêu
phương hướng thực hiện các chính sách ASXH ở nước ta đến năm 2020, để
người đọc có thể “hình dung” quá trình thực hiện ASXH trong thời gian tới,
có thêm thế giới quan sinh động về ASXH nói chung và ASXH ở Việt Nam
[21].
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu về chính sách công, chính sách xã hội
đã đề cập đến khái niệm, đặc điểm, vai trò và phân loại chính sách công; Cấu

của hệ thống ASXH như: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; chính sách bảo trợ
xã hội, ưu đãi người có công, thương bệnh binh, gia đình chính sách; dạy
nghề và giải quyết việc làm; xóa đói giảm nghèo, nhà ở xã hội và nhà ở thu
nhập thấp… Các kết quả nghiên cứu này là tài liệu tham khảo quý giá, để từ
đó tác giả có cái nhìn tổng quan trong việc phân tích thực trạng chính sách
ASXH ở thành phố Đà Nẵng.
Xuất phát từ lý do trên, tác giả chọn đề tài này làm luận văn thạc sĩ của
mình, luận văn có sự kế thừa hệ thống các lý luận về hệ thống ASXH, chính
7


sách ASXH, thực hiện chính sách ASXH… qua đó phát triển những thành quả
của các đề tài liên quan trước đó để phân tích và làm rõ thực trạng thực hiện
chính sách ASXH trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về thực hiện chính
sách ASXH; phân tích thực trạng thực hiện chính sách ASXH trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng, luận văn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng
cao hiệu quả việc thực hiện chính sách ASXH ở thành phố Đà Nẵng trong thời
gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện chính sách ASXH;
Thứ hai, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách ASXH; nêu rõ những
thành tựu và hạn chế, bất cập trong việc tổ chức thực hiện chính sách ASXH


thành phố Đà Nẵng;
Thứ ba, đề xuất các giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực


5.2. Phương pháp nghiên cứu
Thứ nhất, phương pháp thu thập dữ liệu: Đề tài thu thập các dữ liệu từ
các báo cáo của Thành phố, của các tổ chức, các sách chuyên khảo, đề tài,
luận án, luận văn, bài báo khoa học…
Thứ hai, phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu có sẵn liên quan đến
đề tài như: Văn kiện, báo cáo tổng kết, các nghiên cứu đã có…
Thứ ba, phương pháp so sánh: Số liệu và chỉ tiêu sẽ được phân nhóm và
so sánh nhằm chỉ ra những thành tựu đạt được và những hạn chế về kết quả
thực hiện.
Thứ tư, phương pháp thống kê mô tả: phương pháp nghiên cứu này
giúp cho tác giả luận văn tổng hợp và phân tích thống kê các tài liệu về thực
trạng công tác thực hiện chính sách ASXH các địa phương và của thành phố
Đà Nẵng. Trên cơ sở việc tổng hợp, phân tích và sử dụng các số liệu thống kê
mô tả mà có nhận thức đầy đủ, chính xác công tác quản lý nhà nước về vấn đề
9


ASXH và các nhân tố ảnh hưởng đến việc công tác thực hiện chính sách
ASXH ở thành phố Đà Nẵng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học chính sách công, quản lý công;
vai trò của việc thực thi hệ thống chính sách ASXH trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở nước ta cũng như sự phát triển KT-XH của thành
phố Đà Nẵng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở đánh giá, phân tích thực trạng tình hình thực hiện chính sách
ASXH trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; nhằm tiếp tục duy trì, phát huy những
ưu điểm trước đây, cách làm mới, hay mang lại hiệu quả thiết thực trong thực
hiện chính sách ở hiện tại.Đồng thời, luận văn góp phần khắc phục những tồn

hiện chính sách ASXH trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt
Nam.
Trong cuốn Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XII của Đảng, an sinh xã hội được quan niệm: ASXH là một
hệ thống chính sách của Nhà nước và là các giải pháp nhằm bảo vệ mức sống
tối thiểu của người dân, người gặp khó khăn trước những rủi ro và tác động
bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa không ngừng nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần cho nhân dân [26, tr.15].
Trong “Chiến lược ASXH giai đoạn 2011 - 2020” ghi nhận: “ASXH là
sự bảo đảm mà xã hội cung cấp cho mọi thành viên trong xã hội thông qua
việc thực thi hệ thống các cơ chế, chính sách và biện pháp can thiệp trước các
nguy cơ, rủi ro có thể dẫn đến suy giảm hoặc mất đi nguồn sinh kế”. [10]
Có nhiều cách tiếp cận để phân tích hệ thống cấu trúc của ASXH, tùy
11


thuộc vào mục đích, phương pháp tiến cận nghiên cứu để đưa ra được những
cấu trúc khác nhau:
Thứ nhất, những chính sách, chương trình phòng ngừa rủi ro xã hội cho
các đối tượng đặc biệt của xã hội. Đây là nền tảng trên cùng của hệ thống
ASXH, gồm những chính sách, chương trình về thị trường lao động tích cực
như đào tạonghề, hỗ trợ tìm việc hoặc tự tạo việc làm và đào tạo nâng cao kỹ
năng cho người lao động.
Thứ hai, những chính sách, chương trình ASXH giúp giảm thiểu rủi ro,
gồm các chiến lược giảm thiểu thiêt hại do rủi ro của hệ thống ASXH, các
hình thực biểu hiện của chính sách này là các loại hình bảo hiểm như BHXH,
BHYT, bảo hiểm thất nghiệp… Các loại hình bảo hiểm này giúp các đối
tượng có thể hưởng những chế độ cơ bản nhất của chính sách an sinh xã hội
trong trường hợp gặp những rủi ro của cuộc sống.
Thứ ba, những chính sách, chương trình của hệ thống ASXH hiện nay

Hệ thống chính sách ASXH là một trong những cấu phần, thành phần
quan trọng trong chương trình, chính sách xã hội, và là bộ phận của phát triển
kinh tế - xã hội của một quốc gia, địa phương và là công cụ quản lý nhà nước
thông qua hệ thống pháp luật, chính sách và chương trình ASXH.Chính sách
ASXH có những vai trò cơ bản sau:
Thứ nhất, chính sáchASXH lấy con người làm trung tâm, coi quyền con
người, bảo vệ con người trước các biến cố rủi ro xảy ra. Con người vừa là
động lực của sự phát triển xã hội, vừa là mục tiêu của việc xây dựng xã hội
[19, tr.132].
Thứ hai, ASXH vừa tạo điều kiện cơ bản và thuận lợi giúp cho các đối
tượng đặc biệt có cơ hội để phát huy hết thế mạnh của cá nhân đồng thời thể
hiện thái độ, trách nhiệm của nhà nước trong việc tạo ra cơ hội giúp họ hoà
nhập vào cộng đồng. Điều này được thể hiện rất rõ trong việc các cơ quan
13


quản lý nhà nước, tổ chức xã hội đã hỗ trợ các đối tượng đặc biệt các kỹ năng
sống, các kiến thức nghề nghiệp, tuyên truyền phổ biến thông qua các lớp
ngoại khóa… giúp các đối tượng đặc biết hiểu rõ bản thân, không còn thiếu tự
tin, dễ dàng hòa nhập vào với cuộc sống thông qua sự giúp đỡ của cộng đồng.
Thứ ba, ASXH góp phần ổn định phát triển và tiến bộ xã hội. Mục tiêu
cơ bản của ASXH là tạo một môi trường công bằng cho các tầng lớp dân cư,
cho người nghèo, cho người lao động, cho các đối tượng gặp biến cố rủi ro
tham gia. ASXH phải thực sự là công cụ phát triển tiến bộ xã hội. Ngoài việc
giảm bớt, hạn chế những khó khăn cho đối tượng nghèo đói, ASXH còn phải
đa dạng hoá các hình thức hoạt động khác nhau đối với các đối tượng khác
nhau để góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
Thứ tư, ASXH thể hiện truyền thống tương thân tương ái, đoàn kết giúp
đỡ nhau của cộng đồng. Trên cơ sở sự liên kết, hợp tác của cộng đồng những
rủi ro hoạn nạn được chia sẻ, đây là yếu tố phát huy sức mạnh của cộng đồng,

cơ bản là trình độ học vấn thấp, sức khỏe kém, ít thông tin về thị trường lao
động, hạn chế về năng lực mặc cả, đàm phán... Trong điều kiện hiện nay, của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, biến
động cung - cầu lao động trên thị trường lao động xảy ra thường xuyên, tình
trạng thất nghiệp và thiếu việc làm của lao động ngày càng tăng.
Do vậy, tạo nhiều cơ hội việc làm, thu nhập cao và ổn định thông qua
đào tạo nghề, vốn vay tạo việc làm, tiếp cận thông tin thị trường lao động để
tìm được việc làm và nâng cao thu nhập là giải pháp xoá đói giảm nghèo, bảo
đảm việc làm, hiệu quả và bền vững.
Chính sách hỗ trợ việc làm bao gồm hệ thống luật pháp, các quy định,
chương trình, đề án và các giải pháp phát triển thị trường lao động do nhà
nước hoặc các tổ chức thực hiện nhằm chủ động hỗ trợ người lao động nâng
cao cơ hội tìm việc làm, tham gia thị trường lao động để có thu nhập, từng
15


bước bảo đảm thu nhập tối thiểu cho người dân, đặc biệt là người nghèo,
thanh niên, lao động nông thôn và các nhóm lao động dễ bị tổn thương khác,
cải thiện cuộc sống cho người dân, góp phần chuyển đổi cơ cấu việc làm,
giảm tỷ lệ thất nghiệp, xóa đói, giảm nghèo và ổn định xã hội
Chính sách giảm nghèo có tính liên ngành, do vậy đa phần các chính
sách đề cập trong 4 trụ cột cơ bản của an sinh xã hội ở các phần trên. Phần
này có tính chất khái quát để cung cấp thông tin về toàn bộ các chính sách đối
với người nghèo.
Ngày 19/5/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP về
Định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011-2020 và ngày 8/10/2012 đã
phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn
2012-2015 với mục tiêu tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng
nghèo, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các
vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. Giảm nghèo được thực hiện đồng thời

của người hưởng BHXH; các mức đóng góp và mức hưởng tỷ lệ với thu nhập
trước khi hưởng BHXH…
Thứ ba, chính sách trợ giúp xã hội.
Trợ giúp xã hội được gồm hai nhóm là trợ giúp xã hội thường xuyên và
trợ giúp xã hội đột xuất cho người dân khắc phục các rủi ro khó lường, vượt
qua khả năng kiểm soát như mất mùa, đói nghèo.
Trợ giúp xã hội thường xuyên: Thực hiện chăm sóc những người không
tự lo được cuộc sống tại các cơ sở trợ giúp xã hội hoặc tại cộng đồng; Thực
hiện hỗ trợ tiền mặt cho đối tượngcó hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
Trợ giúp xã hội đột xuất là hình thức hỗ trợ của Nhà nước, cộng đồng
và nhân dân giúp đỡ những người không may bị thiên tai, mất mùa hoặc
những biến cố khác về kinh tế nhằm hỗ trợ kịp thời, giúp khắc phục và vượt
qua khó khăn sớm ổn định sản xuất và đời sống, đảm bảo thu nhập, không bị
17


rơi xuống nghèo khổ.
Thứ tư, chính sách dịch vụ xã hội cơ bản.
Bảo đảm mức tối thiểu các dịch vụ xã hội cơ bản cho toàn dân là một
trong những mục tiêu quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam.
Các dịch vụ xã hội, dịch vụ công cơ bản bao gồm: giáo dục, y tế, nhà ở, nước
sạch và thông tin được quan tâm đúng mực.
Chính phủ là chủ thể đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người
dân, người nghèo, người có công, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, người già
neo đơn.. có trình độ giáo dục tối thiểu, tăng cường chất lượng nguồn nhân
lực, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng xã hội
học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời, đặc
biệt trong Cách mạng công nghiệp 4.0 như hiện nay.
Ốm đau, bệnh tật là một trong những rủi ro thường gặp nhất của con
người, đặc biệt là những người thuộc nhóm yếu thế, nhóm dễ bị tổn thương

các chính sách của Đảng và Nhà nước, phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá-xã
hội, khoa học kỹ thuật nhằm rút ngắn khoảng cách về thông tin giữa các vùng,
miền; nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của người dân ở nông thôn, miền
núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo.
Đối tượng hưởng chính sách ưu đãi xã hội được phân tách theo các tiêu
chí sau: Phân theo đối tượng trực tiếp hay gián tiếp: chính sách ưu đãi xã hội
hướng tới cả đối tượng trực tiếp tham gia cách mạng, đồng thời với đối tượng
là thân nhân của những người có công với cách mạng.
Việc xem xét theo nhóm đối tượng với những tiêu chí khác nhau là cơ
sở để xác định cách tiếp cận xây dựng, thực hiện chính sách ưu đãi xã hội một
cách phù hợp đạo lý và nguyên tắc công bằng xã hội.
1.1.4. Nguyên tắc đảm bảo an sinh xã hội
Vận dụng kinh nghiệm của các nước và điều kiện cụ thể của Việt Nam,
19


việc xây dựng và phát triển hệ thống ASXH của Việt Nam dựa trên các
nguyên tắc cơ bản sau đây:
Thứ nhất, nguyên tắc toàn diện
Chính sách ASXH phải đảm bảo tính xã hội, nó không loại trừ bất kỳ
một đối tượng xã hội nào năm trong diện cần được giúp đỡ.Việc xây dựng và
thực hiện chính sách cần có sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân.
Thứ hai, nguyên tắc đối xử công bằng
Hoạt động đảm bảo các chế độ cần dựa trên hệ thống các quy tắc, tiêu
chuẩn, được định tính, định lượng rõ ràng, minh bạch và về nguyên tắc các
đối tượng thuộc cùng hệ phải được đối xử ngang nhau.
Thứ ba, nguyên tắc cộng đồng
Việc xây dựng và vận hành hệ thống chính sách ASXH phải trên tinh
thần đề cao tính cộng đồng về trách nhiệm.Tính cộng đồng này biểu hiện cả
sự đóng góp và hưởng thụ.Chính sách xã hội không phải việc riêng của Nhà


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status