VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THANH PHONG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH
TẾ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THĂNG
BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Hà Nội, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THANH PHONG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KINH
TẾ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THĂNG
BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
:8340402
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ XUÂN SANG
nghiệp để luận văn của tôi được bổ sung và hoàn thiện tốt hơn./.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
DANH MỤC CHỮ
VIẾT TẮT
ASEAN
: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
APEC
: Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á
FDI
: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
ODA
: Viện trợ phát triển chính thức
TPP
: Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
UBND
: Ủy ban nhân dân
Bảng 2.6. Tổng hợp SWOT phát triển kinh tế du
Bảng 3.1. Danh mục ưu tiên kêu gọi, xúc tiến đầ
2018 – 2020
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT
1.
2.
TÊN BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Tổng hợp nhận định những điểm m
Bình (%)
Biểu đồ 3.1. Tổng hợp nhận định những cơ hội d
(%)
DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ
STT
1.
2.
TÊN BẢN ĐỒ
Hình 3.2. Biển Bình Minh.
7.
Hình 3.3. Phật viện Đồng Dương.
8.
Hình 3.4. Làng nghề rau sạch Hưng Mỹ.
9.
Hình 3.5. Làng nghề nước mắm Cửa Khe.
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
KINH TẾ DU LỊCH.............................................................................................. 10
1.1. Khái niệm chính sách công............................................................................... 10
1.2. Khái niệm về kinh tế du lịch............................................................................. 12
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TRÊN ĐỊA
BÀN HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM......................................... 17
2.1. Giới thiệu về du lịch huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam............................... 17
2.2. Đánh giá chung về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội trong quá trình phát triển kinh
tế du lịch huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam....................................................... 33
CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THĂNG
BÌNH, TỈNH QUẢNG NAM ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN NĂM 2030..........46
dưỡng Vinpearl Nam Hội An, bãi tắm Bình Minh, làng nghề nước mắm Cửa Khe, làng
nghề rau sạch Hưng Mỹ, Phật viện Đồng Dương, Hố Cam... Đây là những điểm đến du
lịch còn mới và rất giàu tiềm năng. Tuy nhiên Du lịch Thăng Bình phát triển chưa
tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của nó. Các sản phẩm du lịch chưa thực sự hấp
dẫn và chưa có sự khác biệt, khả năng cạnh tranh chưa cao. Chất lượng các dịch vụ du
lịch chưa đáp ứng yêu cầu. Môi trường du lịch còn nhiều bất cập. Công tác xúc tiến
quảng bá du lịch còn nhiều hạn chế về nguồn lực và tính chuyên nghiệp, hiệu quả chưa
cao. Nguồn nhân lực du lịch vừa thiếu, vừa yếu. Vai trò của cộng đồng trong phát triển
du lịch chưa được phát huy. Nguyên nhân chủ yếu của những hạn chế, yếu kém nêu
trên là do các cấp, các ngành chưa thực sự coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, chính
1
sách phát triển du lịch chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, vẫn còn nặng tư tưởng bao
cấp, đầu tư còn dàn trải, chưa huy động được nhiều nguồn lực của xã hội cho phát
triển du lịch. Công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch chưa được quan
tâm đúng mức.
Vấn đề đặt ra cho du lịch huyện Thăng Bình là làm thế nào để phát triển du
lịch, tạo ra được nhiều sản phẩm mới để mang lại hiệu quả kinh tế cao, cải thiện đời
sống người dân, đồng thời vẫn có thể quản lý được hiện trạng, bảo tồn các giá trị tự
nhiên của nó. Tất cả những điều đó đặt ra một vấn đề bức thiết là phải tìm ra những
giải pháp để xây dựng và phát triển kinh tế du lịch một cách hợp lý, đưa du lịch
huyện Thăng Bình phát triển tương xứng với tiềm năng của nó, biến du lịch thành
động lực quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân, mở
rộng hợp tác quốc tế, bảo vệ môi trường thiên nhiên, làm cơ sở cho việc phát triển
du lịch của địa phương trong tương lai. Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài
“Thực hiện chính sách phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh
Quảng Nam”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
cho phát triển du lịch và chất lượng hệ thống khách sạn. Các hoạt động về việc quản
lý nhà nước về du lịch, hoạt động xúc tiến và quảng bá du lịch cũng như phát triển
du lịch trong quan hệ với cộng đồng địa phương. Xác định tiềm năng du lịch thành
phố Đà Nẵng. Trên cơ sở những nhận định trên đề xuất một số giải pháp nhằm phát
triển sản phẩm du lịch tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian đến. [11]
Tác giả Nguyễn Duy Mậu: “Phát triển du lịch Tây Nguyên đến năm 2020 đáp
ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế” đã hệ thống hóa các khái niệm du lịch, thị
trường du lịch, chức năng và phân loại thị trường du lịch. Đồng thời tác giả đưa ra
13 loại hình du lịch phổ biến hiện nay trên thế giới. Làm rõ sản phẩm du lịch và mối
quan hệ giữa tài nguyên du lịch đối với sản phẩm du lịch và thị trường du lịch. Phân
tích kênh phân phối sản phẩm lữ hành và hệ thống các doanh nghiệp lữ hành tại thị
trường nhận khách và giữ khách, vận dụng cho các doanh nghiệp Việt Nam. Làm rõ
dịch vụ du lịch là cơ sở lý luận cho định hướng phát triển du lịch. Phân tích vai trò
của du lịch đối với tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các tác động
tới ngành kinh tế, xã hội. Tác động giữa hội nhập kinh tế quốc tế và du lịch, những
yêu cầu nhằm đáp ứng phát triển du lịch trong tiến trình hội nhập. Tác giả cũng
3
đánh giá toàn diện tiềm năng và cơ sở phát triển du lịch, vị trí, vai trò và lợi thế du
lịch Tây Nguyên trong phát triển vùng và quốc gia. Trên cơ sở đó Tác giả dự báo xu
hướng phát triển du lịch thế giới, khu vực và Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn
2030, định hướng phát triển kinh tế - xã hội Tây Nguyên đến năm 2020 làm cơ sở
cho hoạch định phát triển du lịch Tây Nguyên đề ra chín nhóm giải pháp để phát
triển du lịch Tây Nguyên đến năm 2020. [7]
Trong đề tài “Định hướng khai thác các sản phẩm du lịch Đồng Tháp qua việc
xác định lợi thế so sánh về tiềm năng du lịch nhân văn với các tỉnh đồng bằng Sông
Cửu Long” của tác giả Phạm Thị Hồng Xuân. Mục tiêu của đề án phát triển du lịch
đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2020, tác giả có những định hướng khai thác
đảm bảo vững chắc an ninh - quốc phòng, bảo tồn văn hóa, bảo vệ môi trường tự
nhiên và đa dạng sản phẩm du lịch đến năm 2030. [25]
Tóm lại, đã có một số công trình nghiên cứu về việc xây dựng và phát triển
kinh tế du lịch, trong đó có một số nghiên cứu về xây dựng và phát triển kinh tế sản
phẩm du lịch ở một vài địa bàn cụ thể gắn với những điều kiện cụ thể của địa
phương…
Tuy nhiên những nghiên cứu này chưa đề cập chuyên sâu đến chính sách,
nhất là thực hiện chính sách phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn Thanh Bình, tỉnh
Quảng nam trước năm 2018 và giai đoạn từ năm 2019 - 2030. Đây chính là những
khoảng trống để nghiên cứu và là đóng góp mới của đề tài
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách và
nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn huyện
Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam đến 2020, định hướng đến năm 2030.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
-
Hệ thống hóa, làm rõ những vấn đề lý luận, pháp lý về chính sách và thực
hiện chính sách phát triển kinh tế du lịch;
Phân tích thực trạng chính sách và thực hiện chính sách phát triển
kinh tế
du lịch trên địa bàn huyện Thăng Bình giai đoạn 2011 - 2018.
-
Đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả thực hiện
chính sách phát triển kinh tế du lịch một cách bền vững và phù hợp trên địa bàn
Nghiên cứu lý thuyết bằng cách hệ thống lại các lý thuyết có liên quan đến
phát triển kinh tế du lịch. Phỏng vấn trực tiếp các doanh nghiệp, các hộ gia đình,
các chuyên gia du lịch và các nhà quản trị du lịch.
-
Phân tích thống kê: Sử dụng phương pháp điều tra thông qua phát phiếu
khảo sát để thu thập dữ liệu sơ cấp từ 2 nhóm đối tượng: Điều tra 150 hộ gia đình
tại 5 xã Bình Dương, Bình Minh, Bình Triều, Bình Phú và Định Định Bắc và 50 cán
bộ quản lý, doanh nghiêp, hướng dẫn viên du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
6
Quy trình thực hiện nghiên cứu được mô phỏng như sau:
Vấn đề nghiên cứu
Thực hiện chính sách phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn
huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
Cơ sở khoa học của nghiên cứu
- Cơ sở lý luận về chính sách
phát triển kinh tế du lịch;
-
Các yếu tố tác động đến việc(Điều tra 150 hộ gia đình tại 5 xã Bình
thực hiện chính sách phát
Dương, Bình Minh, Bình Triều, Bình Phú
nhóm đối tượng nghiên cứu chính là người dân và cán bộ quản lý, doanh nghiêp,
hướng dẫn viên du lịch trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
5.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Sau khi thu thập đầy đủ số liệu theo thiết kế bảng hỏi, tác giả tiến hành các
bước phân tích và xử lý dữ liệu sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tính giá trị
trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất.
6.
Ý nghĩa lý luận, thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Đề tài góp phần cung cấp cơ sở lý luận về chính sách
công cho việc nghiên cứu các vấn đề chính sách phát triển du lịch cho các cơ quan
ban hành chính sách công về phát triển du lịch. Hệ thống hóa một số lý luận và đánh
giá thực tiễn từ huyện Thăng Bình, từ đó đề xuất giải pháp tăng cường thực hiện
chính sách phát triển du lịch nhằm phát huy tối đa hiệu quả chính sách đã ban hành
và đề xuất một số giải pháp mới.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Qua thực tiễn việc thực hiện chính sách phát triển du
lịch trên địa bàn huyện Thăng Bình, luận văn đã chỉ ra được những điểm mạnh,
điểm trong việc thực hiện chính sách, đồng thời đề ra 9 nhóm giải pháp thực hiện
phát triển chính sách phát triển kinh tế du lịch trên địa bàn huyện Thăng Bình hiệu
quả và thiết thực hơn.
7. Kết cấu của luận văn
Phần Mở đầu.
Nội dung chính của Phần mở đầu là giới thiệu tổng quan về lý do chon đề tài
mà cụ thể là báo cáo tổng quan bối cảnh du lịch thế giới, du lịch Việt Nam, du lịch
Thăng Bình trong thời gian qua cũng như tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
8
triển đất nước nhằm đạt được mục tiêu nhất định” [3].
Chính sách là những tư tưởng, những định hướng, những mong muốn cần
hướng tới, cần đạt được. Còn chiến lược hay kế hoạch, thậm chí pháp luật chỉ là
hình thức, là phương tiện để chuyển tải, để thể hiện chính sách [9].
Chính sách công là một trong những công cụ cơ bản được Nhà nước sử dụng
để phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Ở mỗi giai đoạn phát triển, yêu cầu nâng
cao chất lượng, hiệu quả các chính sách công luôn được đặt ra. Để làm được điều đó
cần có sự hoàn thiện quy trình chính sách, trong đó có tổ chức thực thi chính sách.
Thực thi chính sách công là một khâu quan trọng của quy trình chính sách với
nhiệm vụ hiện thực hóa chính sách công.
Ở
Việt Nam, chính sách công là chuyên ngành mới thuộc lĩnh vực khoa học
xã hội. Chính sách công dựa trên những nguyên tắc kinh tế học, xã hội học, luật học
và những chuyên ngành hàn lâm đã được hình thành từ lâu. Chủ thể ban hành chính
sách công là Nhà nước. Chính sách công phản ánh mối quan hệ nhà nước - xã hội công dân. Chính sách công là do các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy Nhà
nước bao gồm Quốc hội, các Bộ, chính quyền địa phương các cấp ban hành. Ở nước
ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Nhà nước,
10
lãnh đạo xã hội (Điều 4, Hiến pháp năm 2013). Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội
thông qua việc vạch ra các cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính sách. Đây
là các căn cứ chỉ đạo để Nhà nước ban hành các chính sách công. Như vậy, chính
sách công là chính sách của Nhà nước và chính sách này được cụ thể hóa đường lối,
chiến lược của Đảng nhằm phục vụ lời ích cho nhân dân [4].
Ở
1.2. Khái niệm về kinh tế du lịch
1.2.1. Khái niệm
Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002) đưa ra định nghĩa: “Kinh tế du lịch là
một loại hình kinh tế có tính đặc thù, mang tính dịch vụ và thường được xem như
ngành công nghiệp không khói, gồm có du lịch quốc tế và du lịch trong nước; có
chức năng, nhiệm vụ tổ chức, khai thác các tài nguyên và cảnh quan của đất nước
nhằm thu hút khách du lịch trong nước và ngoài nước; tổ chức buôn bán, xuất nhập
khẩu tại chỗ hàng hóa và dịch vụ cho khách du lịch”.
Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi
cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí,
nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.
Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi
học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của
khách du lịch trong chuyến đi du lịch
Loại hình du lịch là tập hợp các sản phẩm du lịch có những đặc điểm giống
nhau, hoặc vì chúng thỏa mãn những nhu cầu, động cơ tương tự hoặc được bán cho
nhóm khách hàng, hoặc vì chúng cùng cách phân phối, một cách tổ chức như nhau,
hoặc được xếp chung theo một mức giá bán nào đó. Để có thể đưa ra các định
hướng và chính sách phát triển đúng đắn về du lịch, các nhà quản lý vĩ mô về du
lịch cũng như các nhà quản trị doanh nghiệp du lịch cần xác định loại hình du lịch.
Để phân loại loại hình du lịch có thể căn cứ phạm vi lãnh thổ của chuyến đi
du lịch, mục đích chuyến đi. Theo tiêu thức phạm vi lãnh thổ của chuyến đi du lịch,
du lịch được phân thành du lịch quốc tế và du lịch nội địa. Du lịch quốc tế là hình
thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của các
quốc gia khác nhau; ở hình thức du lịch này, khách du lịch phải đi qua biên giới và
tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch; Du lịch nội địa là hình thức du lịch mà ở đó điểm
xuất phát và điểm đến của khách cùng nằm ở lãnh thổ của một quốc gia.
12
điểm đến mà không làm suy giảm quá nhiều chất lượng của tài nguyên và môi
13
trường trong tương lai.
Để bảo đảm được yêu cầu này, phát triển kinh tế du lịch phải tuân thủ các
nguyên tắc sau: theo quy hoạch, kế hoạch, bảo đảm hài hòa giữa kinh tế, xã hội và
môi trường, phát triển bền vững, có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn
hóa - lịch sử, du lịch sinh thái, bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du
lịch; bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; bảo
đảm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng.
1.2.3. Các điều kiện để phát triển kinh tế du lịch
1.2.3.1. Điều kiện về tài nguyên du lịch
Nếu chúng ta coi các điều kiện chung như là các điều kiện để phát triển du
lịch thì điều kiện về tài nguyên du lịch là điều kiện cần thiết nhất để phát triển du
lịch. Mỗi quốc gia, vùng miền dù có nền kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội phát
triển, song nếu không có các tài nguyên du lịch thì cũng không thể phát triển du lịch
được. Tiềm năng về kinh tế là vô hạn, song tiềm năng về tài nguyên du lịch là có
hạn, nhất là đối với các tài nguyên du lịch thiên nhiên - những cái mà thiên nhiên
chỉ ban tặng cho một số vùng miền hay quốc gia nhất định. Tài nguyên du lịch có
thể do thiên nhiên tạo ra hay do con người tạo ra. Tài nguyên du lịch là điều kiện
cần cho hoạt động du lịch hình thành và phát triển du lịch. Các điều kiện về môi
trường tự nhiên đóng vai trò là những tài nguyên thiên nhiên về du lịch như địa
hình, khí hậu, động thực vật, nguồn tài nguyên nước hay vị trí địa lý. Đồng thời các
giá trị văn hóa, lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế có ý nghĩa đặc trưng cho
sự hình thành và phát triển du lịch ở một địa điểm, một vùng hay một quốc gia.
1.2.3.2. Thị trường mục tiêu
Đây được xem là điều kiện chung có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh
doanh du lịch.
thể. Tiêu chí này thể hiện qua các nét văn hóa mới tốt và xấu du nhập vào cộng
đồng theo thời gian; số lượng tổ chức các hoạt động sản phẩm văn hóa địa phương
và công tác bảo tồn di tích, nét văn hóa truyền thống.
Tiêu chí môi trường nhằm xác định ngân sách đầu tư vào bảo tồn, tôn tạo các
dự án về cải thiện môi trường, nhận thức của du khách về môi trường;
Muốn thu hút khách du lịch không chỉ đến một lần mà có thể nhiều lần hoặc
thậm chí là tạo ấn tượng tốt đến với khách du lịch. Thì từ tầm vĩ mô đến vi mô cần
15
phải có những định hướng chiến lược nhằm tạo một môi trường phát triển du lịch
trở thành ngành kinh tế mũi nhọn nhưng phải phù hợp với tình hình khai thác cũng
như phát triển du lịch của từng địa phương. Thứ nhất, cần thường xuyên đa dạng
hóa các sản phẩm du lịch phải phù hợp với từng địa phương. Đồng thời phải tiếp tục
hoàn thiện các sản phẩm sẵn có để có thể đáp ứng nhu cầu của khách du lịch như du
lịch kết hợp với trãi nghiệm, nghỉ dưỡng, … Thứ hai, công tác an ninh – trật tự cần
phải được tăng cường cao độ nhằm tạo cho khách tham quan du lịch cảm giác an
toàn và thoải mái nghỉ ngơi khi đến đây. Thứ ba, cải thiện môi trường sinh thái, giải
quyết vấn đề rác thải sinh hoạt. Vì thế, cần phải nâng cao ý thức bảo vệ môi trường
của du khách và cả người dân địa phương. Thứ tư, đẩy mạnh chương trình quảng
cáo, tiếp thị nhằm thu hút khách du lịch. Đồng thời tổ chức các sự kiện, lễ hội, các
hội nghị, tọa đàm… nhằm quảng bá hình ảnh. Từ những phân tích trên có thể thấy,
muốn phát triển du lịch cũng như các hoạt động du lịch khác cần phải kết hợp bởi
nhiều yếu tố với nhau nhằm tạo nên một hiệu quả tốt nhất.
Tiểu kết Chương 1
Chương 1. Tổng hợp cơ sở sở lý luận chính sách công, chính sách phát triển
kinh tế du lịch. Trên cơ sở lý thuyết và các kết quả nghiên cứu, tác giả xác định các
nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế du lịch, cụ thể: