Thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện đại lộc, tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN DUY MỸ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI HUYỆN ĐẠI LỘC TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN DUY MỸ

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI HUYỆN ĐẠI LỘC TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. TRẦN THỊ LAN HƯƠNG


NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM ..............34
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội ở huyện Đại Lộc .......................34
2.2. Kết quả đạt được trong việc thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới tại
huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam giai đoạn từ năm 2011 đến nay .........................43
2.3. Hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện chính sách xây
dựng nông thôn mới tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam .....................................57
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN ĐẠI
LỘC TỈNH QUẢNG NAM ..................................................................................63
3.1. Quan điểm và định hướng xây dựng nông thôn mới tại huyện Đại Lộc, tỉnh
Quảng Nam .............................................................................................................63
3.2. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách xây dựng nông
thôn mới tại huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới .........................66
KẾT LUẬN ............................................................................................................75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TT

Chữ viết tắt

Diễn giải

1

CNH-HĐH

2


KTXH

Kinh tế xã hội;

9

THCS

Trung học cơ sở;

10

UBND

Ủy ban nhân dân;

11

UBMTTQ

Ủy ban mặt trận tổ quốc;

12

CTMTQG

Chương trình mục tiêu quốc gia;

13


tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn có tầm chiến lược đặc biệt
quan trọng. Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa nông nghiệp, nông thôn, hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng
hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và
khả năng cạnh tranh cao, tạo điều kiện từng bước hình thành nền nông
nghiệp sạch, phấn đấu giá trị tăng thêm trong ông nghiệp, lâm nghiệp và
thủy sản tăng 3-3,2%/năm. Tốc độ phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông
thôn không thấp hơn mức bình quân của cả nước. Gắn phát triển kinh tế với
xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nông thôn và
thành thị, giữa các vùng miền, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội”
[7, tr190, 191].
Trong 10 năm (2008-2018) thực hiện Nghị quyết Hội nghị T.Ư 7 (khóa
X), 08 năm (2010-2018) thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây

1


dựng nông thôn mới (NTM), 5 năm thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp
đã tạo nên một khu vực nông thôn (KVNT) với nhiều đổi thay rõ nét. Kết
cấu hạ tầng phát triển mạnh mẽ, nhiều mô hình sản xuất kinh tế nông nghiệp
phát triển đã tạo nên động lực mới cho phát triển kinh tế khu vực nông thôn,
sản xuất nông nghiệp hàng hóa được coi trọng và chuyển biến, đời sống của
đại đa số nông dân được nâng cao.
Tính đến nay, tỉnh Quảng Nam có 87/ 204 xã ( 42,64%) được công
nhận đạt chuẩn NTM, đã có 02 đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ
công nhận đạt chuẩn NTM. Nhiều địa phương đã bước vào giai đoạn xây
dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu. Chính phủ cũng đã có chỉ đạo về giải
pháp xây dựng NTM cấp thôn, bản cho những vùng đặc thù, khó khăn. Đây
là những nỗ lực rất lớn của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong xây
dựng NTM, phát triển KTXH KVNT.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề hoạch định, xây dựng và thực hiện chính sách về nông nghiệp,
nông dân và nông thôn nói chung, và chính sách xây dựng MTM nói riêng là
một vấn đề được Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và nhiều nhà
nghiên cứu rất quan tâm trong nhiều năm trở lại đây. Mỗi một tổ chức, cá nhân
và các nhà nghiên cứu đều có một góc nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Chính
vì vậy mà đã có rất nhiều bài viết cũng như công trình nghiên cứu về vấn đề này,
tiêu biểu là những công trình sau:
- Công trình nghiên cứu Vấn đề nông nghiệp - nông dân – nông thôn:
kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc của các tác giả Phùng Hữu
Phú – Nguyễn Viết Thông – Bùi Văn Hưng (biên soạn) (NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, 2009) là một công trình tập hợp nhiều bài tham luận của
nhiều nhà khoa học tại hội thảo Lý luận lần thứ IV giữa Đảng Cộng sản Việt
Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong công trình này, vấn đề lý luận
và thực tiễn về nông nghiệp, nông dân và nông thôn ở Việt Nam và ở Trung

3


Quốc được các bài viết tập trung và làm rõ; bên cạnh đó, các bài viết còn tập
trung vào phân tích những kinh nghiệm của Việt Nam và Trung Quốc trong
việc giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn [25].
- Tác giả Nguyễn Sinh Cúc với cuốn sách Thực trạng nông nghiệp,
nông thôn và nông dân Việt Nam 1976 – 1990, (Nhà xuất bản Thống kê, Hà
Nội, 1991). Ở công trình này, tác giả đã làm rõ được thực trạng nông nghiệp,
nông thôn và nông dân ở Việt Nam từ năm 1976 đến năm 1990 trên nhiều
phương diện khác nhau. Bên cạnh việc khẳng định những thành tựu đạt
được, thì tác giả cũng nhìn nhận được những khó khăn, hạn chế, yếu kém
của nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam. Đồng thời, chỉ ra nhiều
nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém đó và đòi hỏi phải có những

hiện đạt 19 tiêu chí quốc gia về xây dựng NTM [29].
Tác giả Hồ Xuân Hùng: Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng
lâu dài của Đảng và nhân dân ta (Tạp chí cộng sản, số 234 năm 2011). Trong
công trình này, tác giả đã chỉ ra được nội dung, chức năng của nông thôn mới
XHCN Việt Nam. Đồng thời chỉ ra biện pháp thực hiện các giải pháp của
Chương trình mục tiêu quốc gia về nông thôn mới trong giai đoạn hiện
nay[22].
Tác giả Dương Thị Bích Diệp: Chương trình xây dựng nông thôn mới ở
Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, (Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 8
năm 2014, tr. 61 – 68). Bài viết tập trung phân tích thực trạng triển khai
chương trình xây dựng nông thôn mới tại 11 xã điểm do Trung ương chỉ
đạo; nguyên nhân dẫn tới hạn chế, bất cập; đề xuất một số giải pháp nhằm
tiếp tục thực hiện hiệu quả chủ trương xây dựng nông thôn mới trên cả nước
[6].
Trên tạp chí Cộng sản, Báo điện tử Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã có
nhiều bài viết liên quan đến vấn đề mà đề tài luận văn nghiên cứu:
Tác giả Đào Thế Tuấn: Nông nghiệp, nông dân, nông thôn - những vấn

5


đề không thể thiếu trong phát triển bền vững (2008 – Tạp chí cộng sản ) [31].
Tác giả Đỗ Kim Chung và Kim Thị Dung: Nông nghiệp Việt Nam hướng
tới phát triển bền vững (2015 – Tạp chí cộng sản ) [4].
Tác giả Nguyễn Văn Giàu: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp,
nông thôn và những vấn đề đặt ra trong giai đoạn hiện nay (2015 – Tạp chí
cộng sản ) [13].
Tác giả Vũ Văn Phúc: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn - nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (2015 – Tạp chí cộng sản ) [26].

dựng NTM.
- Hai là: Làm rõ thực trạng thực hiện chính sách xây dựng NTM tại
huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn từ năm 2011đến nay; chỉ ra
những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế và nguyên nhân trong quá
trình thực hiện chính sách.
- Ba là: Đưa ra phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng
cao hiệu quả thực hiện chính sách xây dựng NTM trên địa bàn huyện Đại
Lộc, tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện chính sách xây
dựng NTM tại huyện huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam từ năm 2011 cho đến
nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận: Là chủ nghĩa Mác – Lênin và quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói chung và
nông thôn mới nói riêng.
Phương pháp nghiên cứu: Để nghiên cứu đề tài luận văn, chúng tôi sử
dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, điều tra, khái quát, khảo sát,
thống kê, so sánh, và thu thập tài liệu của UBND huyện Đại Lộc.

7


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện
chính sách xây dựng NTM, góp phần làm rõ hơn những luận cứ khoa học
nhằm đánh giá khách quan, chính xác về thực tiễn xây dựng NTM ở địa
phương.
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên
cứu khoa học, học tập các chuyên đề có liên quan đến thực hiện chính sách

- Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng
được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý
giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị. Nông thôn ổn định, giàu
bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ. Sức mạnh của hệ

9


thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự
xã hội [43].
1.1.3. Xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để
cộng đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của
mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công
nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn
được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được
nâng cao.
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn
dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp.
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích
cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu
đẹp, dân chủ, văn minh [43].
1.1.4. Chính sách xây dựng nông thôn mới
Chính sách xây dựng nông thôn mới là một trong những chính sách
công nhằm xây dựng nông thôn theo những tiêu chí mới.
Chính sách xây dựng nông thôn mới là một tổng hợp các chính sách,
các thủ tục, các nguyên tắc, các nguồn lực cần thiết có thể huy động nhằm
thực hiện các mục tiêu toàn diện về phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc
phòng [43].
Xây dựng chính sách về NTM có sự tham gia của nhiều chủ thể là

với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội
nông
thôn ổn định, giàu bản sắc dân tộc, dân trí được nâng cao; môi trường sinh
thái được bảo vệ, hệ thống chính trị ở nông thôn nâng cao, an ninh chính trị
được đảm bảo, đời sống tinh thần, vật chất của người dân được nâng cao.

11


Mục tiêu cụ thể:
Đến năm 2020 có 50% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới, khuyến
khích mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phấn đấu có ít nhất một
huyện đạt chuẩn nông thông mới, huy động tối đa nguồn lực của địa phương
để tổ chức triển khai, đồng thời huy động vốn đầu tư của doanh nghiệp đối
với các công trình có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và huy động các khoản
đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân.
Đời sống vật chất, tinh thần, của người dân ngày được cải thiện và
nâng cao, tạo nhiều mô hình sản xuất gắn với việc làm cho nhân dân, thu
nhập tăng ít nhất 1,8 lần so với năm 2015.
Tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thuỷ sản đạt 3,5 - 4%/năm; sử dựng đất
nông nghiệp tiết kiệm và hiệu quả; duy trì diện tích đất lúa đảm bảo an ninh
lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài. Phát triển nông nghiệp gắn với
phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ và dịch vụ, từng bước thực hiện công
nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn giải quyết việc làm, nâng
cao thu nhập của dân cư nông thôn gấp trên 2,5 lần so với hiện nay; lao động
nông nghiệp còn khoảng 30% , tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 50%; Phát
triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn đồng bộ; Nâng cao chất
lượng đời sống của dân cư nông thôn; Nâng cao vai trò, năng lực phòng
chống, giảm nhẹ thiên tai…Ngăn chặn, xử lý ô nhiễm môi trường, từng
bước nâng cao chất lượng môi trường ở nông thôn.

Để đạt được chỉ tiêu về thu nhập, vấn đề đặt ra là phải tăng cường hỗ
trợ phát triển sản xuất cho người dân, phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản
xuất ở khu vực nông thôn, miền núi… thông qua công tác khuyến nông,
khuyến công; thực hiện chủ trương dồn điền đổi thửa ở những vùng sản
xuất, trồng trọt tập trung, đẩy mạnh cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp,
khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào nông thôn, xây dựng thương
hiệu cho các sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế… Liên quan đến việc

13


đào tạo, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, công tác đào tạo nghề
phải gắn với các mô hình, dự án sản xuất có hiệu quả, tạo điều kiện cho lao
động nông thôn chuyển dịch việc làm sang sản xuất nông nghiệp công nghệ
cao hoặc chuyển đổi sang làm việc trong các khu, cụm công nghiệp…
1.2.2.4. Phát triển văn hoá - xã hội - môi trường
Trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, văn hóa giữ vai trò rất
quang trọng trong việc nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, bảo tồn và
phát huy văn hóa dân tộc. Tiếp tục xây dựng đời sống văn hóa và môi trường
sống sáng – xanh - sạch - đẹp; bảo đảm an ninh trật tự ngày càng tốt hơn vì
vùng nông thôn là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa của cộng đồng, văn hóa
nông thôn là một bộ phận cấu thành của văn hóa dân tộc, do đó, xây dựng
đời sống văn hóa nông thôn giữ vị trí quan trọng trong nhiệm vụ xây dựng
và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền
vững đất nước.
Môi trường là yếu tố tác động trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của
người dân và bộ mặt nông thôn. Do vậy cấp uỷ và chính quyền cơ sở cần
vào cuộc, chỉ đạo sát sao để các tầng lớp nhân dân thấy rõ được trách nhiệm
của mình trong bảo vệ môi trường nói riêng và công cuộc xây dựng nông
thôn mới nói chung.

nguồn lực và sức sáng tạo trong nhân dân.
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể cơ sở
trong việc tiếp tục thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng
nông thôn mới, đô thị văn minh”, “Xây dựng gia đình 5 không 3 sạch”,
“Thôn, làng phụ nữ kiểu mẫu”, “Nông dân thi đua xây dựng nông thôn mới”,
“Thanh niên chung tay xây dựng nông thôn mới”,…
Thứ ba, đối với vấn đề sử dụng, quản lý nguồn vốn xây dựng nông thôn
mới và huy động nguồn lực xây dựng nông thôn mới từ nhân dân. Chính
quyền cơ sở phải quản lý tốt các nguồn vốn đầu tư xây dựng nông thôn mới,

15


lồng ghép các nguồn vốn từ các chương trình, dự án vào xây dựng nông thôn
mới hiệu quả, tránh hình thức, làm theo kiểu thành tích, biến thi đua xây
dựng nông thôn mới thành “cuộc đua” xây dựng nông thôn mới, hình thức
phong trào, chất lượng các tiêu chí không bền vững. Hệ thống chính trị cơ sở
phải vận động, huy động được nguồn vốn từ dân, có tiền góp tiền, có sức
góp sức, phát huy tinh thần trách nhiệm của mỗi người dân góp phần đẩy
nhanh tiến độ thực hiện xây dựng nông thôn mới. Việc huy động có thể tiến
hành các phương thức phù hợp, thông qua quy ước, quy chế, thông qua hội
họp thôn, làng, tổ dân phố. Mỗi địa phương cần lựa chọn cách thức phù hợp,
nhất là chú ý cách thức vận động đối với người dân tộc thiểu số tại địa
phương.
Thứ tư, đối với việc tổng kết, rút kinh nghiệm trong việc xây dựng nông
thôn mới. Đảng ủy, chính quyền và các tổ chức đoàn thể cần tổng kết thực
tiễn, đúc rút những bài học kinh nghiệm để nhân rộng mô hình đối với
những xã đã hoàn thành xây dựng nông thôn mới. Đối với những xã chưa
đạt chuẩn, cần rà soát bổ sung nhu cầu thực tế, để đáp ứng tỉ lệ đạt chuẩn của
từng tiêu chí từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể đáp ứng kịp thời và hoàn thiện

Nhóm II: Hạ tầng kinh tế - Xã

hội (có 08 tiêu chí)
Nhóm III: Kinh tế và tổ chức sản xuất (có 04 tiêu chí
Văn hóa - xã hội - môi trường (có 04 tiêu chí

Nhóm V: Hệ thống chính trị

(có 02 tiêu chí)
19 tiêu chí để xây dựng mô hình nông thôn mới
1. Quy hoạch
Tiêu chí 1: Quy hoạch
2. Hạ tầng kinh tế - xã hội
Tiêu chí 2: Về giao thông
Tiêu chí 3: Về thủy lợi
Tiêu chí 4: Về điện
Tiêu chí 5: Về trường học

17

Nhóm IV:


Tiêu chí 6: Về cơ sở vật chất văn hóa
Tiêu chí 7:Về cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn
Tiêu chí 8: Về thông tin và truyền thông
Tiêu chí 9: Về nhà ở dân cư
3. Kinh tế và tổ chức sản xuất
Tiêu chí 10: Về thu nhập
Tiêu chí 11: Về hộ nghèo

Theo các quan điểm cho rằng chủ thể trong xây dựng nông thôn phải
là chính quyền địa phương. Tuy nhiên, Trong thực tế cho thấy, người nông
dân mới thực sự là chủ thể xây dựng nông thôn mới. Trong môi trường làng
xã, một cá nhân hoàn toàn có thể hi sinh lợi ích của bản thân mình vì lợi ích
tập thể. Chính vì những nguyên nhân đó mà tổ chức hợp tác làng xã nông
thôn trở thành một cơ sở quan trọng cho sự nghiệp xây dựng nông thôn mới
và thực hiện kinh doanh sản nghiệp hoá. Nông thôn Việt Nam vốn có truyền
thống hợp tác, chính các tổ chức hợp tác nông thôn là nơi quy tụ tất cả nông
dân lại với nhau, nó là chủ thể đưa người nông dân thâm nhập vào thị trường
và tìm kiếm những lợi ích thị trường. Có thể nói, một khi tổ chức nông dân
giành được lợi ích thị trường, thì cũng có nghĩa là người nông dân hưởng thụ
được những lợi ích này.
Từ cải cách mở cửa cho đến nay, xu thế phát triển kinh tế thị trường
đã đào tạo và xây dựng nên những chủ thể lợi ích đa dạng. Các chủ thể lợi
ích khác nhau sẽ có những nhu cầu lợi ích khác nhau. Những lợi ích này có
thể được thực hiện hay không lại phụ thuộc rất nhiều vào trình độ tổ chức
của các tổ chức đó. Chỉ có các tập đoàn lợi ích mang tính chất chế độ hóa, tổ
chức hóa mới có thể phát huy được vai trò bảo vệ lợi ích cho tổ chức mình.
Trong cơ chế kinh tế thị trường khắc nghiệt, và bối cảnh cải cách mở cửa
ngày càng sâu rộng, chính người nông dân là đối tượng đã đóng góp nhiều
nhất và đồng thời cũng hy sinh nhiều nhất cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa

19


xã hội. Tuy nhiên, cũng chính họ lại là tầng lớp chịu nhiều thiệt thòi nhất.
Để cải thiện tình hình này, người nông dân cần phải tập hợp lại với nhau để
xây dựng nên các tổ chức hợp tác đại diện cho quyền và lợi ích của mình,
phát huy vai trò là chủ thể trong công cuộc xây dựng nông thôn mới.
Sự tham gia của người dân trong chương trình mục tiêu quốc gia xây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status