VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN DUY MỸ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI HUYỆN ĐẠI LỘC TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN DUY MỸ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI HUYỆN ĐẠI LỘC TỈNH QUẢNG NAM
Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số
: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. TRẦN THỊ LAN HƯƠNG
bản
1.2. Mục tiêu và nội dung của chính sách xây dựng nông thôn mới ......................11
1.3. Các bước thực
................................18
hiện
chính
sách
xây
dựng
nông
thôn
mới
1.4. Các chủ thể thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới ............................19
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới .....22
1.6. Kinh nghiệm xây dựng nông thôn của một số địa phương trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam. ............................................................................................................24
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN ĐẠI LỘC, TỈNH QUẢNG NAM ..............34
2.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa - xã hội ở huyện Đại Lộc
5 KK
Hh
6 NN
Nô
7 N
ô
8 KT
K
XH
in
9 TH
Tr
u
1 UỦ
0 Ny
1 UỦ
1 By
1 CC
2 Th
1 CC
3 Nô
-n
1 Tg
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp, nông dân và nông thôn luôn có vị trí và tầm quan trọng
chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là cơ sở và lực
lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững của nước ta. Là một
đại đa số nông dân được nâng cao.
Tính đến nay, tỉnh Quảng Nam có 87/ 204 xã ( 42,64%) được công
nhận đạt chuẩn NTM, đã có 02 đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ
công nhận đạt chuẩn NTM. Nhiều địa phương đã bước vào giai đoạn xây
dựng NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu. Chính phủ cũng đã có chỉ đạo về giải
pháp xây dựng NTM cấp thôn, bản cho những vùng đặc thù, khó khăn. Đây
là những nỗ lực rất lớn của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong xây
dựng NTM, phát triển KTXH KVNT.
Huyện Đại Lộc là một huyện miền núi, nằm ở phía Bắc của tỉnh Quảng
Nam, là huyện thuần nông, điều kiện kinh tế xã hội còn khó khăn. Với sự cố
gắng và vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của nhân dân
trong toàn huyện, đến cuối năm 2018 có 11/17 xã được công nhận xã nông
thôn mới và phấn đấu đến năm 2020 xã Đại Hiệp được công nhận xã nông
thôn mới kiễu mẫu. Trong những năm qua, thực hiện Chương trình MTGQ
xây dựng NTM đã đạt được những kết quả nhất định, kinh tế xã hội phát
triển ổn định, cơ cấu kinh kế chuyển dịch theo hướng tích cực, thu nhập đầu
người được tăng cao, diện mạo nông thôn được thay đổi và khởi sắc, cảnh
quan môi trường nông thôn được cải thiện, đời sống vật chất tinh thần của
người dân ngày được nâng cao. Tuy nhiên, trong các năm qua, việc thực
hiện chương trình MTGQ xây dựng NTM của các huyện trên toàn tỉnh
Quảng Nam nói chung, huyện Đại Lộc nói riêng vẫn còn nhiều bấp cập.
Công tác lãnh chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền chưa kịp thời, công tác
2
phối kết hợp của các ngành, đoàn thể chưa nhịp nhàng nên hiệu quả thực
hiện chưa cao; việc huy động nguồn lực trong nhân dân và các doanh nghiệp
còn hạn chế nên trong xây dựng nông thôn mới còn gặp khó khăn, nợ xây
dựng cơ bản của các xã cao, kéo dài nhiều năm chưa quyết toán được, trình
- Tác giả Nguyễn Sinh Cúc với cuốn sách Thực trạng nông nghiệp,
nông thôn và nông dân Việt Nam 1976 – 1990, (Nhà xuất bản Thống kê, Hà
Nội, 1991). Ở công trình này, tác giả đã làm rõ được thực trạng nông nghiệp,
nông thôn và nông dân ở Việt Nam từ năm 1976 đến năm 1990 trên nhiều
phương diện khác nhau. Bên cạnh việc khẳng định những thành tựu đạt
được, thì tác giả cũng nhìn nhận được những khó khăn, hạn chế, yếu kém
của nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam. Đồng thời, chỉ ra nhiều
nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếu kém đó và đòi hỏi phải có những
điều chỉnh kịp thời [5].
- Tác giả Phan Sỹ Mẫn – Hà Huy Ngọc với công trình Những bất cập
của chính sách đất đai và ảnh hưởng đối với sự phát triển nông nghiệp,
nông thôn ở Việt (Tạp chí Quản lý kinh tế, số 27, năm 2009, tr.1 – 7).
Trong công trình này, bên cạnh việc chỉ ra những yếu kém trong quản lý
đất đai, tác giả còn chỉ ra những bất cập về quyền sử dụng đất đai với
quyền sở hữu đất đai. Các tác giả nhấn mạnh đến tình trạng thu hồi đất
nông nghiệp một cách tràn lan trong những năm vừa qua khiến cho
người nông dân mất tư liệu sản xuất, không có việc làm, là m cho lực
lượng lao động nông thôn di chuyển lên thành phố ngày càng nhiều. Mặc
dù Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trong việc đền bù, giải quyết việc
làm, đào tạo nghề cho người nông dân bị thu hồi đất nhưng vẫn không
giải quyết được những phức tạp ở nông thôn [23].
Tác giả Nguyễn Kim Sơn với công trình Tái cơ cấu nền nông
nghiệp Việt Nam theo hướng giá trị tăng cao (Nhà xuất bản CTQG – Sự
Thật, Hà Nội, 2012). Cuốn sách không chỉ khái quát về nông nghiệp Việt
4
Nam sau 25 năm đổi mới, mà còn đề xuất về một nền nông nghiệp mới và
những giải pháp chiến lược cho việc phát triển nông nghiệp giá trị gia tăng
Tác giả Đỗ Kim Chung và Kim Thị Dung: Nông nghiệp Việt Nam
hướng tới phát triển bền vững (2015 – Tạp chí cộng sản ) [4].
Tác giả Nguyễn Văn Giàu: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp, nông thôn và những vấn đề đặt ra trong giai đoạn hiện nay (2015 –
Tạp chí cộng sản ) [13].
Tác giả Vũ Văn Phúc: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn - nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (2015 – Tạp chí cộng sản ) [26].
Tác giả Thào Xuân Sùng: Xây dựng mẫu hình người nông dân thế
hệ mới trong quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp và xây dựng nông
thôn mới (2018 – Tạp chí cộng sản ) [30].
Tác giả Ngọc Hải: Cần phát huy vai trò chủ thể của người nông dân
trong xây dựng nông thôn mới ở nước ta hiện nay (2018 – Tạp chí cộng
sản)
[16].
Tác giả Phạm Tất Thắng: Xây dựng nông thôn mới, một số vấn đề đặt
ra
(2015 – Tạp chí cộng sản ) [44].
Tác giả Lê Nguyễn: Xây dựng nông thôn mới – những bài học kinh
nghiệm giai đoạn 2010-2015 (2015 – Tạp chí cộng sản ) [24].
Nhìn chung, các công trình trên đều tập trung làm rõ những vấn đề lý
luận, thực tiễn, thực trạng nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hiện
nay và có nhiều giải pháp nhằm giúp cho chính sách xây dựng nông thôn
mới ở các địa phương trong cả nước ngày một hoàn thiện hơn. Qua tìm hiểu
các công trình nêu trên đã gợi mở cho chúng tôi có nhiều ý tưởng phong phú.
Chúng tôi nhận thấy rằng, cần phải tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này nhưng
6
Phương pháp nghiên cứu: Để nghiên cứu đề tài luận văn, chúng tôi sử
dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, điều tra, khái quát, khảo sát,
thống kê, so sánh, và thu thập tài liệu của UBND huyện Đại Lộc.
8
6. Y nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện
chính sách xây dựng NTM, góp phần làm rõ hơn những luận cứ khoa học
nhằm đánh giá khách quan, chính xác về thực tiễn xây dựng NTM ở địa
phương.
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên
cứu khoa học, học tập các chuyên đề có liên quan đến thực hiện chính sách
xây dựng NTM.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục các biểu và danh mục
tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 11 tiết.
9
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LY LUẬN VỀ
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm nông thôn
Nông thôn là khu vực của nền kinh tế mà trong đó các hoạt động sản
xuất kinh doanh nông nghiệp được tiến hành. Nông thôn là khu vực khác với
thành thị về không gian, hoạt động kinh tế, đặc điểm cộng đồng và sinh thái.
nâng cao.
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn
dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp.
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích
cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu
đẹp, dân chủ, văn minh [43].
1.1.4. Chính sách xây dựng nông thôn mới
Chính sách xây dựng nông thôn mới là một trong những chính sách
công nhằm xây dựng nông thôn theo những tiêu chí mới.
Chính sách xây dựng nông thôn mới là một tổng hợp các chính sách,
các thủ tục, các nguyên tắc, các nguồn lực cần thiết có thể huy động nhằm
thực hiện các mục tiêu toàn diện về phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc
phòng [43].
Xây dựng chính sách về NTM có sự tham gia của nhiều chủ thể là
các cơ quan chính trị khác nhau, bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam (gọi tắt
là Đảng), Chính phủ Việt Nam (gọi tắt là Chính phủ), Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn (Bộ NNPTNT) và các bộ ban ngành liên quan và các cơ
quan chính quyền ở địa phương. Trong đó, Đảng thông qua các kỳ đại hội
11
đại biểu toàn quốc (gọi tắt là đại hội) 5 năm một lần, đưa ra đường lối và
chiến lược phát triển chung, lâu dài (thường là 5 năm, 10 năm) trong các văn
bản như Báo cáo chính trị, Phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã
hội. Dựa trên các văn kiện đại hội này, Đảng sẽ tiến hành họp các hội nghị
trong chặng 5 năm đó, để xây dựng và thông qua các nghị quyết nhằm cụ thể
hóa đường lối đại hội và hướng dẫn cho Chính phủ thực hiện. Từ các nghị
quyết này, Chính phủ sẽ ban hành các nghị quyết, Thủ tướng Chính phủ ban
hành các quyết định để cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng và chuyển biến
Đời sống vật chất, tinh thần, của người dân ngày được cải thiện và
nâng cao, tạo nhiều mô hình sản xuất gắn với việc làm cho nhân dân, thu
nhập tăng ít nhất 1,8 lần so với năm 2015.
Tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thuỷ sản đạt 3,5 - 4%/năm; sử dựng đất
nông nghiệp tiết kiệm và hiệu quả; duy trì diện tích đất lúa đảm bảo an ninh
lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài. Phát triển nông nghiệp gắn với
phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ và dịch vụ, từng bước thực hiện công
nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn giải quyết việc làm, nâng
cao thu nhập của dân cư nông thôn gấp trên 2,5 lần so với hiện nay; lao động
nông nghiệp còn khoảng 30% , tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 50%; Phát
triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn đồng bộ; Nâng cao chất
lượng đời sống của dân cư nông thôn; Nâng cao vai trò, năng lực phòng
chống, giảm nhẹ thiên tai…Ngăn chặn, xử lý ô nhiễm môi trường, từng
bước nâng cao chất lượng môi trường ở nông thôn.
1.2.2. Nội dung chính sách xây dựng NTM
1.2.2.1. Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Quy hoạch xây dựng vùng nhằm đáp ứng tiêu chí của Quyết định
số 558/QĐ-TTg ngày 05 tháng 4 năm 2016 về tiêu chí huyện nông thôn mới
và quy định thị xã, thành phố trực thuộc cấp tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây
dựng nông thôn mới.
13
Đây là nội dung triển khai thực hiện trước một bước để làm cơ sở thực
hiện các nội dung khác. Khi triển khai quy hoạch phải rà soát, kế thừa, điều
chỉnh, bổ sung các quy hoạch đã có, quy hoạch theo yêu cầu của Chương
trình xây dựng nông thôn mới (quy hoạch tổng thể, quy hoạch xây dựng kết
cấu hạ tầng, quy hoạch các khu dân cư, quy hoạch sản xuất...).
1.2.2.2. Xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội
Trong công cuộc xây dựng nông thôn mới, văn hóa giữ vai trò rất
quang trọng trong việc nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, bảo tồn và
phát huy văn hóa dân tộc. Tiếp tục xây dựng đời sống văn hóa và môi trường
sống sáng – xanh - sạch - đẹp; bảo đảm an ninh trật tự ngày càng tốt hơn vì
vùng nông thôn là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa của cộng đồng, văn hóa
nông thôn là một bộ phận cấu thành của văn hóa dân tộc, do đó, xây dựng
đời sống văn hóa nông thôn giữ vị trí quan trọng trong nhiệm vụ xây dựng
và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền
vững đất nước.
Môi trường là yếu tố tác động trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của
người dân và bộ mặt nông thôn. Do vậy cấp uỷ và chính quyền cơ sở cần
vào cuộc, chỉ đạo sát sao để các tầng lớp nhân dân thấy rõ được trách nhiệm
của mình trong bảo vệ môi trường nói riêng và công cuộc xây dựng nông
thôn mới nói chung.
1.2.2.5. Củng cố và xây dựng hệ thống chính trị xã hội vững mạnh:
Thứ nhất, đối với vấn đề chỉ đạo, điều hành và giám sát xây dựng nông
thôn mới tại cơ sở. Tăng cường sự lãnh chỉ đạo của của cấp ủy và quản lý
điều hành của chính quyền trong việc giám sát thực hiện chương trình xây
dựng nông thôn mới. Thực tiễn việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc
gia xây dựng nông thôn mới trong những năm qua cho thấy sự lãnh chỉ đạo
của Đảng và chính quyền địa phương có vai trò quyết định. Do đó, để hoàn
thành các chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới trên
15
địa bàn tỉnh, cần tăng cường sự lãnh chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, sự quản lý
điều hành của chính quyền các cấp, trực tiếp là cấp xã. Bên cạnh đó cần tiếp
tục phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các
tổ chức chính trị cơ sở và vai trò giám sát của cộng đồng dân cư đối với các
phong trào, chất lượng các tiêu chí không bền vững. Hệ thống chính trị cơ sở
phải vận động, huy động được nguồn vốn từ dân, có tiền góp tiền, có sức
góp sức, phát huy tinh thần trách nhiệm của mỗi người dân góp phần đẩy
nhanh tiến độ thực hiện xây dựng nông thôn mới. Việc huy động có thể tiến
hành các phương thức phù hợp, thông qua quy ước, quy chế, thông qua hội
họp thôn, làng, tổ dân phố. Mỗi địa phương cần lựa chọn cách thức phù hợp,
nhất là chú ý cách thức vận động đối với người dân tộc thiểu số tại địa
phương.
Thứ tư, đối với việc tổng kết, rút kinh nghiệm trong việc xây dựng nông
thôn mới. Đảng ủy, chính quyền và các tổ chức đoàn thể cần tổng kết thực
tiễn, đúc rút những bài học kinh nghiệm để nhân rộng mô hình đối với
những xã đã hoàn thành xây dựng nông thôn mới. Đối với những xã chưa
đạt chuẩn, cần rà soát bổ sung nhu cầu thực tế, để đáp ứng tỉ lệ đạt chuẩn của
từng tiêu chí từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể đáp ứng kịp thời và hoàn thiện
các tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Trong quá trình triển khai, thực hiện
tránh tình trạng chạy theo thành tích có các xã đã về đích nông thôn mới
nhưng còn nợ các tiêu chí, nợ xây dựng cơ bản. Cần nâng cao vai trò lãnh
đạo và hỗ trợ của chính quyền địa phương, phát huy nguồn lực, sức mạnh từ
nhân dân để phát huy sức mạnh tổng thể. Ngoài ra, Đảng và chính quyền cần
tăng cường việc kiểm tra, giám sát nhằm phát hiện kịp thời những thiếu sót,
sai sót và xử lý nghiêm các trường hợp bao che, thông đồng nhằm để trục
lợi trong việc triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới.
Trong quá trình thực hiện CNH- HĐH nông nghiệp nông thôn, yêu cầu
cấp thiết là xây dựng được hệ thống chính trị xã hội ở địa phương thật sự
17
trong sạch và vững mạnh là điều rất quan trọng, mà điều quan trọng ở đây là
nâng cao trình độ, đào tạo nguồn nhân lực cho đội ngũ cán bộ tại địa phương
Tiêu chí 5: Về trường học
18
Nhóm IV:
Tiêu chí 6: Về cơ sở vật chất văn hóa
Tiêu chí 7:Về cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn
Tiêu chí 8: Về thông tin và truyền thông
Tiêu chí 9: Về nhà ở dân cư
3. Kinh tế và tổ chức sản xuất
Tiêu chí 10: Về thu nhập
Tiêu chí 11: Về hộ nghèo
Tiêu chí 12: Về lao động có việc làm
Tiêu chí 13: Về tổ chức sản xuất
4. Văn hóa - xã hội – Môi trường
Tiêu chí 14: Về giáo dục và đào tạo
Tiêu chí 15: Về y tế
Tiêu chí 16: Về văn hóa
Tiêu chí 17: Về môi trường và an toàn thực
phẩm
5. Hệ thống chính trị
Tiêu chí 18: Về hệ thống chức chính trị và tiếp cận pháp luật
Tiêu chí 19: Về quốc phòng và an ninh [41].
1.3. Các bước thực hiện chính sách xây dựng nông thôn mới
Điều 3 thông tư liên tịch số 01/VBHN-BNNPTNN, ngày 14/01/2014
của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn quy định, trong quá trình thực
hiện xây dựng nông thôn mới gồm 7 bước như sau:
- Thứ 1: Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện;
của các tổ chức đó. Chỉ có các tập đoàn lợi ích mang tính chất chế độ hóa, tổ
chức hóa mới có thể phát huy được vai trò bảo vệ lợi ích cho tổ chức mình.
Trong cơ chế kinh tế thị trường khắc nghiệt, và bối cảnh cải cách mở cửa
ngày càng sâu rộng, chính người nông dân là đối tượng đã đóng góp nhiều
nhất và đồng thời cũng hy sinh nhiều nhất cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
20