Thực thi chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VƯƠNG HỮU CHƯƠNG

THỰC THI CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI - năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VƯƠNG HỮU CHƯƠNG

THỰC THI CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TẠI HUYỆN THĂNG BÌNH
TỈNH QUẢNG NAM

Ngành: Chính sách công
Mã số: 8.34.04.02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ THÚY HẰNG

HÀ NỘI - năm 2019


KẾT LUẬN ..............................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐ

Ban chỉ đạo

BHYT

Bảo hiểm y tế

CCN

Cụm công nghiệp

HĐND

Hội đồng nhân dân

KCN

Khu công nghiệp

MTQG

Mục tiêu Quốc gia

NTM


Bình, tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2015-2018
2.2

Kết quả huy động các nguồn lực thực hiện Chương trình

40

NTM trên địa bàn cấp huyện, xã qua các năm
2.3

Kết quả xóa đói giảm nghèo ở Thăng Bình giai đoạn

43

2016-2018

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Số hiệu
hình
2.1

Tên hình
Bản đồ huyện Thăng Bình

Trang
28




1


học, công nghệ cao, công nghệ sạch trong sản xuất nông nghiệp được đẩy mạnh. Cơ
sở hạ tầng nông thôn được đầu tư, nâng cấp và cải thiện đáng kể.
Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn
mới ở huyện Thăng Bình cũng còn hạn chế. Cơ chế phân cấp về quyết định đầu tư
và phân bổ vốn theo hướng tăng cường quyền quyết định cho cơ sở là phù hợp nhờ
quy rõ trách nhiệm, nhiệm vụ cho từng cấp, từng đơn vị nhưng trong quá trình thực
hiện do còn thiếu các biện pháp đồng bộ nên lợi ích của thực hiện phân cấp chưa đạt
được, thậm chí còn nảy sinh những tác động ngoài mong đợi. Điều này là do một số
nguyên nhân. Một là trình độ, nhận thức, năng lực của một bộ phận cán bộ cấp
huyện, xã còn hạn chế. Hai là công tác chỉ đạo thực hiện còn thiếu khoa học và trình
độ quản lý của cán bộ tại một số xã còn yếu ảnh hưởng không tốt đến sự tham gia
của người dân. Ba là công tác kiểm tra, kiểm soát chưa chặt chẽ, kịp thời nên một số
nơi đã xảy ra tình trạng phê duyệt quá nhiều dự án đầu tư mà không tính đến khả năng
cân đối về nguồn vốn. Thực tế này dẫn tới tình trạng vốn đầu tư bị phân tán, dàn trải,
thời gian thi công bị kéo dài gây lãng phí và thất thoát nguồn lực của Nhà nước.
Để góp phần tìm kiếm các giải pháp thực hiện chương trình xây dựng nông
thôn mới trên địa bàn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam một cách có hiệu quả,
học viên lựa chọn đề tài "Thực thi chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện
Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam" làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bao gồm các đề tài khoa học và
sách tham khảo bàn về xây dựng nông thôn mới nói chung và thực thi chính sách
xây dựng nông thôn mới nói riêng. Trong đó có thể kể đến các công trình nghiên
cứu tiêu biểu sau.
Nghiên cứu “Chính sách kinh tế và vai trò của nó đối với phát triển nông
nghiệp, nông thôn Việt Nam” của Nguyễn Văn Bích, Chu Tiến Quang [8] đã luận

Cuốn sách “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam hôm nay và mai
sau” của chuyên gia nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, tác giả
Đặng Kim Sơn, (2008) đã nêu lên thực trạng các vấn đề về nông nghiệp, nông dân,
nông thôn hiện nay, những thành tựu cũng như những khó khăn, vướng mắc còn tồn
tại. Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả đã đề xuất những định hướng và kiến nghị
chính sách nhằm đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn ngày càng phát triển.
Cuốn sách "Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn" do
tác giả Vũ Văn Phúc chủ biên [9] là tập hợp các bài viết của các nhà khoa học, lãnh
đạo các cơ quan Trung ương, địa phương, các ngành, các cấp về xây dựng nông
thôn mới ở Việt Nam, gồm những vấn đề lý luận chung về xây dựng nông thôn mới,

3


kinh nghiệm quốc tế về xây dựng nông thôn mới, thực tiễn và kết quả bước đầu
trong xây dựng nông thôn mới ở một số địa bàn trên phạm vi cả nước, đặc biệt là
các địa bàn thí điểm xây dựng nông thôn mới.
Bài viết “Nhìn lại hơn 3 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây
dựng nông thôn mới: Kết quả và một số bài học kinh nghiệm” của Phó Thủ tướng
Vương Đình Huệ, Trưởng ban chỉ đạo Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng
nông thôn mới (2014) chỉ ra những kết quả quan trọng bước đầu trong hơn 3 năm
thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới căn cứ vào 19
tiêu chí của nông thôn mới. Đồng thời, bài viết cũng khái quát những ưu điểm và
hạn chế, vướng mắc về cơ chế, chính sách, văn bản hướng dẫn thực hiện và nguồn
vốn đầu tư cho Chương trình nhìn từ các cấp chính quyền địa phương, từ đó, đề
xuất một số giải pháp chủ yếu tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chương trình xây dựng
nông thôn mới trong thời gian tiếp theo.
Các công trình, bài viết trên đã tập trung làm rõ vấn đề phát triển nông
nghiệp và nông thôn ở Việt Nam, song chưa có một công trình nào đi sâu vào
nghiên cứu công tác thực thi chính sách xây dựng NTM trên địa bàn huyện Thăng

chính sách chủ yếu là nhóm chính sách về phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn và
nhóm chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất.
Về không gian, việc thực thi Chính sách xây dựng nông thôn mới được tìm
hiểu ở cấp huyện, cụ thể là tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
Về thời gian, việc thực thi Chính sách xây dựng nông thôn mới tại huyện
Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam được tìm hiểu trong thời gian từ năm 2015 - 2018.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của
Nhà nước về xây dựng nông thôn mới. Đồng thời luận văn cũng kế thừa những kết
quả của các công trình nghiên cứu trước về xây dựng NTM trong thời gian qua.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả sử dụng nguồn dữ liệu có sẵn và
dữ liệu khảo sát. Cụ thể như sau:
Dữ liệu có sẵn phục vụ nghiên cứu luận văn được lấy từ các văn kiện Đại hội
Đảng toàn quốc; Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam; Đại hội Đảng bộ huyện Thăng
Bình; các Nghị quyết của Đảng các cấp; các văn bản, đặc biệt là các báo cáo của
Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương, của tỉnh Quảng Nam và cấp chính
quyền của huyện Thăng Bình; Báo cáo HĐND huyện; Báo cáo sơ kết, tổng kết về
xây dựng nông thôn mới; một số công trình, bài viết nghiên cứu về chính sách xây
dựng nông nghiệp, nông thôn, nông dân và xây dựng NTM.
Sau khi cơ sở dữ liệu được thu thập và tổng hợp, học viên sử dụng phương

5


pháp phân tích tài liệu (đối với hệ thống văn bản chính sách và báo báo), phân tích
thống kê so sánh để làm sáng tỏ thực trạng hoạt động thực thi và các kết quả thực
thi chính sách xây dựng NTM.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI
CHÍNH SÁCH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Cơ sở lý luận về thực thi chính sách xây dựng nông thôn mới
1.1.1. Lý luận chung về xây dựng Nông thôn mới
1.1.1.1. Nông thôn mới
a. Nông thôn
Nông thôn là khái niệm dùng để chỉ một địa bàn mà ở đó sản xuất nông
nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Nông thôn có thể được xem xét trên nhiều góc độ: kinh
tế, chính trị, văn hoá, xã hội... Kinh tế nông thôn là một khu vực của nền kinh tế gắn
liền với địa bàn nông thôn. Kinh tế nông thôn vừa mang những đặc trưng chung của
nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế kinh tế vừa có
những đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp, nông thôn.
Luận văn này sử dụng khái niệm NTM được Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn quy định trong Thông tư số 54/2009/TT-BNNTPNT ngày 21/8/2009.
Theo đó: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành
phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã” [4]4,
tr.1].
Nông thôn là nơi sinh sống của một bộ phận dân cư chủ yếu làm việc trong
lĩnh vực nông nghiệp. Ở nước ta hiện nay có hơn 70% dân cư đang sống ở nông
thôn. Phát triển nông nghiệp nông thôn vì thế là mối quan tâm hàng đầu, có vai trò
quyết định đối với việc ổn định kinh tế xã hội đất nước.
b. Nông thôn mới
Tuy chưa có một định nghĩa chính thức, song khái niệm NTM có thể được
hiểu gắn với các mục tiêu của xây dựng NTM, cụ thể Nghị quyết số 26-NQ/TW xác
định mục tiêu của Chương trình xây dựng NTM: “Xây dựng nông thôn mới có kết
cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản
xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo
quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được
nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự

1.1.1.2. Sự cần thiết xây dựng nông thôn mới
Nông thôn Việt Nam là khu vực rộng lớn và đông dân nhất, đa dạng về thành
phần tộc người và văn hóa. Nông thôn Việt Nam không chỉ là nơi tổ chức hoạt động
sản xuất, làm ra các sản phẩm cần thiết cho cuộc sống con người và hỗ trợ cho phát
triển công nghiệp mà còn là nơi sinh hoạt, duy trì, bảo tồn, lưu giữ các phong tục,

8


tập quán của cộng đồng. Trong xu thế phát triển hiện nay, hầu như không tồn tại
một nước công nghiệp phát triển nhưng nông nghiệp, nông thôn còn lạc hậu và đời
sống nông dân còn thấp. Vì vậy, xây dựng nông thôn mới được Đảng và Nhà nước
Việt Nam cho là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trong thời gian qua, bên cạnh sự phát triển và tiến bộ ở nông thôn trên nhiều
lĩnh vực thì trong nông nghiệp và nông thôn cũng còn nhiều bất cập như: Sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động còn chậm; nhiều sản phẩm nông nghiệp chất
lượng chưa cao, năng lực cạnh tranh thấp. Tốc độ phát triển công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp, thương mại, dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu phát
triển; chất lượng lao động nông nghiệp, nông thôn còn thấp, nhất là ở vùng sâu,
vùng xa.
Từ đó, việc xây dựng nông thôn mới là hết sức cần thiết. Để đưa nông
nghiệp, nông dân, nông thôn lên vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì xây dựng NTM là cơ sở và điều kiện
quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững, gìn giữ ổn định chính trị, đảm
bảo an ninh quốc phòng, gìn giữ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi
trường sinh thái. Xây dựng NTM có thể góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã
hội nông thôn mang tính bền vững, tăng thu nhập và nâng cao mức sống người dân
nông thôn, giảm khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn.
1.1.2. Thực thi chính sách xây dựng nông thôn mới

chính sách thành những kết quả thực tế thông qua hoạt động có tổ chức của các cơ
quan trong bộ máy nhà nước, nhằm đạt tới những mục tiêu đã đề ra” [27]28, tr.
112].
Tác giả Nguyễn Hữu Hải định nghĩa,“tổ chức thực thi chính sách là toàn bộ
quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối
tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng” [23]3, tr 76].
Theo James Anderson [26]26, tr 47], “thực thi chính sách phản ánh một
quá trình thay đổi phức tạp mà các quyết định của Nhà nước được chuyển thành
các chương trình, thủ tục, các quy định, hoặc các hoạt động nhằm đạt được những
cải thiện xã hội”. Theo định nghĩa này, thực thi chính sách bao gồm việc thiết kế
các chương trình, thủ tục, các quy định, hoặc các hoạt động để cụ thể hóa giải pháp
chính sách và thực hiện các chương trình, thủ tục, quy định hoặc các hoạt động
nhằm đạt các mục tiêu của chính sách.
Như vậy, từ các khái niệm trên, có thể hiểu về thực thi chính sách xây dựng
nông thôn mới đó là việc đưa chính sách xây dựng nông thôn mới thành kết quả

10


trên thực tiễn từ việc thiết lập bộ máy thực hiện, tuyên truyền vận động thực hiện
chính sách, lập kế hoạch, triển khai kế hoạch thực hiện và kiểm tra, đôn đốc, điều
chỉnh kế hoạch cho phù hợp với tình hình thực tiễn.
1.1.2.2. Đánh giá việc thực thi chính sách công
Nhìn chung việc đánh giá tác động của các chính sách dựa trên lô-gic và cần
được đánh giá một cách toàn diện và có tính quá trình với 4 nội dung như sau.
(1) Đầu vào là các các điều kiện về ngân sách, nhân lực và nguồn lực khác.
(2) Hoạt động (đầu ra): Các hoạt động mà chủ thể tổ chức thực thi thực hiện
trong thực tế để đạt được các mục tiêu trong kế hoạch. Có thể nói rằng, đầu ra là kết
quả của cơ quan chịu trách nhiệm tổ chức thực thi chính sách. Từ các yếu tố đầu
vào thông qua các hoạt động thực tế được cơ quan tổ chức thực thi triển khai sẽ đi

chính sách với mục tiêu chính sách chung chung thường gặp khó khăn cho quá trình
tổ chức thực hiện. Các giải pháp chính sách không phù hợp sẽ khiến cho những nỗ
lực thực hiện trở thành vô nghĩa.
1.1.3.2. Nhóm yếu tố liên quan đến chủ thể thực thi chính sách
- Năng lực và phẩm chất của cán bộ thực thi chính sách: Đây là yếu tố chủ
quan có vai trò quyết định đến kết quả thực thi chính sách. Các cơ quan thực thi
phải bảo đảm đủ nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng. Điều đó có nghĩa là
cần quan tâm đến không chỉ hiểu biết, kinh nghiệm và trình độ chuyên môn mà cả
đạo đức công vụ và tinh thần trách nhiệm của những người chịu trách nhiệm tổ chức
thực thi.
- Trình độ và năng lực của người lãnh đạo quản lý: Người lãnh đạo quản lý
có vai trò hướng dẫn, lôi cuốn, thúc đẩy các cá nhân khác trong tổ chức cố gắng
thực hiện công việc của mình. Vì thế, năng lực quản lý, kiến thức, kinh nghiệm của
những người trực tiếp phụ trách các tổ chức thực thi có vai trò quyết định đến sự
thành công - thất bại của chính sách.
Năng lực và phẩm chất của cán bộ thực thi và nhà lãnh đạo quản lý quá trình
thực thi có ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ quá trình thực hiện chính sách. Vì thế,
khi phân tích thực thi chính sách cần chú ý đến phân tích cách ứng xử của nhóm đối
tượng này.
- Tổ chức bộ máy: Để thực thi chính sách, bộ máy thực hiện cần được tổ
chức phù hợp. Các cá nhân và đơn vị trong bộ máy thực thi chính sách được phân
công chức năng và nhiệm vụ, quyền và nghĩa vụ cụ thể thống nhất với mục tiêu đề
ra. Cơ chế phối hợp hoạt động giữa các tổ chức trong bộ máy thực thi là rất quan
trọng. Nếu xây dựng được cơ chế phối hợp thực thi phù hợp sẽ giúp tối đa hóa hiệu

12


quả hoạt động thực thi chính sách.
- Nguồn lực vật chất cho quá trình thực thi chính sách: Đây là điều kiện để

13


đến việc thực thi chính sách. Một chính sách chỉ có thể thành công nếu nó được
nhân dân ủng hộ. Tuy nhiên, đôi khi việc người dân không ủng hộ chính sách xuất
phát từ lí do họ chưa hiểu đúng ý đồ và lợi ích mà chính sách đem lại. Vì vậy, rất
cần phổ biến chính sách để nhân dân biết và ủng hộ.
- Sự hỗ trợ của các nhà lãnh đạo cấp trên: Việc thực thi chính sách sẽ thuận
lợi nếu có được sự hỗ trợ của các nhà lãnh đạo cấp trên. Ngược lại, nếu cấp trên
không hỗ trợ thì các tổ chức thực thi bên dưới sẽ không có đủ điều kiện vật chất
cũng như môi trường tinh thần thuận lợi cho việc thực thi.
1.2. Cơ sở thực tiễn về thực thi chính sách xây dựng nông thôn mới
1.2.1. Chính sách hiện hành của Nhà nước về xây dựng NTM dưới sự lãnh
đạo của Đảng ta
1.2.1.1. Cơ sở chỉ đạo của Đảng ta về xây dựng nông thôn mới
Đối với khu vực nông nghiệp - nông dân - nông thôn, cơ sở chỉ đạo xuyên
suốt của Đảng ta là phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn gắn với xây dựng
nông thôn mới nhằm nâng cao năng lực sản xuất cũng như đời sống của người dân
nông thôn, nhất là trong điều kiện nền nông nghiệp nước ta đang đứng trước nhiều
thách thức của quá trình hội nhập.
Đại hội XII của Đảng ta đã chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển nông
nghiệp và kinh tế nông thôn là “Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất
hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an
toàn vệ sinh thực phẩm; nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu”. Từ đó, tạo
điều kiện thuận lợi để sản phẩm nông nghiệp Việt Nam có đủ sức cạnh tranh trên thị
trường khu vực và quốc tế. Đồng thời đẩy nhanh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây
dựng nền nông nghiệp sinh thái phát triển toàn diện cả về nông, lâm, ngư nghiệp
theo hướng hiện đại, bền vững, trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và tổ chức lại sản
xuất, thúc đẩy ứng dụng sâu rộng khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học,
công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý nông nghiệp và đẩy nhanh công nghiệp

hội. Có chính sách khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại và
thu hút mạnh doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh nông nghiệp, công
nghiệp, dịch vụ tại địa bàn nông thôn. Đồng thời đẩy mạnh đào tạo nghề với các
hình thức đa dạng, phù hợp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu
nhập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn.
1.2.1.2. Chính sách hiện hành của Nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở
cấp huyện
a. Giới thiệu chung về chính sách xây dựng nông thôn mới
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương

15


trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng
do Chính phủ Việt Nam xây dựng và triển khai trên phạm vi nông thôn toàn quốc,
căn cứ tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (ngày 05
tháng 8 năm 2008).
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 2020 được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 4/6/2010, có tham vọng
đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới và đến năm 2020 có 50%
số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
Thứ nhất, về mục tiêu xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện
đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với
phát triển ngành công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy
hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường
sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất, tinh thần
của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đây là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị, an
ninh, quốc phòng. Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới bao

hoạt và sản xuất trên địa bàn xã. Đến năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn.
- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa
thể thao trên địa bàn xã. Đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn.
- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa
bàn xã. Đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn.
- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên
địa bàn xã. Đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn.
- Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ. Đến năm 2015 có 65% số
xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 85% số xã đạt chuẩn.
- Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã. Đến năm 2015 có 45%
số xã đạt chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên kiên cố hóa). Đến năm 2020 có 77% số
xã đạt chuẩn (cơ bản cứng hóa hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch).
(3) Nhóm chính sách chuyển dịch cơ cấu, PTKT, nâng cao thu nhập.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát
triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế.
- Tăng cường công tác khuyến nông, đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ
khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.

17


- Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông,
lâm, ngư nghiệp.
- Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng
mỗi sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương.
- Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp
vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn.
(4) Nhóm chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội
- Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62
huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết số 30a của Chính phủ) theo Bộ tiêu chí

nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây
xanh ở các công trình công cộng ...
(10) Nhóm chính sách nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn
thể chính trị - xã hội
- Tổ chức đào tạo các cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp
ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới.
- Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo, đủ
tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt
khó khăn để nhanh chóng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ ở các vùng này.
- Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ
thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới.
(11) Nhóm chính sách an ninh, trật tự xã hội nông thôn
- Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng, chống các
tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu.
- Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều kiện cho
lượng lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thiện nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự
xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới.
Thứ tư, về các bước thực hiện
Điều 3 Thông tư liên tịch số 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC ngày
13/4/2011 của Bộ Nông nghiệp phát triển nông thôn, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Tài
chính quy định các bước xây dựng nông thôn mới như sau:
Bước 1: Thành lập hệ thống quản lý, thực hiện.
Bước 2: Tổ chức thông tin tuyên truyền về thực hiện Chương trình xây dựng
nông thôn mới.
Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn theo 19 tiêu chí của Bộ tiêu
chí quốc gia nông thôn mới.
Bước 4: Xây dựng quy hoạch nông thôn mới của xã.

19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status