VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG TIẾN DŨNG
GIẢI PHÁP HUY ĐỘNG
NGUỒN LỰC XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TẠI HUYỆN MỸ HÀO, TỈNH HƢNG YÊN
Chuyên ngành: Kinh tế học
Mã số: 60.31.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. PHẠM VĂN KHÔI
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu ghi
trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
ĐẶNG TIẾN DŨNG
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
BCĐ
Ban Chỉ đạo
BQL
Ban Quản lý
CNH
Công nghiệp hóa
HĐH
Hiện đại hóa
HĐND
Hội đồng nhân dân
KCN
Khu công nghiệp
KTNT
Kinh tế nông thôn
MTQG
UBND
Ủy ban nhân dân
XDNTM
Xây dựng nông thôn mới
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1
Tổng hợp kết quả thực hiện các tiêu chí trên toàn huyện ...................... 34
Bảng 2.1
Tổng hợp số liệu về quỹ đất tại huyện Mỹ Hào .................................... 43
Bảng 2.2
Kết quả huy động và sử dụng nguồn lực đất đai cho xây dựng NTM so
với kế hoạch đề ra .................................................................................. 54
Bảng 2.3
Bảng kết quả huy động nguồn nhân lực cho xây dựng nông thôn mới . 55
định số 800/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông
thôn mới (NTM) giai đoạn 2010 - 2020. Với mục tiêu xây dựng nông thôn phát triển
toàn diện trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường.
Sau gần 7 năm thực hiện Chương trình, cả nước đã triển khai thực hiện với sự
vào cuộc quyết liệt của cấp ủy, chính quyền các cấp, sự hưởng ứng và tham gia tích
cực của người dân và đã đạt được kết quả bước đầu khả quan. Bộ mặt nông thôn ở
nhiều nơi được đổi mới, văn minh hơn, cơ sở hạ tầng thiết yếu được nâng cấp, hệ
thống chính trị cơ sở tiếp tục được củng cố, thu nhập và điều kiện sống của nhân dân
được cải thiện và nâng cao. Tuy nhiên, xây dựng NTM là chương trình với nội dung
phong phú, triển khai trên phạm vi rộng, thời gian triển khai ngắn, nguồn vốn hạn
hẹp… nên xây dựng NTM còn gặp nhiều khó khăn.
Mỹ Hào là một trong những huyện trọng điểm về phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh Hưng Yên, với vị trí địa lý thuận lợi, điều kiện tự nhiên, đất đai, tài nguyên
môi trường, nguồn nhân lực khá dồi dào,... Với mục tiêu sớm đưa Mỹ Hào trở thành
thị xã công nghiệp trực thuộc tỉnh Hưng Yên, trong những năm qua, huyện Mỹ Hào
đã có nhiều chính sách nhằm phát triển nông nghiệp, nông thôn, nhất là kể từ khi
triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM. Nhờ vậy, cơ cấu kinh tế
NNNT bước chuyển biến tích cực; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn được
tăng cường; các hình thức tổ chức sản xuất trong nông nghiệp phát triển đa dạng;
nhiều tiến bộ khoa học kỷ thuật được áp dụng; đời sống vật chất, tinh thần của
người dân ngày càng được cải thiện, nâng cao; hệ thống chính trị được củng cố là
1
tiền đề quan trọng để phấn đấu xây dựng Mỹ Hào sớm trở thành thị xã công nghiệp
trực thuộc tỉnh Hưng Yên.
Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế và yêu
cầu đặt ra. Nông nghiệp phát triển chưa bền vững, chuyển dịch cơ cấu và đổi mới
cách thức sản xuất tại địa phương còn chậm; nguồn lực đầu tư cho phát triển NNNT
cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu KTNT nói riêng. Phân tích thực trạng cơ cấu
KTNT Tây Bắc giai đoạn từ 1989 đến nay, rút ra những thành công và hạn chế
trong chuyển dịch cơ cấu KTNT của Vùng. Từ đó luận án đưa ra phương hướng,
quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ
cấu KTNT Tây Bắc theo hướng CNH, HĐH. [12]
- Ban kinh tế trung ương đã triển khai đề tài về "Nghiên cứu sự hình thành và
phát triển làng nghề mới gắn với chuyển dịch cơ cấu KTNT theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá vùng đồng bằng sông Hồng" (2001). Công trình đã tập
trung nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu KTNT trong quá trình công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, trong đó chú ý làm rõ vai trò quan trọng của việc hình thành và phát
triển làng nghề, một nối dung quan trong trong xây dựng nông thôn mới.[2]
- Nguyễn Tiến Dũng (2002) đã hoàn thành Luận án Tiến sỹ kinh tế, tại Đại
học Kinh tế Quốc dân với đề tài “Phát triển KTNT vùng đồng bằng sông Hồng
trong quá trình hình thành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Luận án đã
làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của KTNT trong quá trình hình
thành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Từ phân tích thực trạng phát triển
nông thôn vùng Đồng bằng sông Hồng những năm đổi mới, đến đề xuất những quan
điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm phát triển vùng Đồng bằng sông Hồng,
trong quá trình hình thành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. [19]
- Trương Duy Hoàng (2004) đã bảo vệ thành công Luận án Tiến sỹ kinh
tế, tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội với đề tài “Các giải
pháp tài chính thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu KTNT Việt Nam theo hướng CNH và
hiện đại hóa đất nước”. Luận án phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ
cấu KTNT Việt Nam và nhấn mạnh việc khai thác tối đa thế mạnh của từng
vùng, địa phương để phát triển kinh tế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho CNH, HĐH
đất nước. Thực hiện chuyển dịch cơ cấu KTNT nhằm nâng cao đời sống người
dân ở nông thôn, xóa dần chênh lệch giầu nghèo giữa thành thị và nông thôn, tạo
điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững, đủ sức cạnh tranh và hội nhập
kinh tế thế giới. [26]
nghiệp hoá ở nhiều nước, tác giả đã liên hệ vào điều kiện cụ thể của Việt Nam
những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn như vai trò của nông nghiệp trong công
4
nghiệp hoá, vấn đề cơ cấu sản xuất, giải quyết vấn đề về đất đai, lao động, môi
trường… trong CNH, HĐH đất nước [5].
- Nguyễn Hữu Tập (2010) đã bảo vệ thành công Luận án Tiến sỹ kinh tế tại
Học viện Chính trị - Bộ quốc phòng về “Phát triển KTNT và tác động của nó đến
xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân ở nước ta hiện nay”. Luận án đã làm rõ cơ
sở lý luận và thực tiễn phát triển KTNT và tác động của nó đến xây dựng thế trận
Quốc phòng toàn dân ở nước ta hiện nay; Phân tích thực trạng phát triển KTNT và
tác động của nó đến xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân; rút ra các mâu thuẫn
cần giải quyết trong phát triển KTNT và phát huy tác động tích cực của nó đến xây
dựng thế trận quốc phòng toàn dân.[14]
- Nguyễn Quang Minh (2011) với đề tài Luận án Tiến sỹ kinh tế “Phát triển
kết cấu hạ tầng KTNT trong kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở tỉnh
Thanh Hóa hiện nay”, bảo vệ tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Luận
án đã trình bày cơ sở lý luận về phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế nông thôn. Phân
tích thực trạng kết cấu hạ tầng KTNT ở tỉnh Thanh Hóa thời gian qua, để thấy được
những thành tựu, hạn chế và những vấn đề đặt ra cần giải quyết. Từ đó đề xuất
những giải pháp chủ yếu phát triển kết cấu hạ tầng KTNT tỉnh Thanh Hóa trong
thời gian tới.[15]
- PGS.TS Nguyễn Danh Sơn chủ biên (2010) cuốn sách về “NNNT, nông dân
Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại”, Nxb Khoa học
xã hội. Cuốn sách đề cập tới một số vấn đề mới về lý luận chính trị về vai trò, vị trí
của nông dân, NNNT trong đời sống chính trị, đời sống kinh tế, đời sống xã hội, đời
sống văn hóa của đất nước khi đã thoát khỏi danh sách các nước nghèo, đang bước
vào giai đoạn mới cao hơn đó là CNH, HĐH gắn chặt với phát triển kinh tế thị
trường định hướng XHCN [20].
nêu thực trạng xây dựng NTM trong thời kỳ đổi mới vừa qua, để thấy được những
thành tựu và những yếu kém, bất cập. Từ đó đề ra nhiệm vụ và giải pháp xây dựng
NTM ở Việt Nam [7].
- TS Nguyễn Quốc Thái chủ nhiệm đề tài (2012); “Tín dụng hỗ trợ xây dựng
NTM ở Việt Nam - một số vấn đề lý thuyết”, Viện kinh tế - Học viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, Hà Nội. Đề tài khoa học cấp cơ sở nêu hiện trạng và nhu cầu vốn xây
dựng NTM ở Việt Nam; Vai trò của tín dụng hỗ trợ XDNTM, tính tất yếu phải tăng
cường tín dụng hỗ trợ XDNTM; các yêu cầu của tín dụng hỗ trợ XDNTM. Trên cơ sở
6
kinh nghiệm của một số quốc gia về cung cấp tín dụng hỗ trợ xây dựng nông thôn, đề tài
đưa ra một số khuyến nghị cho Việt Nam về chính sách tín dụng hỗ trợ XDNTM [27].
- PGS.TS Vũ Văn Phúc chủ biên (2012); “Xây dựng NTM - những vấn đề lý
luận và thực tiễn”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách gồm các bài viết của
các nhà khoa học, lãnh đạo trung ương, địa phương, các ngành, các cấp về xây dựng
nông thôn mới. Các tác giả nêu những vấn đề lý luận về xây dựng nông thôn mới;
Kinh nghiệm quốc tế về xây dựng nông thôn mới; Những chủ trương đường nối của
Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông thôn, nông dân và xây dựng nông thôn
mới; Thực tiễn xây dựng NTM ở các địa phương ở Việt Nam. Trên cơ sở đó đề xuất
các nội dung, giải pháp để xây dựng NTM ở Việt Nam giai đoạn mới [22].
- GS.TS Tô Xuân Dân, GS.TSKH Lê Văn Viện, TS Đỗ Trọng Hùng đồng
chủ biên (2013); “Xây dựng NTM ở Việt Nam: Tầm nhìn mới, tổ chức quản lý mới,
bước đi mới”, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội. Cuốn sách tiếp cận hệ thống, toàn diện và
cung cấp cách nhìn khá rộng mở cho việc đổi mới triệt để nhận thức về vai trò của
nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong sự nghiệp CNH, HĐH , phát triển kinh tế
- xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng, phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước trong hội
nhập và phát triển. Tập thể tác giả phác thảo những yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra cũng
luận án đã tập trung vào một số vấn đề về việc làm và giải quyết việc làm; phân tích
các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm của người lao động nông nghiệp Thủ đô. Luận
án đã phân tích thực trạng việc làm và giải quyết việc làm trong quá trình xây dựng
nông thôn mới, đưa ra những đánh giá về thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân
của việc làm và giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp Thủ đô Hà Nội và
những vấn đề đặt ra cần giải quyết. Đặc biệt, luận án đã đề xuất định hướng và các
giải pháp cơ bản nhằm giải quyết việc làm cho lao đông nông nghiệp Thủ đô Hà
Nội trong quá trình xây dựng NTM đến năm 2020, tầm nhìn 2030. Các đề xuất là có
tính khoa học, các giải pháp là khá đồng bộ và có tính khả thi.[17]
- Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế giữa trường Đại học Kinh tế quốc dân với
Trường Đại học Quốc gia Hàn Quốc năm 2012 về “CNH nông thôn Hàn Quốc bài học
cho phát triển nông thôn Việt Nam”, với 24 bài viết của các nhà khoa học trong và
ngoài nước. Các bài viết đã đề cập khá đầy đủ các mặt của phát triển nông thôn Hàn
Quốc trên cả 2 khía cạnh: các thành tựu và những vấn đề hạn chế. Qua tổng kết, các bài
8
viết đều gợi ý các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong CNH nông thôn, trong xây
dựng NTM [11].
- Đặc biệt Kỷ yếu hội thảo tháng 5/2017 về “Huy động nguồn lực cho xây
dựng nông thôn mới” của Hội khoa học Kinh tế nông nghiệp Việt Nam phối hợp với
Học viện Phụ nữ tổ chức với nhiều bài viết về nguồn lực, huy động nguồn lực dưới
góc độ lý luận và thực tiễn, trong đó có cả những bài tổng kết những thành tựu, các
mô hình điển hình về huy động nguồn lực cho xây dựng NTM ở Thái Bình, ở các
tỉnh trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam [10].
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và bài viết đã công bố tuy có nhiều
nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về xây dựng và phát triển nông thôn mới; nhưng
chưa có công trình nào phân tích một cách có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về
Chương trình xây dựng NTM đáp ứng yêu cầu xây dựng NTM theo chủ trương của
- Phạm vi về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng theo thời gian từ
2011 -2016, các định hướng và giải pháp được đề xuất cho thời gian từ 2017 -2020.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra và thực hiện được những
nội dung cơ bản sẽ nghiên cứu đã trình bày ở trên, phương pháp nghiên cứu dự kiến
được thực hiện bao gồm:
(1) Đề tài sử dụng phương pháp luận của duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
làm cơ sở phương pháp luận nghiên cứu và sử dụng các phương pháp cụ thể sau:
-
Phƣơng pháp chuyên gia, chuyên khảo: Phương pháp chuyên gia,
chuyên khảo được sử dụng trong việc thu thập và lựa chọn các thông tin thứ cấp có
liên quan đến luận văn. Các dữ liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau
như Thư viện Quốc gia; Thư viện các trường đại học, các viện nghiên cứu; Tổng
cục Thống kê; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Các báo cáo của Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Hưng Yên, huyện Mỹ Hào, Ban Chương trình xây
dựng NTM cấp quốc gia, cấp tỉnh, huyện, xã ở huyện Mỹ Hào; các trang WEB; các
sách, báo và tạp chí đã xuất bản v.v.
Luận văn sử dụng phương pháp chuyên gia để tiếp cận các tri thức và nghiên
cứu các nhà khoa học, các nhà quản lý về các vấn đề liên quan đến xây dựng NTM
và huy động nguồn lực cho xây dựng NTM nói chung, Hưng Yên và Mỹ Hào nói
riêng. Phương pháp chuyên gia được áp dụng dưới 2 hình thức: Trao đổi trực tiếp
về các vấn đề của luận văn và xin ý kiến của các chuyên gia về một nội dung nào đó
của luận văn trong quá trình hoàn thiện.
- Phƣơng pháp thống kê kinh tế: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích
10
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HUY ĐỘNG
NGUỒN LỰC XÂY DỰNG NTM TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
1.1. Cơ sở lý luận về xây dựng NTM và huy động nguồn lực xây dựng
NTM trên địa bàn huyện
1.1.1. Khái niệm về NTM và xây dựng nông thôn mới
- Khái niệm về nông thôn, NTM: Nông thôn là vùng lãnh thổ được xem xét
trong mối quan hệ với thành thị, với tư cách 2 vùng lãnh thổ hợp thành lãnh thổ của
một quốc gia, một địa phương nhất định. Vì vậy, có người cho rằng, nông thôn là phần
lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi
cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã. Tuy nhiên có người cho rằng, nông thôn là
vùng lãnh thổ rộng lớn trong đó hoạt động nông nghiệp là chủ yếu, nơi cư trú của đa số
là nông dân, nơi có đời sống kinh tế, văn hóa còn nhiều khó khăn, tác động của các
điều kiện tự nhiên đến sản xuất và đời sống còn rất nặng nề. Để hiểu toàn diện về nông
thôn, cần phải hiểu theo cả 2 tiêu chí về hành chính và kinh tế đó.
Nông thôn mới là thuật ngữ được so sánh với nông thôn cũ. Hội nghị lần thứ
7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26NQ/TW ngày 5/8/2008 về vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Chính phủ đã
có Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về
nông thôn mới, Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 phê duyệt chương trình
Mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM 2010-2020. Đặc trưng của NTM thời kỳ CNH
- HĐH, giai đoạn 2010 - 2020, bao gồm: (1) Kinh tế phát triển, đời sống vật chất và
tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao; (20 Nông thôn phát triển theo quy
hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ;
(3) Dân trí được nâng cao, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn và phát huy; (4) An
ninh tốt, quản lý dân chủ; (5) Chất lương hệ thống chính trị được nâng cao...
- Khái niệm về xây dựng NTM: Xây dựng NTM là tổng thể các giải pháp về
kinh tế, kỹ thuật và tổ chức nhằm biến đổi nông thôn cũ, lạc hậu thành NTM. Nghị
Bốn là, do đời sống tinh thần của nhân dân còn hạn chế, nhiều nét văn hoá
truyền thống đang có nguy cơ mai một (tiếng nói, phong tục, trang phục…); nhà ở
13
dân cư nông thôn vẫn còn nhiều nhà tạm, dột nát. Hiện nay, kinh tế - xã hội khu vực
nông thôn chủ yếu phát triển tự phát, chưa theo quy hoạch.
Năm là, do yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước,
cần 3 yếu tố chính: đất đai, vốn và lao động kỹ thuật. Qua việc xây dựng nông thôn
mới sẽ triển khai quy hoạch tổng thể, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hóa. Hơn nữa, mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công
nghiệp. Vì vậy, một nước công nghiệp không thể để nông nghiệp, nông thôn lạc
hậu, nông dân nghèo khó
1.1.2. Khái niệm nguồn lực và huy động nguồn lực cho xây dựng nông
thôn mới
1.1.2.1. Khái niệm và phân loại nguồn lực
- Khái niệm nguồn lực: Theo nghĩa rộng nguồn lực là tổng thể vị trí địa lí, tài
nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường lối chính
sách, vốn và thị trường…ở cả trong nước và ngoài nước có thể được khai thác nhằm
phục vụ cho việc phát triển kinh tế của một lãnh thổ nhất định. Theo nghĩa hẹp có
nguồn lực tự nhiên và nguồn lực xã hội, nguồn lực vật chất và nguồn lực tài
chính…,
- Phân loại nguồn lực: Có nhiều cách phân loại nguồn lực, tùy theo tiêu chí
nguồn lực được phân thành các loại khác nhau. Cụ thể:
+ Theo nguồn gốc của nguồn lực có thể phân thành:
* Nguồn lực bên trong (nội lực): Bao gồm tất cả các nguồn lực bên trong
của một vùng lãnh thổ, cụ thể bao gồm 3 nguồn lực chủ yếu sau:
(1) Vị trí địa lí và tài nguyên thiên nhiên
nguồn lực cho NTM là phải huy động tối đa các nguồn lực trong điều kiện có thể
của địa phương (tỉnh, huyện, xã) để tổ chức thực hiện xây dựng nông thôn mới.
Cụ thể:
Một là, xây dựng NTM dựa theo bộ tiêu chí Quốc gia nhưng xem xét đến
điều kiện cụ thể ở từng địa phương và các Chủ trương, chính sách của Đảng và
Chính phủ.
Hai là, phát huy vai trò làm chủ của cộng đồng. Điều đó thể hiện ở: (1) Vai
trò của cộng đồng trong công tác xây dựng NTM được phát huy thông qua việc chủ
động tham gia xây dựng kế hoạch, xác định các lĩnh vực và hoạt động ưu tiên; (2)
15
Tham gia đóng góp, huy động nguồn lực xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - văn hóa xã hội và tại chỗ để thực hiện xây dựng NTM tại đại phương; (3) Tham gia giám
sát, đánh giá và hưởng lợi từ các hoạt động này; (4) Dưới sự hỗ trợ của Chính
quyền các cấp người dân nông thôn chính là chủ thể của quá trình xây dựng NTM.
Ba là, Nhà nước tạo điều kiện cho người dân nông thôn, trong đó (1) Nhà
nước đóng vai trò hỗ trợ thông qua tạo dựng môi trường pháp lý thuận lợi nhằm thu
hút nguồn lực của xã hội, cho phép phát triển hình thức cùng đầu tư giữa nhà nước
và nhân dân, nhà nước và doanh nghiệp. (2) Hỗ trợ về quản lý và đào tạo: 1) tổ chức
đào tạo, tập huấn cho cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới từ trung ương
đến địa phương, 2) Đào tạo nghề cho 1 triệu nông dân mỗi năm. (3) Hỗ trợ một
phần xây dựng cơ sở hạ tầng thông qua các chương trình mục tiêu quốc gia và các
dự án. Cho phép áp dụng hình thức cộng đồng quản lý đối với các công trình cộng
đồng đóng góp từ 50% tổng giá trị công trình.
Bốn là, kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia và dự án:
Chương trình Mục tiêu quốc gia nông thôn mới là chương trình khung. Xây dựng kế
hoạch thực hiện NTM tại địa phương phải triệt để khai thác thành tựu của 8 chương
trình quốc gia và 18 chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn.
- Cơ chế huy động: Do đặc điểm của kinh tế nông thôn, của nguồn lực nông
NTM trên địa bàn huyện
1.1.3.1. Vai trò của nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới
Nguồn lực có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của
mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ; mỗi địa phương nói chung; hay theo nghĩa hẹp
hơn nguồn lực có vai trò quan trọng trong việc xây dựng NTM tại mỗi địa
phương, cụ thể:
- Vị trí địa lí tạo thuận lợi hay gây khó khăn trong việc trao đổi, tiếp cận,
cùng phát triển giữa các vùng, các địa phương trong một nước hay giữa các quốc
gia với nhau.
- Nguồn lực tự nhiên là cơ sở tự nhiên của quá trình sản xuất, đây là những
nguồn vật chất vừa phục vụ trực tiếp cho cuộc sống, vừa phục vụ cho phát triển
kinh tế. Sự giàu có và đa dạng về tài nguyên thiên nhiên tạo lợi thế quan trọng cho
sự phát triển.
- Nguồn lực kinh tế - xã hội là dân cư, nguồn lao động, nguồn vốn, khoa học
- kĩ thuật, công nghệ, chính sách… có vai trò quan trọng để lựa chọn chiến lược
17
phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước, của mỗi địa phương trong từng
giai đoạn.
Hiểu đúng và đánh giá đúng vai trò của nguồn lực, biết huy động tối đa các
nguồn lực sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia, mỗi địa
phương sẽ xây dựng thành công NTM tại mỗi địa phương và ngược lại.
1.1.3.2. Đặc điểm nguồn lực và huy động nguồn lực cho xây dựng NTM trên
địa bàn huyện.
Nguồn lực cho xây dựng NTM một phần được Nhà nước phân bổ; phần lớn
nguồn lực còn lại phải do huy động từ các nguồn khác như:
Sức lao động của người dân, nguồn lực này huy động dễ, song phải có sự
đồng tại các địa phương được thể hiện bằng việc tự nguyện tham gia vào các hoạt
động tập thể của cộng đồng. Khái niệm ý thức cộng đồng có tính lý thuyết hơn, dựa
vào quyền lợi của những thành viên trong tương quan giữa ý thức cộng đồng với
mức độ tham gia của người dân địa phương trong quản lý phát triển. Cộng đồng là
khái niệm có 2 khía cạnh tự nhiên và tinh thần mà các thành viên cộng đồng đã từng
trải. Khái niệm các hoạt động phát triển ở nông thôn dựa vào lãnh thổ, hoặc dưới
tên gọi khác là các hoạt động phát triển ở nông thôn dựa vào cộng đồng, dẫn tới
việc phân cấp các hoạt động phát triển ở cấp địa phương.
Cộng đồng cũng thể hiện những kinh nghiệm được chia sẻ kết nối cuộc sống
của người dân trong cùng một không gian. Điều này dẫn tới tình cảm và sự gắn kết
về tinh thần. Ý thức của từng cá thể cộng đồng ảnh hưởng tới việc tự nguyện tham
gia vào các hoạt động để trợ giúp và hoàn thiện cộng đồng (McMillan,1996; St.
Anne, 1999). Ý thức cộng đồng được hình thành qua lịch sử cộng đồng. Nó bao
gồm sự tự nguyện ở lại cộng đồng, thăm hỏi lẫn nhau, có cùng cảm xúc với các
thành viên cộng đồng, tranh thủ hoặc trao đổi tình cảm với nhau,... (Zanetell và
Knuth, 2004; Buckners, 1988).
- Sự phát triển của kinh tế địa phương: Điều kiện kinh tế địa phương cũng
ảnh hưởng tới mức độ huy động các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới. Các
địa phương khác nhau có mức độ kinh tế khác nhau và có sự huy động nguồn lực
cho xây dựng NTM khác nhau. Đối với các địa phương có điều kiện kinh tế mạnh,
cũng là những địa phương còn ít khó khăn trong xây dựng NTM và việc huy động
nguồn lực cho xây dựng NTM cũng trở nên dễ dàng hơn. Ngược lại, đối với các địa
19
phương còn nhiều khó khăn, đồng nghĩa với việc có nhiều hạng mục công trình cần
phải đầu tư xây dựng mới và sửa chữa; đòi hỏi nguồn lực huy động phải lớn, trong
khi kinh tế địa phương có hạn, do đó gặp phải nhiều khó khăn trong việc huy động
nguồn lực.