Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố theo pháp luật tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam (LV thạc sĩ) - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ CẨM GIANG

KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC,
TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ CẨM GIANG

KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC,
TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN
TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành

: Luật hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số


1.3. Mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạt
động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố ....... 16
Chương 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỀ
KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ
TỘI PHẠM .................................................................................................... 22
VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ VÀ THỰC TIỄN TẠI TỈNH QUẢNG NAM ... 22
2.1. Quy định của pháp luật Tố tụng hình sự về kiểm sát việc tiếp nhận, giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố .................................. 22
2.2. Thực trạng hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo
về tội phạm và kiến nghị khởi tố trên địa bàn tỉnh Quảng Nam ..................... 32
Chương 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG KIỂM SÁT VIỆC
TIẾP NHẬN, GIẢI QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ
KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN ................ 50
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm và kiến nghị khởi tố.......................................................................... 50
3.2. Giải pháp bảo đảm thực hiện quy định của pháp luật về tiếp nhận, giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố .................................. 52
KẾT LUẬN .................................................................................................... 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS

Bộ luật hình sự

BLTTHS

Bộ luật tố tụng hình sự


Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC

Viện kiểm sát nhân dân tối cao

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là giai đoạn
mở đầu cho các hoạt động tố tụng hình sự, là những căn cứ đầu tiên để Cơ quan
điều tra (CQĐT) và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra tiến hành kiểm tra, xác minh. Hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố có vai trò quan trọng trong công tác đấu tranh
phòng chống tội phạm bởi có tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố mới có căn cứ xác định được có hay không có tội phạm xảy ra,
trên cơ sở đó, Cơ quan có thẩm quyền quyết định khởi tố vụ án hay không khởi tố
vụ án hình sự. Điều 107 Hiến pháp năm 2013 và Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân năm 2014 đã ghi nhận Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) có chức năng
thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ
Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,
cá nhân, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Với chức năng là cơ quan kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND kiểm sát tính
hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt
động tư pháp. Một trong những hoạt động quan trọng của VKSND đó là kiểm sát

khoa học, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp
nâng cao chất lượng hoạt động này là rất cần thiết, có ý nghĩa về mặt pháp lý và
thực tiễn áp dụng. Từ những lý do trên, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Kiểm
sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
theo pháp luật tố tụng hình sự từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam” làm đề tài luận
văn thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về đề tài tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố được công bố trên các sách, báo, tạp chí chuyên ngành và
một số luận văn thạc sĩ Luật học.
Có thể kể đến các bài viết, công trình nghiên cứu được đăng tải trên các tạo chí
như: Những vấn đề cơ bản về thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tố

2


giác, tin báo về tội phạm của tác giả Bùi Mạnh Cường, Tạp chí Kiểm sát số
19/2017; Vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát trong giải quyết tin báo, tố giác tội
phạm thực trạng và một số giải pháp của ThS Nông Xuân Trường; Hoàn thiện
pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và
kiến nghị khởi tố của tác giả Mai Thu Hằng, Báo Người đại biểu Nhân dân; Giải
pháp nâng cao chất lượng giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và chống oan, sai
của tác giả Đỗ Minh Tuấn;
Ngoài ra còn có một số luận văn thạc sĩ nghiên cứu vấn đề kiểm sát việc giải
quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố như: Luận văn thạc sĩ Luật học
của tác giả Nguyễn Trung Hiếu “Kiểm sát việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm
theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Ngãi”, (Hà Nội, năm
2017); Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Hà Thị Thu Phương “Kiểm sát hoạt
động tư pháp trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Yên Bái”, (Hà Nội, năm

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nói trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu, phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về kiểm sát việc tiếp nhận,
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố;
- Nghiên cứu, phân tích quy định pháp luật tố tụng hình sự về việc tiếp nhận,
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố và chức năng kiểm sát
hoạt động này của VKSND.
- Đánh giá thực trạng thực hiện chức năng kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của VKSND tỉnh Quảng Nam, từ đó
phần tích, làm rõ những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của nó
trong thực hiện hoạt động này.
- Đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động kiểm sát cho Ngành kiểm sát tỉnh Quảng Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 . Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định của pháp luật tố tụng hình
sự và thực tiễn áp dụng trong hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác,

4


tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của CQĐT, các cơ quan được giao nhiệm
vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
4.2 . Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, quy định
của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam có liên quan đến hoạt động kiểm sát việc
tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Bên cạnh vấn
đề lý luận và quy định của pháp luật, luận văn còn nghiên cứu, đánh giá thực trạng
thực hiện quy định của pháp luật về việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố.

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ viết tắt
luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác,
tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kiểm sát việc tiếp nhận,
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và thực tiễn tại tỉnh Quảng
Nam
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố của Viện kiểm sát nhân dân

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SÁT VIỆC TIẾP NHẬN, GIẢI
QUYẾT TỐ GIÁC, TIN BÁO VỀ TỘI PHẠM VÀ KIẾN NGHỊ KHỞI TỐ

1.1. Khái niệm kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm và kiến nghị khởi tố
- Khái niệm tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có ý nghĩa quan trọng đối với
các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong công
tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm và người phạm tội. Ở phương diện
điều tra khám phá tội phạm, tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố là những
thông tin ban đầu, có ý nghĩa rất lớn đối với các cơ quan có thẩm quyền để xem xét
tính chất nghiêm trọng của sự việc, là căn cứ để CQĐT tiến hành các hoạt động
điều tra, xác minh theo luật định nhằm làm rõ tính có căn cứ và hợp pháp của các
tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; mở ra một giai đoạn mới trong tố
tụng hình sự là giai đoạn điều tra vụ án hình sự thông qua quyết định khởi tố vụ án.
BLTTHS năm 2003 quy định về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội

về tội phạm và kiến nghị khởi tố tại như sau [19, Điều 144]: Nguồn tin về tội phạm
gồm tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của cơ quan, tổ chức, cá nhân,
lời khai của người phạm tội tự thú và thông tin về tội phạm do cơ quan tiến hành tố
tụng trực tiếp phát hiện.
Tố giác về tội phạm là việc cá nhân trực tiếp phát hiện và tố cáo hành vi có dấu
hiệu phạm tội với cơ quan có thẩm quyền. Pháp luật tố tụng hình sự không hạn chế
chủ thể tố giác về tội phạm là công dân Việt Nam mà có thể là bất kỳ cá nhân nào.
Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân là những thông tin về vụ việc có dấu hiệu
tội phạm do các cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện hoặc cơ quan, tổ chức nhận
được tố giác, tin báo của cá nhân và chuyển cho CQĐT có thẩm quyền. Ngoài ra,
tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng cũng là một trong những căn cứ để
khởi tố vụ án hình sự.
BLTTHS đã quy định tất cả các cơ quan nhà nước đều có quyền kiến nghị khởi
tố [19, Điều 5]. Tuy nhiên, trong thực tiễn, các văn bản kiến nghị thông thường là
của cơ quan Thanh tra, Tòa án. Đối với cơ quan Thanh tra: Trong quá trình thực

8


hiện nhiệm vụ thanh tra, nếu cơ quan Thanh tra phát hiện vụ việc có dấu hiệu tội
phạm, thì trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày phát hiện dấu hiệu tội phạm, phải
chuyển hồ sơ vụ việc đó và bản kiến nghị khởi tố đến CQĐT có thầm quyền để
xem xét khởi tố vụ án hình sự, đồng thời thông báo bằng văn bản cho VKS cùng
cấp biết. Đối với tòa án: Kiến nghị khởi tố được thể hiện bằng “Yêu cầu khởi tố
vụ án” của Hội đồng xét xử (HĐXX) [19, Điều 153]. Không phải Toà án nói chung
mà chính HĐXX thông qua việc xét xử tại phiên tòa phát hiện tội phạm có thể ra
Quyết định khởi tố vụ án hình sự hoặc yêu cầu VKS khởi tố vụ án hình sự [43].
Cơ quan nhà nước có thể là chủ thể của tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi
tố và việc phân biệt trường hợp nào cơ quan Nhà nước là chủ thể của tin báo về tội
phạm và trường hợp nào là chủ thể của kiến nghị khởi tố là rất cần thiết. Trong

chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất được quy định tại Điều 107 Hiến pháp 2013
và Đều 2 Luật Tổ chức VKSND năm 2014. Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt
động của VKSND để kiểm sát tính hợp pháp, giám sát trực tiếp các hành vi, quyết
định, hoạt động cụ thể của CQĐT, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra, Tòa án và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết
vụ án với mục đích nhằm đảm bảo cho pháp luật được áp dụng nghiêm chỉnh và
thống nhất, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong
việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh,
thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt
động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật [22].
Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, thì “kiểm sát là kiểm tra, giám sát
việc chấp hành pháp luật của Nhà nước [39, tr.867]. Theo đó, “kiểm sát” là hoạt
động kiểm tra, giám sát, với đối tượng kiểm tra, giám sát là việc chấp hành pháp luật.
Theo quy định của pháp luật TTHS thì hoạt động “kiểm sát việc tuân theo pháp
luật trong TTHS” của Viện kiểm sát nhằm kịp thời phát hiện vi phạm pháp luật của
các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp
dụng những biện pháp theo quy định của BLTTHS hiện hành để loại trừ việc vi phạm
pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này. Như vậy, kiểm sát việc tuân theo
pháp luật trong tố tụng hình sự là hoạt động của VKSND để kiểm tra tính hợp pháp
của các hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có

10


thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, của cơ quan, tổ chức, cá
nhân khác theo quy định của pháp luật [12, tr.39].
Trên cơ sở sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm kiểm sát việc tiếp nhận,
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố như sau:
Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị

vi hoạt động đã có sự thu hẹp. Từ chỗ là nhân tố chính “bảo đảm cho pháp luật
được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất”, thì nay hoạt động của VKS chỉ là
“góp phần” cho quá trình đó mà thôi và mô hình tổ chức cũng có sự thay đổi. Theo
Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) thì phạm vi hoạt động của VKS
chỉ còn “thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp”.
Tuy qua các thời kì, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND có những
thay đổi nhưng về cơ bản Hiến pháp vẫn quy định cho VKSND hai chức năng đó là
chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp.
Theo đó, khi tiến hành hoạt động kiểm sát, VKSND phải dựa trên các căn cứ pháp
lý tối thượng là Hiến pháp, BLHS, BLTTHS, Luật tổ chức VKSND và các văn bản
pháp luật khác có liên quan để xem xét, bảo đảm sự tuân theo pháp luật của các chủ
thể bị kiểm sát cũng như bảo đảm tính hợp pháp của chính các hoạt động kiểm sát
của VKSND.
Trên cơ sở Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức VKSND năm 2014 quy định về
chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp tại Khoản 1 Điều 4. Như vậy, kiểm sát việc
tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm, kiến nghị khởi tố là một trong
những nội dung đầu tiên trong hoạt động kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND
nhằm bảo đảm việc tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm và kiến nghị
khởi tố được thực hiện đúng quy định của pháp luật.
- Đối tượng và phạm vi của hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về
tội phạm và kiến nghị khởi tố
Kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị
khởi tố là hoạt động phát hiện vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lý vi phạm của các
cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tiếp nhận, giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp
hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong quá trình giải quyết nguồn tin ban đầu. Do
đó, hoạt động tuân theo pháp luật trong quá trình tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố

12



13


nghiệm tử thi hoặc gián tiếp như phê chuẩn Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp
khẩn cấp, quyết định gia hạn tạm giữ… VKS thực hiện quyền giám sát hoạt động
điều tra của CQĐT từ trước đến nay vẫn được coi là một nguyên tắc trong tố tụng
hình sự nhằm xác định được hoạt động điều tra được thực hiện đúng hay sai, có
khách quan, đầy đủ không.
Để thực hiện chức năng hiến định quan trọng này, pháp luật tố tụng hình sự trao
cho VKS các quyền hạn nhất định trong hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận, giải
quyết nguồn tin, đó là: Quyền giám sát, quyền yêu cầu, quyền hủy bỏ quyết định
trái pháp luật của CQĐT, quyền giải quyết tranh chấp về thẩm quyền.
- VKS thực hiện quyền giám sát thông qua hoạt động kiểm sát việc tiếp nhận,
giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của CQĐT, cơ quan được
giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Theo quy định của pháp luật,
CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra sau khi
tiếp nhận nguồn tin về tội phạm có trách nhiệm vào sổ tiếp nhận, ra quyết định giải
quyết nguồn tin về tội phạm và gửi cho VKS để thực hiện chức năng kiểm sát việc
tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm. Ngoài ra, CQĐT có trách nhiệm báo
cáo định kỳ việc tiếp nhận và giải quyết nguồn tin về tội phạm. Quyền giám sát của
VKS thể hiện rõ nhất trong việc kiểm sát các quyền năng và hành vi tố tụng của
CQĐT bằng việc nhất trí hoặc không nhất trí với CQĐT thông qua việc phê chuẩn,
không phê chuẩn việc bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ;
phê chuẩn, không phê chuẩn các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công
dân và các quyết định khác của CQĐT trong việc giải quyết nguồn tin về tội phạm
theo quy định.
- Trong quá trình kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, nếu
VKS phát hiện việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm không đầy đủ, vi
phạm pháp luật thì yêu cầu CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số

pháp luật của CQĐT thì quyền yêu cầu của VKS chỉ là hình thức; ngược lại, kết
quả thực hiện quyền giám sát là tiền đề để VKS thực hiện quyền yêu cầu, quyền
hủy bỏ. Không phải lúc nào VKS cũng thực hiện đầy đủ các quyền năng trên, nhất
là khi hoạt động điều tra đã tuân thủ các quy định của pháp luật thì VKS chỉ thực
hiện quyền giám sát đối với CQĐT; khi CQĐT tiến hành điều tra vụ án chưa đầy
đủ hoặc có hoạt động tố tụng không có căn cứ, VKS sẽ thực hiện cả quyền giám

15


sát, yêu cầu và hủy bỏ. Nhưng về mặt pháp lý, VKS cần có đầy đủ các quyền năng
trên mới có khả năng kiểm soát trực tiếp, toàn diện và hữu hiệu hoạt động điều tra
vụ án hình sự của CQĐT, góp phần quan trọng làm cho hoạt động điều tra tuân thủ
các quy định của pháp luật, đồng thời phát huy được vai trò là cơ quan “quyết định
việc buộc tội”, tăng cường trách nhiệm công tố trong việc tiếp nhận, giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố để hạn chế oan, sai, bảo đảm quyền, lợi
ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong tố tụng hình sự theo quy định của pháp luật.
1.3. Mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạt
động tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố
Theo Từ điển tiếng Việt năm 2006, NXB Đà Nẵng, “mối quan hệ nghĩa là sự
gắn liền chặt chẽ, có tác động qua lại lẫn nhau về mặt nào đó giữa hai hay nhiều
sự vật với nhau” [14].
Mặc dù CQĐT và VKS có chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng đều hướng
đến mục tiêu chung của hệ thống TTHS là chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội
phạm, phát hiện nhanh chóng, chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi
phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, góp phần bảo vệ chế
độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân,
tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật XHCN. Để thực hiện được mục tiêu chung đó,
giữa CSĐT và VKSND phải có mối quan hệ tố tụng chặt chẽ. Quan hệ tố tụng giữa
CQĐT và VKS là mối quan hệ quan trọng trong tố tụng hình sự, là biểu hiện của

phạm và hoạt động của hai bên trong hoạt động tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin
báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; trao đổi trước với nhau về các quyết định khởi
tố, không khởi tố, quyết định gia hạn, tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin hay áp
dụng biện pháp ngăn chặn bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp hoặc quyết
định tạm giữ; xây dựng kế hoạch, chuẩn bị nội dung và phương pháp tiến hành
bảo đảm kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Trong công tác phối hợp, VKS cũng như CQĐT phải tuân thủ nghiêm chỉnh các
quy định của BLTTHS, cân nhắc một cách toàn diện giữa yêu cầu chính trị, pháp
luật, nghiệp vụ để phối hợp với nhau trong hoạt động tiếp nhận và giải quyết tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, không cản trở hoặc làm chậm tiến độ
kiểm tra, xác minh nguồn tin. BLTTHS 2015 đã có sự phân công rõ ràng, rành
mạch về chức năng, nhiệm vụ giữa CQĐT và VKS trong tố tụng hình sự.

17


Vì tầm quan trọng của việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,
kiến nghị khởi tố và sự phối hợp giữa CQĐT, Cơ quan được giao thực hiện một số
nhiệm vụ điều tra, VKS cần được duy trì thường xuyên, lâu dài, trên cơ sở quy định
rõ ràng chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan và hướng dẫn liên ngành. Theo
Thông tư liên tịch 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-VKSNDTC quy
định việc phối hợp giữa cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện quy định của
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội
phạm, kiến nghị khởi tố do Bộ trưởng Bộ Công an - Bộ Quốc phòng - Bộ Tài chính
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Viện kiểm sát nhân dân tối cao (TTLT
01/2017), khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
Cơ quan có thẩm quyền phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Tôn trọng và bảo vệ
quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; mọi tố
giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết
kịp thời theo trình tự, thủ tục của BLTTHS năm 2015 và quy định tại Thông tư liên

nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật trao cho VKS xét cho cùng là để VKS chủ
động nắm chắc và kiểm sát chặt chẽ toàn bộ quá trình giải quyết vụ án, đưa ra
quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án chính xác, đúng tội, đúng pháp
luật, thuyết phục, hạn chế oan, sai ngay từ những giai đoạn đầu của tố tụng hình sự
[40].
Quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị
khởi tố là quyền tự thân, xuất phát từ chức năng, vai trò, vị trí của VKSND trong
hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng. VKSND thực hành quyền công tố, kiểm sát
việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố nhằm đảm
bảo việc tiếp nhận, giải quyết nguồn tin của CQĐT đúng đắn, tạo tiền đề cho những
hoạt động tố tụng sau này. Trong quá trình thực hiện chức năng của mình, VKS
luôn phải bám sát các hoạt động của CQĐT. Trong khi hoạt động kiểm tra, xác
minh ban đầu được tiến hành trên phạm vi rộng, nhiều nội dung tại nhiều thời điểm
khác nhau đòi hỏi VKS phải có những hình thức phù hợp để thực hiện nhiệm vụ
của mình đồng thời cần đến sự hỗ trợ, tạo điều kiện từ phía CQĐT.
Tuy nhiên, quyền năng của VKS không phải là tuyệt đối đối với CQĐT. Trong
phạm vi quyền hạn của mình, CQĐT có thể thực hiện sự chế ước ngược lại đối với

19


VKS thông qua quyền kiến nghị, đề nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ
quan điểm đúng đắn trong giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.
Nếu giám sát là việc kiểm tra, theo dõi thì chế ước bao gồm cả kiểm tra, theo
dõi và thực hiện các biện pháp khác nhằm bảo đảm hoạt động được thực hiện đúng
quy định của pháp luật. Đối tượng của sự chế ước chính là quyết định, hành vi của
CQĐT và ĐTV trong quá trình tiến hành tố tụng, còn đối với những vấn đề khác
của CQĐT như: Tổ chức, bộ máy của CQĐT hoặc những hoạt động khác không
phải là tiến hành tố tụng (hành chính, dân sự, kỷ luật nội bộ...) thì không phải là đối
tượng chịu sự điều chỉnh của VKS.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status