VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN TRUNG
TỘI BUÔN LẬU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG:
TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ PHÒNG NGỪA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN TRUNG
TỘI BUÔN LẬU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH AN GIANG:
TÌNH HÌNH, NGUYÊN NHÂN VÀ PHÒNG NGỪA
Ngành: Tội phạm học và Phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN VĂN HIỂN
HÀ NỘI, năm 2019
LỜI CAM ĐOAN
tới ............................................................................................................61
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa tình hình tội buôn lậu trên
địa bàn tỉnh An Giang………………………………………………………75
KẾT LUẬN .................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. ANTT
: An ninh trật tự
2. BLHS
: Bộ luật hình sự
3.CA
: Công an
4. TAND
: Tòa án nhân dân
5. TA
: Tòa án
6. VKSND
14. HĐTP
: Hội đồng thẩm phán
15. TX
: Thị xã
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Thực trạng tình hình buôn lậu ở An Giang (2013 – 2017) ............. 17
Bảng 1.2. Tỉ trọng tội buôn lậu so với mức độ tổng quan của tình hình tội
phạm trên địa bàn tỉnh tỉnh An Giang giai đoạn 2013 – 2017 ........................ 17
Bảng 1.3. Cơ số tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2013- 2017
Bảng 1.4: Diễn biến của tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn
2013- 2017………………………………………………………………… 18
Bảng 1.5: Cơ cấu của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An Giang giai
đoạn 2013- 2017……………………………………………………………..
Bảng 1.6: Mật độ tội buôn lậu từ năm 2013- 2017 ở 11 đơn vị cấp huyện của
tỉnh An Giang……………………………………………………………… 19
Bảng 1.7: Cấp độ nguy hiểm của tình hình tội buôn lậu giai đoạn 2013-2017
trên cơ sở kết hợp hai yếu tố dân cư và diện tích……………………………
Bảng 1.8. Cơ cấu số vụ buôn lậu trong tổng số vụ phạm tội xâm phạm trật tự
quản lý kinh tế tỉnh An Giang giai đoạn 2013-2017....................................... 24
Bảng 1.9. Cơ cấu của tình hình tội buôn lậu tỉnh An Giang giai đoạn 2013 –
2017 theo giới tính .......................................................................................... 25
Bảng 1.10. Cơ cấu về độ tuổi của người phạm tội buôn lậu ở An Giang giai
đoạn (2013 – 2017) ......................................................................................... 26
Bảng 1.11. Cơ cấu của tình hình tội phạm buôn lậu tỉnh An Giang giai đoạn
1
kịp thời do đó công tác đấu tranh phòng chống tội pham buôn lậu chưa đạt
được hiệu quả mong muốn. Vì vậy, việc nghiên cứu thực trạng, tìm ra nguyên
nhân của tội phạm buôn lậu, dự báo xu hướng biến động để xây dựng giải pháp
phòng ngừa có hiệu quả nhóm tội phạm này trên địa bàn tỉnh An Giang là một
việc làm có tính cấp thiết trong tình hình hiện nay. Xuất phát từ lý do đó, tác
giả đã lựa chọn vấn đề: “Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An Giang: Tình hình,
nguyên nhân và phòng ngừa” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, ở nước ta đã có một số công trình, đề tài nghiên
cứu khoa học có liên quan được công bố như:
- Nguyễn Đức Bình (2000), “Đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu hoặc
vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới”, Luận án Tiến sĩ luật
học, Đại học luật Hà Nội, Hà Nội.
- Dương Thị Nhàn (2006), “Đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh”, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã
hội, Hà Nội.
- Nguyễn Hữu Hoan (2011), “Hoạt động nghiệp vụ trinh sát trong đấu
tranh phòng, chống tội phạm trên tuyến giao thông đường thủy nội địa của
lực lượng Cảnh sát đường thủy”, Luận án Tiến sĩ luật học, Học viện CSND.
- Lê Đặng Quốc Phong (2012), “Phòng ngừa tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh
Kiên Giang”, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội.
- Nguyễn Thùy Trang (2016), “Tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn:
Tình hình, nguyên nhân và phòng ngừa”, Luận văn thạc sĩ luật học, Học viện
khoa học xã hội, Hà Nội. Và một số đề tài nghiên cứu khoa học các cấp của các
cơ quan có chức năng đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu. Các công trình
nghiên cứu trên đã làm rõ về mặt lý luận và thực tiễn trong công tác đấu tranh
phòng chống tội buôn lậu, hoặc đề cập đến công tác đấu tranh chống buôn lậu
năm (từ năm 2013 đến 2017).
3
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung, đề tài được thực hiện dưới góc độ tội phạm học thuộc
chuyên ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm;
- Về tội danh, đề tài đề cập đến tình hình tội buôn lậu được quy định tại
điều 188 của Bộ luật hình sự 2015.
- Về không gian, đề tài sử dụng số liệu thực tế trên địa bàn tỉnh An
Giang, bao gồm số liệu thống kê của cơ quan Công an, Tòa án tỉnh An Giang.
- Về thời gian, đề tài nghiên cứu được giới hạn trong thời gian từ 2013
đến 2017.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận
chủ nghĩa Mác-Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng làm
cơ sở, phương pháp luận cho việc nghiên cứu để giải quyết những vấn đề về
lý luận tình hình tội buôn lậu, thực trạng, nguyên nhân và điều kiện tội buôn
lậu từ đó đề ra các giải pháp phòng ngừa tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An
Giang làm cơ sở thực tiễn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp
nghiên cứu: Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, và phương pháp
diễn giải.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Về mặt lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ
nhiều vấn đề lý luận về tình hình tội buôn lậu, nguyên nhân và điều kiện của tội
buôn lậu, nhân thân người phạm tội và giải pháp phòng ngừa tội buôn lậu trên
địa bàn tỉnh An Giang.
6.2. Về mặt thực tiễn: Kết quả của luận văn có thể giúp các cơ quan tổ
sự nhìn nhận về nó ở mỗi quốc gia cũng chỉ là những hiện tượng kinh tế xã hội
tiêu cực cần được quan tâm. Trong đó, cần đặc biệt chú ý đến các trường hợp
buôn lậu gây những thiệt hại nghiêm trọng cho xã hội đều được điều chỉnh
bằng quan hệ pháp luật hình sự. Tuy nhiên, việc nhận diện về buôn lậu ở mỗi
quốc gia và ở các giai đoạn phát triển về lịch sử cũng có những quan niệm khác
nhau. Chẳng hạn, ở Việt Nam thì thuật ngữ buôn lậu đã xuất hiện từ rất lâu và
ngày xưa đã được các nhà ngôn ngữ học Việt Nam cho rằng đó là các hành vi:
“buôn bán hàng trốn thuế hoặc hàng quốc cấm” hoặc là hành vi “mua bán
những mặt hàng cấm và trốn đóng thuế theo quy định”. Như vậy, có nghĩa là
trong kinh doanh, buôn bán nếu có các hành vi trốn lậu, gian lận… thì đều
được xem là buôn lậu. Khác với nhận thức trên, thuật ngữ buôn lậu có nguồn
gốc tiếng Anh “Smuggle” và trong tiếng Việt có nghĩa là: “hành vi mang hàng
hoá một cách bí mật và không hợp pháp vào hoặc ra khỏi một nước” để buôn
bán kiếm lời và thực chất nó là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới; quan
điểm này đã được nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận; Đối với nước ta, theo
Từ điển Tiếng Việt thì buôn lậu có nghĩa là: “buôn bán hàng cấm hoặc hàng
6
trốn thuế”[27, tr.121]; theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam
thì buôn lậu là: “hành vi buôn bán trái phép qua biên giới thể hiện dưới các
dạng: buôn bán các loại hàng hoá mà Nhà nước cấm nhập khẩu, xuất khẩu,
nhưng đã tìm mọi cách để trốn thuế, sử dụng giấy tờ giả, giấy tờ không hợp lệ
hoặc trái với quy định về xuất khẩu, nhập khẩu”[9, tr.97] ; còn tại Điều 188 Bộ
luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, bị coi là tội phạm buôn lậu
nếu có hành vi buôn bán trái phép qua biên giới “hàng hoá, tiền tệ Việt Nam,
ngoại tệ, kim khí quý, đá quý có giá trị từ 100 trăm triệu đồng trở lên hoặc
dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi này” [7, tr.42].
Như vậy, từ những phân tích ở trên cho thấy Việt Nam cũng có cùng quan
Chính sách xuất, nhập khẩu của Nhà nước ta luôn thay đổi theo chính
sách kinh tế phù hợp với cơ chế thị trường, vì vậy việc xác định khách thể
trực tiếp của tội buôn lậu có thể thay đổi tùy thuộc vào chính sách xuất nhập
khẩu của Nhà nước.
Đối tượng tác động của tội buôn lậu là hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại
tệ, kim khí quý, đá quý, vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá và hàng cấm.
Khi xác định đối tượng tác động, nếu cần phải trưng cầu giám định của cơ
quan chuyên môn thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải trưng cầu giám định.
- Mặt khách quan của tội phạm
+ Hành vi khách quan:
Đặc trưng của hành vi khách quan tội buôn lậu đó là buôn bán trái pháp
luật nhằm mục đích thu lợi [42, tr.245].
Việc buôn bán trái phép được thể hiện ở chỗ mua hoặc bán không có
giấy phép hoặc không đúng với nội dung giấy phép xuất, nhập khẩu và các
quy định khác của Nhà nước về hải quan (ví dụ: Giấy phép nhập khẩu là máy
móc, thiết bị dùng cho sản xuất nông nghiệp nhưng thực tế lại mua bán máy
móc sử dụng cho tiêu dùng như tủ lạnh, xe gắn máy, ti vi…)
8
Trường hợp kinh doanh xuất nhập khẩu đúng giấy phép nhưng khai không
đúng số lượng (khai ít hơn số lượng thực nhập) hoặc nhập vượt quá mức mà giấy
phép xuất, nhập khẩu cho phép thì cũng bị coi là buôn lậu nhưng chỉ truy cứu
trách nhiệm đối với phần chưa khai hoặc xuất nhập khẩu vượt mức cho phép.
Thủ đoạn của tội buôn lậu rất đa dạng. Có nhiều trường hợp người phạm
tội móc nối với cơ quan Hải quan để nhập hàng không đúng với giấy phép.
Một thủ đoạn buôn lậu thường gặp và cũng khó phát hiện, đó là việc nhập
hàng hoá núp dưới hình thức tạm nhập, tái xuất. Nhưng khi hàng đã nhập về
rồi thì không xuất mà tiêu thụ ngay trong nước.
phạm tội buôn lậu được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân, hành vi phạm tội
buôn lậu được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp
nhân”[42, tr.248].
- Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm thực hiện bằng hình thức lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội nhân
thức được hành vi buôn lậu qua biên giới, qua khu vực phi thuế quan là nguy
hiểm cho xã hội nhưng mong muốn thực hiện hành vi đó. Động cơ phạm tội là
động cơ tư lợi, nhưng động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu
thành tội phạm [42, tr.248].
- Hình phạt
Tội buôn lậu có 4 khung hình phạt tương ứng với 04 khoản (từ khoản 1
đến khoản 4)
+ Khoản 1: Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc
phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; Khoản 2: Phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến
1.500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 03 năm đến 07 năm; Khoản 3: Phạt tiền
từ 1.500.000.000 đồng đến 5.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 7 năm đến 15
năm; Khoản 4: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
Ngoài ra, điều 188 BLHS năm 2015 còn bổ sung thêm trường hợp phạm
tội buôn lậu đối với pháp nhân thương mại, theo đó: “Phạt tiền từ
10
300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng nếu thực hiện hành vi tại khoản 1;
Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ
1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng; Phạm tội thuộc trường hợp quy
định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến
7.000.000.000 đồng; Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều
này, thì bị phạt tiền từ 7.000.000.000 đồng đến 15.000.000.000 đồng hoặc bị
đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm; Phạm tội thuộc
lượng và thông số về chất có mối liên hệ, tác động qua lại tạo thành một thể
thống nhất, biện chứng. Sự thay đổi của mỗi thông số cụ thể đều dẫn đến thay
đổi tình hình tội phạm. Trong quá trình nghiên cứu tìm ra các qui luật nội tại
của tình hình tội phạm buôn lậu để đấu tranh phòng, chống có kết quả không
thể không sử dụng các số liệu thống kê hình sự. Trên thực tế, những số liệu
thống kê này là một công cụ cần thiết, quan trọng để nhận thức và xem xét
tình hình tội phạm buôn lậu. Trên thực tế chỉ có một phần tội phạm buôn lậu
xảy ra được các cơ quan chức năng phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử và được
đưa vào thống kê hình sự hay còn gọi là phần tội phạm rõ. Còn một phần tội
phạm buôn lậu đáng kể khác xảy ra trên thực tế, nhưng do nhiều lý do khác
nhau mà các cơ quan chức năng chưa phát hiện được, do đó chưa đưa vào
thống kê hình sự - đó là phần tội phạm ẩn. Quan hệ giữa phần tội phạm ẩn và
tội phạm rõ là quan hệ bù trừ trong một chỉnh thể, tức là khi phần tội phạm rõ
lớn thì phần tội phạm ẩn nhỏ và ngược lại. Do vậy, cuộc đấu tranh phòng,
chống tội phạm buôn lậu cần phải hướng vào việc loại trừ, phát hiện các tội
phạm ẩn, coi đây là mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài của cuộc đấu tranh
phòng, chống tội phạm
1.2. Tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn
2013- 2017
An Giang là một tỉnh thuộc khu vực khu vực miền Tây Nam Bộ với diện
12
tích tự nhiên 3.406,2 km2; phía Bắc giáp hai tỉnh Kandal và Takéo của
Campuchia, phía Nam giáp thành phố Cần Thơ, phía Đông giáp tỉnh Đồng
Tháp, phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang. Tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính
trực thuộc, gồm 02 thành phố trực thuộc tỉnh (thành phố Long Xuyên và
thành phố Châu Đốc), 01 thị xã (thị xã Tân Châu) và 08 huyện (An Phú, Phú
Tân, Tịnh Biên, Tri Tôn, Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn, Chợ Mới); có
Mâu - Campuchia đối diện với xã Vĩnh Ngươn - thị xã Châu Đốc. Trong mùa
lũ kéo dài từ 3 - 4 tháng, hoạt động vận chuyển hàng nhập lậu bằng đường
thủy càng thuận tiện hơn, gây rất nhiều khó khăn cho lực lượng chức năng
trong việc tuần tra, kiểm soát phát hiện, ngăn chặn, bắt giữ các đối tượng
buôn lậu hàng hóa, phương tiện buôn lậu.
Thủ đoạn hoạt động ngày càng tinh vi, đa dạng và thường xuyên thay đổi
để đối phó với các lực lượng chức năng. Phương thức chủ yếu là chia nhỏ
hàng hóa, các loại linh kiện để vận chuyển bằng nhiều loại phương tiện như
xe đạp, xe máy, ô tô khách, ô tô tải, ghe, tàu máy … kể cả đi bộ đai vác. Trên
địa bàn tỉnh An Giang đã hình thành một số đường dây vận chuyển thuê hàng
nhập lậu từ biên giới về nội địa, có tổ chức chặt chẽ, sử dụng điện thoại di
động trao đổi thông tin, báo động. Có các nhóm chuyên canh đường thường
xuyên theo dõi toàn bộ hoạt động của cán bộ ở trụ sở các đơn vị chức năng
chống buôn lậu để dễ dàng hoạt động. Ngoài ra còn có các thủ đoạn khác như
sử dụng hóa đơn hợp pháp xoay vòng để vận chuyển hàng nhập lậu; thay bao,
đổi nhãn thành hàng nội địa để vận chuyển, mua bán hàng nhập lậu; cất giấu
xen lẫn hàng hợp pháp, làm hầm bí mật trên các phương tiện như ô tô, ghe
tàu… Một vài nhóm đối tượng sử dụng xe mô tô tốc độ cao công khai vận
chuyển hàng nhập lậu trên các tuyến đường bộ, đặc biệt là quốc lộ 91 gây mất
trật tự an toàn giao thông, tạo hình ảnh không tốt về tình hình an ninh trật tự ở
địa phương.
14
Các đầu nậu thuê mướn đông đảo người đai vác, vận chuyển hàng nhập
lậu nhỏ lẻ, liên tục, ồ ạt trên tuyến biên giới, phân tán cất giấu hàng hóa nhiều
nơi; có sự thỏa thuận giao trách nhiệm quản lý hàng hóa để không để lộ mặt
chủ hàng, tránh bị xử lý. Do được giao khoán hàng hóa vận chuyển nên người
đai vác sẵn sàng chống đối lực lượng kiểm soát, giành giật hàng hóa khi bị bắt
định của pháp luật hình sự ở từng đơn vị hành chính - lãnh thổ hay trên phạm
vi toàn quốc, trong những khoảng thời gian nhất định và được ghi nhận kịp
thời trong thống kê hình sự” [22, tr.138]. Như vậy, phần hiện của tình hình
tội buôn lậu bao gồm tổng thể những hành vi phạm tội buôn lậu và chủ thể
của các hành vi đó đã được phát hiện, xử lý về hình sự và có trong thống kê
tội phạm chính thức của cơ quan có thẩm quyền. Phần hiện của tình hình tội
buôn lậu được xác định thông qua những thông số phản ánh những đặc điểm
định lượng và định tính, được biểu hiện qua các thông số gồm mức độ, diễn
biến, cơ cấu và tính chất của tình hình tội phạm loại này.
1.2.1.1. Thực trạng (mức độ) của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh
An Giang trong giai đoạn (2013-2017)
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Võ Khánh Vinh “thực trạng của tình hình tội
phạm là số lượng các tội phạm đã được thực hiện và những người thực hiện
các tội phạm đó ở một địa hình nhất định và trong một khoảng thời gian nhất
định” [21- tr.62]; Thực trạng của tình hình tội buôn lậu là tổng số vụ buôn lậu
và số bị cáo đã bị các TA trên địa bàn tỉnh An Giang xét xử, tuyên án bằng bản
án kết tội có hiệu lực pháp luật. Để mô tả và đánh giá một cách chính xác thực
trạng của tình hình tội phạm buôn lậu trên địa bàn tỉnh An Giang, tác giả sử
dụng số liệu thống kê của TAND tỉnh từ năm 2013 đến 2017, số kết quả xét xử
sơ thẩm các vụ án hình sự, 200 bản án hình sự sơ thẩm, bản kết luận điều tra và
các báo cáo tổng kết hàng năm để làm chất liệu nghiên cứu. Dưới đây là bảng
số liệu chi tiết về số vụ cũng như số người phạm tội buôn lậu đã bị truy tố, xét
xử trên địa bàn tỉnh An Giang trong 5 năm.
16
Bảng 1.1. Thực trạng tình hình buôn lậu ở An Giang (2013 – 2017)
Tội phạm buôn lậu
2017
45
56
Tổng
285
455
Nguồn: Thống kê hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
Qua số liệu thống kê (Bảng 1.1) cho thấy, trong 5 năm từ 2013 đến 2017,
trên địa bản tỉnh An Giang đã xảy ra 285 vụ buôn lậu với 455 bị cáo. Trong
đó tập trung chủ yếu vào năm 2013 với 76 vụ và 147 bị cáo. Như vậy, trung
bình mỗi năm trên địa bàn tỉnh xảy ra 57 vụ với khoảng 91 đối tượng phạm
tội buôn lậu bị đưa ra xét xử.
Để thấy rõ hơn thực trạng tình hình tội phạm buôn lậu trên địa bàn tỉnh
An Giang từ năm 2013 – 2017, chúng ta cần so sánh tình hình tội phạm buôn
lậu với tình hình tội phạm nói chung xảy ra trên địa bàn tỉnh An Giang.
Bảng 1.2. Tỉ trọng tội buôn lậu so với mức độ tổng quan của tình hình tội
phạm trên địa bàn tỉnh An Giang giai đoạn 2013 – 2017
Năm
Buôn lậu
Tội phạm chung
Tỉ lệ %
8,1
10,2
2015
62
94
631
954
9,8
9,9
2016
46
75
583
726
7,9
4.143
9,2
10,9
Nguồn: Thống kê hình sự của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
Qua bảng (Bảng 1.2) chúng ta thấy rằng, trong thời gian từ năm 2013 –
2017 trên toàn tỉnh An Giang đã xảy ra 3.092 vụ phạm tội nói chung với tổng
số 4.143 bị cáo trong đó có 285 vụ buôn lậu với 455 bị cáo chiếm khoảng
9,21% tổng số vụ án và chiếm 10,9% tổng số bị cáo trên toàn tỉnh. Đó là một
tỉ lệ đáng kể trong cơ cấu tội phạm bởi lẽ tội buôn lậu là hành vi nguy hiểm
cho xã hội, gây ra những hậu quả, tác hại to lớn, làm suy yếu các ngành công
nghiệp, sản xuất; giảm nguồn thu ngân sách, ảnh hưởng tới chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương, đất nước, sự tồn tại của loại tội phạm
này gây mất ổn định về ANTT tại địa phương, gây bức xúc trong đời sống của
nhân dân.
Đánh giá thực trạng của tình hình tội phạm không thể bỏ qua cơ số tội
phạm, nhất là khi đánh giá thực trạng của tình hình tội phạm qua các khoảng
thời gian khác nhau trên một địa bàn hoặc ở các địa bàn khác nhau trong cùng
khoảng thời gian nhất định. Cơ số tội phạm được xác định để tìm hiểu mức độ
phổ biến của tội phạm trong dân cư. Cơ số tội phạm được tính theo tỉ lệ số tội
phạm (hoặc vụ phạm tội) trên 100.000 người dân hoặc 10.000 người dân. Cơ
số tội phạm luôn được xác định gắn liền với một địa bàn nhất định và trong
một khoảng thời gian nhất định.
Bảng 1.3: Cơ số tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An Giang
giai đoạn 2013- 2017
Năm
Số bị cáo
2016
75
2.245.000
29.933
2017
56
2.297.600
41.029
Trung bình
91
2.149.540
23.621
Nguồn: Cục thống kê tỉnh An Giang, Thống kê của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang
1.2.1.2. Diễn biến của tình hình tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh An
Giang giai đoạn 2013- 2017
Diễn biến của tình hình tội phạm là sự vận động và sự thay đổi của thực
trạng và cơ cấu của tình hình tội phạm trong một khoảng thời gian nhất định
57% (- 43%)
2015
62
82% (- 18%)
94
64% (- 36%)
2016
46
60% (- 40%)
75
52% (- 48%)
2017
45
59% (- 41%)
56