VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TIÊU PHI LỰC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
QUẢN LÝ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TIÊU PHI LỰC
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
QUẢN LÝ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. HỒ TẤN SÁNG
HÀ NỘI, năm 2019
nguyên
nhân
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT
LƯƠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ TRẬT TỰ ĐÔ THỊ
TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG TRONG GIAI
ĐOẠN HIỆN NAY ..................................................................................................58
3.1 Phương hướng thực hiện chính sách quản lý trật tự đô thị .................................58
3.2.
Các
giải
......................................................................................................63
pháp
KẾT LUẬN ..............................................................................................................78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CSC
: Chính sách công
QLNN
: Quản lý nhà nước
phạm sẽ phải nộp phạt 86 USD; Tại Hàn Quốc, thay vì nộp phí thu gom rác thải, thì
các hộ gia đình phải mua túi đựng rác từ chính quyền thành phố. Bản thân cấu tạo
các loại túi đựng rác đã hướng dẫn cho dân cách phân loại, tỉ mỉ tới mức phải phân
loại rác theo kích thước và tập trung những rác có thể tái chế, như: giấy, plastic, đồ
gỗ… vào một nơi nhất định. Thùng rác có nắp đậy, đồng thời sử dụng khóa từ, các
hộ ở khu dân cư được sở hữu thẻ từ để sử dụng các thùng rác này. Khoản thu từ tiền
bán túi đựng rác được chính quyền địa phương dùng để hỗ trợ cho việc thu gom,
chuyên chở rác, cả tái chế. Để mọi người có thoái quen mới, Chính quyền nước này
đã đưa ra mức phạt (khoảng gần 3.000.000 vnđ) với những hộ nào vi phạm quy
định. Ngoài việc bị phạt tiền những người vi phạm còn bị nêu tên trên báo địa
phương và bị coi như người vi phạm luật; Tại Thái Lan, năm 2015, các quầy bán
hàng rong trên những con phố đông đúc, nhộn nhịp ở Bangkok phải đối mặt với
cuộc truy quét của chính quyền thành phố. Những nỗ lực này nhằm đầu tranh giải
toả khu vực cho người đi bộ. Trong chiến dịch dẹp vỉa hè, chính quyền Thái Lan
hứa hẹn sẽ “làm sạch” để du lịch nước này ngày càng phát triển.
Ở Nước ta, trong thời gian qua, cùng với quá trình CNH, HĐH đất nước, tốc
độ phát triển đô thị diễn ra nhanh chóng. Việt Nam hiện nay, đã có khoảng 745 đô
thị, trong đó, có gần 110 thành phố, thị xã. Việc xây dựng và phát triển các đô thị
này đòi hỏi phải được thực hiện theo đúng quy hoạch phê duyệt, và đúng với tiêu
1
chuẩn cho phép đối với từng khu vực. Tuy nhiên trên thực tế việc vi phạm TTĐT,
không còn là chuyện xa lạ của thế giới trong thời gian qua. Tình hình vi phạm
TTĐT đã và đang là một vấn đề nóng trong thực tế của đô thị nước ta hiện nay;
dường như đây chính là mặt trái của đô thị hoá với tốc độ quá nhanh trong khi
QLNN về đô thị lại chưa đáp ứng kịp. Hiện tượng xây dựng sai phép không đúng
với nội dung giấy phép xảy ra ở nhiều nơi trên địa bàn thành phố Đà Nẵng,thành
phố Hải Phòng, thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh…có thể nhận thấy các
một vùng đất và con người Đà Nẵng.
Bên cạnh những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội đã đạt được, trong
những năm qua của thành phố Đà Nẵng nói chung và quận Hải Châu nói riêng đang
phải đương đầu với những khó khăn, thách thức của quá trình đô thị hóa – nhất là
trong công tác quản lý đô thị. Cụ thể là trên các lĩnh vực quản lý trật tự xây dựng,
trật tự vỉa hè và vệ sinh môi trường những khó khăn thách thức đó là: Một số công
trình, dự án triển khai chưa bảo đảm các thủ tục đầu tư; tình trạng xây dựng sai
phép, không phép có xu hướng tăng; một số công trình xây dựng không bảo đảm
chất lượng, an toàn lao động, vệ sinh, cảnh quan môi trường, gây bức xúc trong dư
luận; trách nhiệm của một số cán bộ lãnh đạo, công chức, viên chức trong thực thi
nhiệm vụ còn hạn chế.
Thực tế đó cho thấy, cần phải có những nghiên cứu khoa học để tìm ra những
giải pháp phục vụ cho quá trình quản lý trật tự đô thị thành phố Đà Nẵng nói chung
và quận Hải Châu nói riêng. Đề tài “Thực hiện chính sách quản lý trật tự đô thị trên
địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng”, hy vọng đáp ứng được phần nào đòi
hỏi bức thiết đang đặt ra.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua, đã có nhiều giáo trình, công trình khoa học, các nghiên
cứu, hội thảo, bài viết về QLNN về TTXD đô thị, đáng chú ý như:
- Đỗ Hoàng Toàn (2005), “Giáo trình Quản lý Nhà nước về kinh tế”. Tác giả
đã nêu lên vai trò của Nhà nước, nêu lên hệ thống các cơ quan quản lý các lĩnh vực
xã hội như: cổ động, tuyên truyền, cưỡng chế, và các cơ quan quản lý khoa học kỹ
thuật, tài chính...Nhà nước phải định hướng, đảm bảo xã hội phát triển, nhân dân có
quyền đạt được những nguyên vọng chính đáng của chính mình. Tác giả cũng đã
nêu lên khái niệm QLNN về kinh tế, thực tế của QLNN về kinh tế là việc tổ chức,
3
về trật tự đô thị có nội dung rộng...Trong giới hạn của luận văn, xuất phát từ thực tế,
tác giả chỉ chỉ đề cập đến 04 vấn đề chính mà chính quyền quận Hải Châu đang còn
nhiều hạn chế, bất cập trong quản lý đó là: 1) quản lý nhà nước về TTXD; 2) quản
lý nhà nước về PCCC; 3) quản lý nhà nước về trật tự giao thông đô thị; 4) quản lý
4
nhà nước về cư trú. Tác giả đã đưa ra những kiến nghị, đề xuất khoa học cho việc
nâng cao hiệu quả của QLNN về TTĐT ở quận Hải Châu, TP. Đà Nẵng và đã hệ
thống, làm rõ thêm lý luận QLNN về TTĐT. Tác giả đã đánh giá thực trạng, phân
tích nguyên nhân hạn chế của QLNN về TTĐT trên địa bàn quận Hải Châu, TP. Đà
Nẵng từ năm 2011 đến 2015; đồng thời tác giả đã xác định các phương hướng và đề
xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về TTĐT
quận Hải Châu, TP.Đà Nẵng trong thời gian đến.
- Luận văn thạc sĩ "Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị
từ thực tiễn Q.Cẩm Lệ, TP.Đà Nẵng” của tác giả Trịnh Văn Quang (2016). Các vấn
đề về xử phạt vi phạm hành chính đã được tác giả đã hệ thống hóa.; phân tích toàn
diện đặc điểm về tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực TTĐT từ thực trạng
Q.Cẩm Lệ. Đánh giá về những kết quả đạt được trong hoạt động xử phạt vi phạm
hành chính trên lĩnh vực TTĐT từ thực tiễn của Q.Cẩm Lệ. Tác giả đã đi sâu phân
tích kết quả và tìm ra những hạn chế, nguyên nhân. Đề xuất, kiến nghị các giải pháp
nâng cao hiệu lực - hiệu quả hoạt động xử phạt trong vi phạm hành chính trong lĩnh
vực TTĐT từ thực tiễn Q.Cẩm Lệ trong thời gian đến. Ngoài ra còn nhiều đề tài
nghiên cứu quản lý nhà nước trên các lĩnh vực như giao thông đô thị, đất đai,an sinh
xã hội, môi trường và tài nguyên,quy hoạch đô thị...
Có thể nhận thấy, mặc dù đã có những công trình trên đã đề cập một số khía
cạnh có liên quan, nhưng việc thực hiện chính sách quản lý trật tự đô thị trên địa
bàn quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng – đặc biệt chuyên sâu về 3 lĩnh vực thực
hiện chính sách quản lý về trật tự xây dựng; quản lý về vệ sinh môi trường và quản
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận và phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác –Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương và đường lối của Đảng, chính sách
pháp luật về quản lý trật tự đô thị của Nhà nước Việt Nam, thành phố Đà Nẵng và
quận Hải Châu hiện nay.
5.2. Các phương pháp cụ thể
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công kết hợp giữa nghiên
cứu lý thuyết và thực tế;phương pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh.
Thu thập và xử lý thông tin thứ cấp (tư liệu, số liệu có sẵn từ các cơ quan Nhà
6
nước, các sở, các phòng ban trong quận, các thư viện; bản đồ, các văn bản pháp luật,
bản đồ hiện trạng sử dụng đất của quận, phường; báo cáo quy hoạch sử dụng đất của
quận; tình hình phân bố dân cư, lao động trên địa bàn quận; hệ thống các bảng biểu
thống kê, và các văn bản pháp luật có liên quan đến QLNN về trật tự xây dựng).
Số liệu được thu thập, tổng hợp được trình bày theo kiểu văn xuôi để thuận
lợi cho việc phân tích và đánh giá. Các dữ liệu và thông tin xử lý trên phần mềm
Excel…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận: Có thể là khung lý thuyết về thực hiện chính sách quản lý
trật tự đô thị nói chung và quản lý trên các lĩnh vực trật tự xây dựng, trật tự vỉa hè,
vệ sinh môi trường nói riêng.
Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu đề tài minh chứng cho việc vận dụng lý
luận để phân tích, đánh giá kết quả thực hiện chính sách và định hướng cho việc
giải quyết trong quá trình thực hiện chính sách quản lý trật tự đô thị. Thực trạng và
các kiến nghị có thể được vận dụng vào việc thực hiện chính sách quản lý trật tự đô
thị ở quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; Cũng là cơ sở để các địa phương tham
1- Phát động phong trào tăng gia sản xuất để chống nạn đói, mở ngay cuộc
lạc quyên gạo để giúp đỡ người nghèo.
2- Mở chiến dịch chống nạn mù chữ.
3- Tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu
phiếu, soạn thảo Hiến pháp dân chủ.
4- Mở chiến dịch giáo dục cần, kiệm, liêm, chính để bài trừ thói hư tật xấu
của chế độ thực dân để lại.
5- Bỏ ngay các thuế, như: thuế thân; thuế chợ; thuế đò; tuyệt đối cấm hút
thuốc phiện.
6- Ra tuyên bố tự do tín ngưỡng và đoàn kết lương giáo.
Đặt trong bối cảnh đất nước lúc bấy giờ, có thể xem đây là mẫu mực của việc
xác định những vấn đề cấp bách để hoạch định và thực thi chính sách của nhà nước
– chính sách công – chính sách để giải quyết những nhu cầu lợi ích thiết thực của
quốc dân, đồng bào sau khi chính quyền mới được thành lập.
Như vậy, tiếp cận từ góc độ chủ thể ban hành và sử dụng chính sách để phục
vụ và quản lý xã hội có thể thấy: Nhà nước là chủ thể đại diện cho quyền lực của
8
nhân dân, ban hành chính sách để mưu cầu lợi ích cho cộng đồng xã hội. Chính
sách của nhà nước đã tác động rộng khắp đến mọi đối tượng, mọi quá trình trên
phạm vi toàn quốc. Chính sách khi gắn với vai trò, chức năng “lo cho cái chung”
hay “khu vực công” của nhà nước được gọi là chính sách công (Public policy).
Tích hợp những cách tiếp cận, cách hiểu, cách định nghĩa đã có, trong luận
văn này chúng tôi thống nhất cách quan niệm: Chính sách công là tổng thể chương
trình hành động của nhà nước, nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng
trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, theo phương thức nhất định nhằm đạt được
các mục tiêu đề ra, bảo đảm cho xã hội phát triển bền vững, ổn định.
Khái niệm trên thể hiện đặc trưng của chính sách công là:
Thu thập thông tin; (2) Đề xuất; (3) Ra quyết định; (4) Hướng dẫn; (5) Áp dụng; (6)
Kết thúc; (7) Đánh giá. 7 giai đoạn này không chỉ mô tả các chính sách công thực sự
được hình thành như thế nào mà còn mô tả các bước tạo ra chúng. Quá trình CSC
bắt đầu với việc thu thập thông tin, phân tích, tổng hợp và truyền bá thông tin cho
những người sẽ tham gia vào quá trình hoạch định và ban hành CSC. Tiếp đó những
người tham gia vào việc ra quyết sách đề xuất các phương án cụ thể. Trong giai
đoạn kế tiếp, những người ra quyết định thực sự ban hành đường lối hành động.
Sang giai đoạn triển khai thực hiện CSC, một tập hợp các chế tài được thiết lập để
cưỡng chế những người nào không tuân theo quy định của nhà nước. Sau đó, CSC
được duy trì bởi bộ máy hành chính và vận hành theo định hướng cho đến khi hoàn
thành sứ mệnh, hoặc bị hủy bỏ. Cuối cùng, các kết quả mang lại của CSC được đánh
giá theo mục tiêu của chủ thể ban hành CSC ban đầu.
Mô hình của Harold. D.Lasswell đã tạo cơ sở cho sự phát triển các mô hình
về chu trình CSC của Gary D.Brewer vào đầu những năm 1970 và mô hình khá nổi
tiếng của Charles O.Jones và James Anderson vào những năm 1970 và 1980.
Chu trình CSC theo mô hình này gồm 5 giai đoạn:
(1) Lập chương trình (Agenda setting): Các cá nhân và tổ chức, cơ quan chức
năng tham gia làm chính sách trình vấn đề công ra thảo luận, và xem xét đưa vào
chương trình chính thức. Trên thực tế, có những vấn đề chính sách dễ dàng mở
“cánh cửa cơ hội” xuất hiện trong chương trình nghị sự; trong khi nhiều vấn đề khác
lại bị trì hoãn lâu dài.
(2) Hình thành chính sách (Policy formulation, bao gồm việc thiết kế chính
sách – policy design): Chính thức đề xuất các phương án (biện pháp thay thế) nhằm
mục tiêu giải quyết vấn đề chính sách. Giải pháp thay thế trong các đề xuất chính
10
sách có thể thể hiện dưới dạng dự thảo các quy định pháp lý của chính phủ, tòa án
hoặc dự luật của Quốc hội.
đúng mục tiêu chinh sách, sau đó xây dựng hoặc đề xuất các các giải pháp để đạt
các mục,tiêu đó. Để làm việc này,;các chủ thể của chính sách phải đánh giá đúng tác
động của các giải phap, đồng thời phải so sánh, dự đoán các kết quả các giải pháp
với nhau; từ đó làm cơ sở để đề xuất để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định để
cuối cùng.
(2). Tổ chức thực hiện chính sách công.
Là giai đoạn hiện thực,hóa,chính sách trong đời sống xã/hội.Đây là giai đoạn
triển khai thực hiện các giải pháp của chính,sách đã được thông qua và kiểm tra quá
trình của việc thực hiện.Sự thành, bại của một chính sách là nằm ở giai đoạn này.
(3). Đánh giá chính sách công.
Đây là công đoạn tính toán, dự trù các chi phí và kết quả của việc thực hiện
chính sách; các tác động từ thực tế của việc thực hiện chính sách trong quá trình
nhằm đạt được mục tiêu CSC, từ đó xác định hiệu quả của một CSC trong thực tế.
Trên cơ sở kết quả của đánh giá CSC, các cơ quan này.có thể chấm dứt sự tồn tại
của,CSC; hoặc có thể bổ sung mục tiêu, điều chỉnh các giải-pháp cho phù hợp với
tình hình thực tế.
Mô hình hoá chu trình chính sách công theo cách phân loại trên
Hoạch định chính sách công
Phân tích
chính sách công
Thực thi chính
sách công
Đánh giá chính
sách công
xây dựng kế hoạch, chương trình thực hiện . Kế hoạch triển khai thực hiện CSC,
bao gồm những nội dung cơ bản sau:
+ Lập kế hoạch, tổ chức điều hành cần đảm bảo những dự kiến về hệ thống
các cơ quan chủ trì và các bộ phận phối hợp triển khai thực hiện, những dự kiến về
cơ chế trách nhiệm đối với cán bộ quản lý,số lượng và chất lượng của lực lượng
tham gia, công tác tổ chức thực hiện, cơ chế tác động giữa các cấp trong quá trình
thực hiện chính sách đó;
+ Xác định kế hoạch,cung cấp các nguồn vật lực như: dự kiến về các cơ sở
hạ tầng, trang thiết bị khoa học, thiết bị văn phòng,phục vụ cho công tác thực hiện
chính sách.
+ Xác định thời gian triển khai thực hiện thông qua dự kiến về thời gian duy
trì chính sách; dự kiến các bước tổ chức triển khai thực hiện từ tuyên truyền chính
sách đến tổng kết rút kinh nghiệm. Cần dự kiến thời gian cho mục tiêu cần đạt
được. Tùy vào chính sách, điều kiện thực tế để dự kiến mỗi bước cho phù hợp với
một chương trình cụ thể của chính sách;
+ Lên kế hoạch kiêm tra thực hiện CSC,là những dự kiên về tiến độ, hình
thức; phương pháp,kiểm tra; giám sát,tổ chức thực hiên CSC.
+ Xây dựng dự kiến những nội dung trong thực hiện CSC bao gồm: nội quy,
quy chế về tổ chức, điều hành; về trách nhiệm và nghĩa vụ, quyền hạn của cán bộ,
công chức và các cơ quan nhà nước tham gia tổ chức điều hành CSC; về các biện
pháp khen thưởng, kỷ luật trong tổ chức thực hiện chính sách...
+ Lãnh đạo ở cấp nào thì xem xét thông qua kế hoạch thực hiện ở cấp đó.
Sau khi quyết định thông qua, kế hoạch thực hiện CSC phải mang giá trị thiết thực
để được xã hội chấp hành thực hiện. Việc điều chỉnh kế hoạch thực hiện CSC phải
do cấp có thẩm quyền quyết định.
Thứ hai: Phổ biến tuyên truyền chính sách công
Sau khi thông qua kế hoạch triển khai thực hiện CSC, các cơ quan nhà nước
có liên quan tiến hành triển khai tổ chức thực hiện CSC theo kế hoạch. Việc trước
Ở bước này, căn cứ theo kế hoạch của chính sách đã được phê duyệt các đơn
vị, cơ quan có liên quan có nhiệm vụ thực hiện công tác phối hợp và chịu trách
nhiệm trên lĩnh vực mình phụ trách. Số lượng tổ chức và cá nhân tham gia thực hiện
chính sách là rất lớn vì phạm vi triển khai thực hiện hiện của CSC rất rộng lớn, tối
thiểu củng ảnh hưởng đến một địa phương tương đương như một cấp quận. Số
lượng tham gia bao gồm các đối tượng tác động của chính sách, nhân dân thực hiện
và bộ máy tổ chức thực hiện của nhà nước. Không những vậy, các hoạt động triển
khai thực hiện các mục tiêu của CSC diễn ra cũng hết sức đa dạng và phức tạp theo
không gian và thời gian, chúng xen lẫn nhau, thúc đẩy hoặc kìm hãm nhau theo quy
luật...Bởi vậy, muốn tổ chức thực hiện CSC đạt hiệu quả cần phải tiến hành phan
công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý, các ngành, các cấp chính quyền địa
phương, các yếu tố tham gia thực hiện CSC và các quy trình ảnh hưởng đến việc
thực hiện các mục tiêu CSC. Trong thực tế, cơ quan chủ trì hoặc cơ quan, đơn vị
phối hợp thường được phân công thực hiện một chính cụ thể nào đó. Chính sách có
thể tác động đến lợi ích của một bộ phận dân cư, nhưng kết quả tác động lại liên
quan đến nhiều yếu tố, quá trình thuộc các bộ phận khác nhau, nên cần phải phối
hợp chúng lại để đạt yêu cầu quản lý.
Hoạt động phân công, phổi hợp diễn ra theo tiến trình thực hiện CSC một
cách sáng tạo, chủ động để luôn được duy trì chính sách được ổn định, góp phần
nâng cao hiệu lực, hiệu quả CSC.
Thứ tư: Duy trì chính sách công
Đây là giai đoạn nhằm bảo đảm cho CSC được tồn tại được và phát huy tác
dụng trong thực tế.Muốn vậy phải có sự thống nhất, tổng hợp mọi nguồn lực. Đối
với các chủ thể tổ chức thực hiện CSC phải thường xuyên quan tâm vận động, tuyên
truyền, các đối tượng thuộc phạm vi ảnh hưởng của chính sách và toàn xã hội tích
cực, hưởng ứng, tham gia thực hiện chính sách.
Nếu việc thực hiện CSC gặp phải những vướn mắc do môi trường bên ngoài,
thì các chủ thể quản lý của nhà nước muốn tạo lập môi trường thuận lợi cho việc
những hành vi vi phạm quy định trong thực quá trình thực hiện CSC.
Thứ bảy: Đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm
Đánh giá, tổng kết trong bước tổ chức thực hiện CSC được hiểu là quá trình
xem xét, tổng hợp để đánh giá, kết luận và chỉ đạo, điều hành và chấp hành chính
sách của các đối tượng thực hiện chính sách công.
Các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở là đối tượng được xem xét,
đánh giá tổng kết về chỉ đạo điều hành thực hiện CSC. Ngoài ra, còn phân tích,
đánh giá về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội
và của toàn xã hội trong việc tham gia thực hiện CSC. Cơ sở để đánh giá tổng kết
công tác chỉ đạo, điều hành thực hiện CSC trong các cơ quan nhà nước là kế hoạch
được giao và những nội quy, quy chế. Đồng thời kết hợp sử dụng các văn bản liên
tịch giữa cơ quan nhà nuớc với các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội và các văn
bản quy phạm khác để xem xét tình hình, phối hợp chỉ đạo, điều hành thực hiện
CSC của các tổ chức đó.
Trên cơ sở tổng kết, đánh giá kết quả chỉ đạo, điều hành của các cơ quan nhà
nước, chúng ta cần xem xét, đánh giá việc thực hiện CSC của các đối tượng tham
gia thực hiện CSC bao gồm các đối tượng thụ hưởng lợi ích trực tiếp và lợi ích gián
tiếp từ chính sách. Tiêu chuẩn đánh giá kết quả thực hiện của các đối tượng này là:
tinh thần hưởng ứng với mục tiêu của CSC, ý thức chấp hành những quy định về cơ
chế, biện pháp do chủ thể các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để thực
hiện mục tiêu CSC trong từng điều kiện.
Thực thi CSC là quá trình đưa CSC vào thực tiễn đời sống xã hội, nhằm đạt
được các mục tiêu của CSC, gồm một chuỗi các bước liên quan với nhau, có nhiều
chủ thể tham gia, đòi hỏi những nguồn lực nhất định, bị chi phối bởi nhiều yếu tố.
Thực thi CSC được xem là thành công hay hiệu lực khi nó đạt được mục tiêu của
CSC một cách đầy đủ. Tuy nhiên, để thực thi CSC thành công đòi hỏi phải thõa
mãn rất nhiều điều kiện và các điều kiện này có thể nhóm thành ba nhóm:
(1) Các điều kiện liên quan đến bản thân chính sách công
- Có một cơ quan thực thi CSC, và không phụ thuộc vào các cơ quan khác,
hoạc nếu có sự tham gia của các cơ quan khác trong thực hiện CSC thì các mối
quan hệ phụ thuộc là tối thiểu về số lượng và mức độ trong thực hiện CSC.
- Cơ quan chuyên trách thực thi phải diễn giải được mục tiêu chính sách
công thành những kế hoạch và công việc cụ thể.
- Cần xác định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan thực thi chính sách
công một các chi tiết và theo một trình tự logic.
- Việc thực thi CSC phải được ấn định và phân công trách nhiệm cụ thể từ đó
có thể theo dõi, nắm rõ được tình hình, các hành động liên quan đến việc thực thi
CSC.
- Quá trình thực thi chính sách công được cấu trúc để đảm bảo đạt được kết
quả cao từ các chủ thể thực thi.
- Tính đến lợi ích và động lực của những người tham gia thực thi chính sách
công.
- Các nhà lãnh đạo cơ quan thực thi có đủ những kỹ năng chính trị, quản lý
và sự cam kết của họ với các mục tiêu ấn định.
- Cơ quan thực thi chính sách công tuân thủ đầy đủ hướng dẫn của chính
sách công.
- Thông tin và liên lạc giữa các chủ thể thực thi được cung cấp đầy đủ và
hiệu quả.
- Chủ thể phải xây dựng được cơ chế phối hợp, cơ chế đó phải phát huy hiệu
quả giữa các chủ thể trong quá trình thực thi CSC.
- Phải dự trù, đề xuất đủ mọi nguồn lực cần thiết và phải dự trù đảm bảo thời
gian không nên nóng vội mà dự trù thời gian gấp rút, quá ngắn để đạt được một
trong những mục tiêu nào của chính sách.
- Quản lý việc thực hiện phải thống nhất (định hướng mục tiêu).
(3) Các điều kiện liên quan đến bối cảnh thực thi
Quá trình thực hiện chính sách công diễn ra trong những điều kiện liên quan