VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MAI VY NIN
\
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN TOÀN THỰC
PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MAI VY NIN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN TOÀN THỰC
PHẨM TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN SƠN TRÀ,
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Ngành
Mã số
: Chính sách công
: 8 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn tốt nghiệp “Thực hiện chính sách ATTP trên địa
bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng” là công trình nghiên cứu của riêng bản thân
tôi, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và khảo sát thực tiễn, dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Đức Chiện. Kết quả các số liệu, trích dẫn
nêu trong luận văn đảm bảo tính chính xác, trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
Học viên
Mai Vy Nin
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN
TOÀN THỰC PHẨM Ở VIỆT NAM......................................................................9
1.1. Khái niệm và lý thuyết phân tích chính sách ATTP ............................................9
1.2. Quan điểm của Đảng, Chính sách của Nhà nước về ATTP ...............................12
Chương 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN TOÀN THỰC
PHẨM Ở QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG .....................................24
2.1. Vài nét về điều kiện địa lý, kinh tế - xã hội của quận Sơn Trà ..........................24
2.2. Tình hình thực hiện các chính sách ATTP trên địa bàn quận Sơn Trà ..............34
2.3. Đánh giá chung về việc thực hiện chính sách ATTP trên địa bàn quận Sơn Trà,
thành phố Đà Nẵng....................................................................................................56
Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH AN TOÀN THỰC PHẨM Ở QUẬN SƠN
Giấy chứng nhận
QCVN
Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
QLNN
Quản lý nhà nước
TTHC
Trung tâm hành chính
UBND
Ủy ban nhân dân
VPHC
Vi phạm hành chính
VSATTP
Vệ sinh An toàn thực phẩm
DANH MỤC CÁC BẢNG
S
q
2ố 4
. i
7
72Hli 4
. oạ 8
2N 5
.g
5
DANH MỤC CÁC HÌNH
S
ố
h
i T
2ăn
.g
1cư
H
2ội
.n
2g
Tr
a
n
g
4
Theo báo cáo gần đây của Tổ chức Y tế Thế giới, hơn 1/3 dân số các nước
phát triển bị ảnh hưởng của các bệnh do thực phẩm gây ra mỗi năm. Ước tính 600
triệu người, tức là 1/10 người trên thế giới, bị bệnh sau khi ăn uống và 420 000
người chết mỗi năm [35]. Xu hướng các bệnh truyền qua thực phẩm, ngộ độc thực
phẩm xảy ra ở quy mô rộng nhiều quốc gia càng trở nên phổ biến trong bối cảnh hội
nhập và toàn cầu hóa. Do vậy, việc đảm bảo chất lượng vệ sinh thực phẩm không chỉ
là nghĩa vụ của mỗi quốc gia mà còn là trách nhiệm của các tổ chức quốc tế hiện
nay.
Ở Việt Nam, các loại thực phẩm lưu hành trên thị trường ngày càng đa dạng
và nhiều chủng loại trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa. Việc phân phối các
sản phẩm thực phẩm trên thị trường hiện nay chủ yếu mang tính tự phát, nguồn
cung cấp các sản phẩm này phần lớn từ các hộ kinh doanh cá thể trên mạng lưới tiêu
thụ tại các chợ truyền thống, đường phố, nhà hàng….
Trong những năm gần đây, công tác bảo đảm chất lượng ATTP, phòng
chống NĐTP và các bệnh truyền qua thực phẩm ngày càng được các tầng lớp trong
xã hội quan tâm, nhiều vụ vi phạm nghiêm trọng về ATTP gây hoang mang trong
dư luận xã hội như giá đậu được làm bằng hóa chất, tiêm thuốc an thần vào heo
1
trước khi giết mổ, bơm tạp chất vào tôm chết nhằm làm tươi và tăng trọng lượng
con tôm, hay trộn lõi pin vào cà phê của một số cơ sở sản xuất, kinh doanh bị phát
hiện thời gian qua, v.v... Trước thực trạng trên Nhà nước ta đã ban hành nhiều hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật như Luật ATTP năm 2010, Nghị định số
115/2018/NĐ-CP ngày 04/9/2018 quy định xử phạt hành chính về ATTP,..., nhằm
xác định trách nhiệm quản lý nhà nước, trách nhiệm của người sản xuất, kinh
doanh, người tiêu dùng; thực hiện phân công phân cấp và phối hợp giữa các Bộ,
ngành, địa phương quản lý tốt công tác ATTP. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy mặc dù
vấn đề ATTP liên tục được cập nhật trong các tin tức thời sự trong ngày, nhưng tình
hình vệ sinh ATTP ở nước ta, nhất là ở khu vực đô thị trong thời gian qua còn tồn
thông qua việc nhập gia súc, gia cầm để giết mổ. Có 15 tỉnh, thành cung cấp rau,
quả, thịt cho thành phố Đà Nẵng, đây là cơ hội nhưng cũng là thách thức lớn đối với
thành phố trong việc kiểm tra, giám sát an toàn vệ sinh thực phẩm.
Có thể nói, vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm trên địa bàn thành phố Đà
Nẵng đang nảy sinh nhiều vấn đề có tính bức thiết, thu hút sự quan tâm của các cấp
chính quyền và người dân. Trong thời gian qua, trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
vẫn xảy ra một số vụ NĐTP ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Điển hình vào
ngày 14/5/2017, tại quán cơm trên đường Hồ Nghinh, quận Sơn Trà, thành phố Đà
Nẵng có 17 người bị ngộ độc thực phẩm do thức ăn không đảm bảo vệ sinh, trong
đó có 07 người nhập viện để điều trị. Bên cạnh những mặt làm được trong công tác
quản lý nhà nước về ATTP, hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều chính sách bất cập như
chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) về
ATTP, những công tác thực thi, thi hành và các tồn tại trong việc tuyên truyền, giáo
dục về ATTP.
Thực tế, người dân cũng như du khách đến Thành phố Đà Nẵng nói chung,
trên địa bàn bàn quận Sơn Trà nói riêng đang gặp nhiều khó khăn trong việc lựa
chọn những thực phẩm an toàn, đảm bảo tiêu chí về vệ sinh an toàn thực phẩm
(VSATTP) trong tiêu dùng ăn uống để bảo vệ sức khỏe cho chính bản thân và gia
đình. Về phía chính quyền các cấp và ban ngành có liên quan đến trách nhiệm quản
lý ATTP cũng đang gặp khó khăn, vướng mắc trong thực thi công tác quản lý
ATTP…. Điều này đang đặt ra nhiều câu hỏi nghiên cứu cần trả lời làm rõ. Đây
chính là lý do học viên lựa chọn đề tài nghiên cứu đề tài: “Thực hiện chính sách
3
ATTP trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng” nhằm tìm hiểu việc thực
hiện các chính sách vệ sinh an toàn ở một địa bàn đô thị có sự năng động và tốc độ
phát triển nhanh ở Việt Nam hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực ATVSTP. Qua đó khẳng định pháp luật luôn là
công cụ hiệu quả nhất của Nhà nước trong việc đảm bảo thực hiện quyền và lợi ích
hợp pháp của công dân quốc gia mình.
Ngoài ra còn có các đề tài nghiên cứu chi tiết về thực hành, hệ thống đảm
bảo ATTP như: Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần II của Thạc sĩ Lê Đức
Sang, Trường Đại học Thăng Long và Tiến sỹ Nguyễn Thanh Hà, trường Đại học Y
tế công cộng về “Thực hành tuân thủ một số quy định về ATTP của người kinh
doanh thực phẩm tươi sống tại chợ Chờ, Yên Phong, Bắc Ninh năm 2013” [13,
tr.207-213]. Công trình này đã tiến hành nhằm đánh giá việc tuân thủ một số
quy định về ATTP của người kinh doanh thực phẩm tươi sống tại chợ Chờ,
huyện Yên
Phong, tỉnh Bắc Ninh.
HACCP – Một hệ thống quản lý chất lượng vệ sinh ATTP có hiệu quả của
Trần Minh Tâm, Tạp chí Khoa học Đại học Văn Lang, số 07/2018 [26, tr.87-93].
HACCP là hệ thống quản lý chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm được áp dụng
cho lĩnh vực công nghiệp thực phẩm.
Nghiên cứu kiến thức, thái độ, thực hành về ATVSTP của người tiêu dùng
thực phẩm tại huyện Châu Thành năm 2012 của tác giả Trương Văn Dũng [27],
Nghiên cứu cho kết quả tỷ lệ người tiêu dùng trong huyện có kiến thức, thái độ và
thực hành khá tốt về ATTP. Cần tăng cường công tác tuyên truyền trực tiếp và tập
trung vào nhóm những người tiêu dùng dưới 30 tuổi, những người có học vấn thấp,
những người là nông dân làm ruộng, những người có kinh tế không ổn định, hộ
nghèo và hộ cận nghèo.
Nhìn chung, những công trình trên đã góp phần quan trọng vào việc phân
tích lý luận, thực tiễn và đề xuất các giải pháp thiết thực trong việc đảm bảo ATTP
ở một số địa phương trên cả nước. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn thiếu vắng công
trình nghiên cứu về thực thi chính sách ATTP ở Đà Nẵng -một địa phương có tốc độ
phát triển kinh tế- xã hội rất năng động hiện nay. Do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài
“Thực hiện chính sách ATTP trên địa bàn quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng” để làm
luận văn thạc sĩ là không trùng lắp với các công trình khoa học đã được công bố.
người dân.
Thời gian nghiên cứu: Tháng 09/2018 đến tháng 02/2019.
6
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học và vận
dụng triệt để phương pháp luận nghiên cứu chính sách công. Đó là cách tiếp cận
quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng,
thực hiện, đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách. Lý
thuyết chính sách công được soi sáng qua thực tiễn giúp hình thành lý luận chính
sách chuyên ngành.
Bên cạnh đó, Luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp phương pháp lịch sử và lôgíc,
phân tích và tổng hợp vấn đề có liên quan đến chủ đề nghiên cứu của luận văn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để có thông tin phục vụ cho việc làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn
liên quan đến vấn đề ATTP hiện nay, đặc biệt là tại địa phương, luận văn đã sử
dụng các phương pháp cụ thể như:
- Thống kê và phân tích các tài liệu thứ cấp là các công trình nghiên cứu có
liên quan đến đề tài.
- Phân tích hệ thống các văn bản pháp luật và chính sách ATTP hiện hành.
- Tổng hợp và phân tích các báo cáo, số liệu thống kê liên quan đến ATTP
trên địa bàn quận Sơn Trà.
- Sử dụng phương pháp xã hội học với cuộc khảo sát định tính tại các cơ sở
sản xuất, chế biến, kinh doanh thực phẩm; các cán bộ quản lý lĩnh vực ATTP và
người dân trên địa bàn quận Sơn Trà.
Cơ cấu mẫu điều tra phỏng vấn sâu: 10 chủ cơ sở sản xuất, kinh doanh thực
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
AN TOÀN THỰC PHẨM Ở VIỆT NAM
1.1. Khái niệm và lý thuyết phân tích chính sách ATTP
1.1.1. Khái niệm về chính sách ATTP
Trên thế giới hiện nay, khi đề cập về vấn đề ATTP có rất nhiều cách giải thích
khác nhau. Theo Liên minh Châu Âu (EU), ATTP là những biện pháp và điều kiện
cần thiết để kiểm soát các mối nguy hại và đảm bảo sự phù hợp của thực phẩm có ý
định dùng làm thực phẩm cho con người.
Tại Việt Nam, năm 2003 “Vệ sinh ATTP” được sử dụng trong Pháp lệnh Vệ
sinh ATTP do Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành, qua đó “vệ sinh ATTP là các
điều kiện và biện pháp cần thiết để bảo đảm thực phẩm không gây hại sức khỏe,
tính mạng con người”. Đến năm 2010, Quốc hội nước ta đã thông qua Luật ATTP,
đã sửa đổi “ Vệ sinh ATTP” thành “ATTP” và được giải thích “ATTP là việc bảo
đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng của con người”. Với hai
cách gọi khác nhau, “ATTP” hay “VSATTP” đều được hiểu là một quá trình bao
gồm việc xử lý, chế biến, bảo quản và lưu trữ thực phẩm bằng những phương pháp
phòng ngừa, phòng chống bệnh tật do thực phẩm gây ra tránh các nguy cơ ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của con người.
Theo Luật ATTP năm 2010 thì “Thực phẩm là sản phẩm mà con người ăn,
uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo quản. Thực phẩm là không
bao gồm mỹ phẩm, thuốc lá và các chất sử dụng như dược phẩm” [18]. Chúng ta
cũng hiểu được rằng thực phẩm là những loại thức ăn mà con người có thể ăn uống
được để cung cấp chất dinh dưỡng cho sự phát triển của cơ thể, đảm bảo cho sức
khỏe con người, đồng thời cũng có thể là nguồn gây bệnh nếu không đảm bảo vệ
sinh khi mà con người ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua sơ chế, chế biến, bảo
quản sản phẩm.
Vệ sinh thực phẩm là một khái niệm khoa học để nói thực phẩm không chứa
sinh vật gây bệnh và không chứa độc tố. Khái niệm vệ sinh thực phẩm còn bao gồm
khâu tổ chức vệ sinh trong chế biến bảo quản thực phẩm.
quan điểm và định hướng chính sách; biện pháp thực hiện chính sách, các công cụ
của chính sách và mục tiêu mà chính sách hướng tới.
Xác định vấn đề chính sách là giai đoạn khởi đầu trong quy trình xây dựng
chính sách công, bao gồm từ bước phát hiện những vấn đề xã hội, mâu thuẫn nảy
10
sinh trong đời sống xã hội, đến mức cần phải có giải pháp giải quyết bằng những
chính sách cho đến khi hoàn thành các mục tiêu của chính sách công. Những vấn đề
đó thường là các mâu thuẫn trong xã hội, những khó khăn, vướng mắc trong quá
trình phát triển hoặc là nhu cầu phát triển ở mức độ cao hơn. Vì vậy vấn đề của
chính sách luôn luôn gắn liền với sự phát triển của xã hội.
Việc xác định đúng vấn đề chính sách đóng một vai trò quan trọng trong quá
trình xây dựng, ban hành, thực hiện chính sách và quyết định đến sự thành công hay
thất bại của chính sách. Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng
nấc khác nhau, từ các tổ chức quốc tế đến từng quốc gia, từ nhà nước đến các đơn
vị, tổ chức chính trị xã hội, doanh nghiệp,.. nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho
mỗi tổ chức đó và chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó. Vì vậy, chính
sách ATTP là việc các cơ quan nhà nước tác động bằng nhiều biện pháp lên các đối
tượng quản lý nhằm mục đích bảo đảm xã hội được tiếp cận, sử dụng thực phẩm an
toàn, chất lượng, phòng ngừa và tránh NĐTP, đảm bảo tiêu chí về VSATTP trong
tiêu dùng ăn uống để bảo vệ sức khỏe cho người dân. Nhà nước sử dụng quyền lực
được nhân dân giao thông qua các văn bản cụ thể, công cụ chính sách, pháp luật, kế
hoạch và các quy định khác của pháp luật về ATTP để trực tiếp điều hành, tác động
lên các chủ thể quản lý là các đối tượng sản xuất, kinh doanh thực phẩm và người
tiêu dùng. Trong hoạt động quản lý của mình, nhà nước còn là chủ thể chấp hành,
thực hiện trên thực tế các luật và các văn bản dưới luật đã được ban hành.
Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về ATTP là hoạt động có tổ chức của
nhà nước thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, các công cụ chính sách của
tạo điều kiện cho hội, hiệp hội, tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài đầu tư,
tham gia vào các hoạt động xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, kiểm nghiệm
ATTP;
Thứ sáu, khen thưởng kịp thời các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh thực
phẩm an toàn; Tăng đầu tư, đa dạng các hình thức, phương thức tuyên truyền, giáo
dục nâng cao nhận thức người dân về tiêu dùng thực phẩm an toàn, ý thức trách
nhiệm và đạo đức kinh doanh của tổ chức, cá nhân trong sản xuất, kinh doanh thực
phẩm đối với cộng đồng.
1.2. Quan điểm của Đảng, Chính sách của Nhà nước về ATTP
1.2.1. Quan điểm của Đảng về vấn đề ATTP
Bảo đảm ATTP là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, vừa cấp bách, vừa lâu
dài của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền
các cấp, trước hết là của người đứng đầu; là chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội hằng
năm ở các cấp.
Trong thời gian qua, công tác quản lý nhà nước và bảo đảm ATTP có sự tiến
12
bộ. Nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về ATTP theo hướng chuyển biến
mạnh. Đã hình thành một số mô hình sản xuất, chế biến thực phẩm an toàn; một số
doanh nghiệp lớn đầu tư sản xuất, kinh doanh thực phẩm an toàn. Nhiều hàng hóa
thực phẩm sản xuất trong nước đạt chuẩn quốc tế về ATTP.
Tuy nhiên, tình trạng mất VSATTP ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe, an toàn
sinh mạng của từng người dân. Công tác quản lý nhà nước về ATTP vẫn còn nhiều
bất cập, hạn chế cả về thể chế và thực thi pháp luật. Một số phương tiện thông tin
đại chúng đưa tin không chính xác, thiếu căn cứ khoa học, tác động rất tiêu cực đến
sản xuất, kinh doanh và niềm tin của nhân dân về thực phẩm an toàn ở nước ta.
Mặt khác, một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo bảo
đảm ATTP. Thể chế, chính sách về bảo đảm ATTP chưa phù hợp, thiếu đồng bộ;
chế tài chưa đủ sức răn đe, ngăn ngừa có hiệu quả vi phạm về ATTP, nhất là chưa
ngạch. Có những biện pháp phù hợp, kiên quyết đề phòng, chống nạn hàng giả,
hàng kém chất lượng và hàng nhái đang lưu thông trên thị trường
Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về ATTP, tổ chức bộ máy quản lý nhà
nước về ATTP đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; đồng thời hoàn
thiện cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và chính quyền địa phương các cấp để bảo
đảm tăng cường hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về ATTP. Tăng
cường, phân định rõ trách nhiệm của các ngành chức năng từ Trung ương đến cơ sở
trong công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm soát các khâu sản xuất, chế biến, nhập khẩu
thực phẩm trước khi đưa vào lưu thông và tiêu dùng. Bổ sung các chế tài cần thiết,
bảo đảm xử phạt nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm ATTP.
Các cơ quan quản lý nhà nước về ATTP có trách nhiệm cung cấp kịp thời,
chính xác các thông tin về ATTP, về các doanh nghiệp, hộ kinh doanh vi phạm
ATTP để công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng. Chú trọng bồi dưỡng
nâng cao năng lực, phẩm chất và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức làm
công tác quản lý nhà nước về ATTP. Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích
các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đầu tư, tham gia xây dựng tiêu chuẩn, quy
chuẩn kỹ thuật, kiểm nghiệm và chuyển giao các tiến bộ kỹ thuật bảo đảm ATTP.
Thực hiện Chỉ thị số 13/CT-TTG ngày 09/5/2016 của Thủ tướng Chính phủ về
việc tăng cường trách nhiệm quản lý Nhà nước về ATTP [23]. Chỉ thị nêu rõ vai
trò, trách nhiệm của các bộ, ngành và địa phương trong việc giám sát, quản lý bảo
đảm ATTP. Giao UBND các cấp chịu trách nhiệm về bảo đảm ATVSTP trên địa
bàn; xác định việc bảo đảm vệ sinh, ATTP là nhiệm vụ cấp thiết cần tập trung chỉ
đạo, điều hành; ưu tiên bố trí đủ kinh phí, nguồn lực cho công tác quản lý, bảo đảm
ATTP, trước mắt chủ động bố trí kinh phí tương ứng với số thu tiền xử phạt vi
14
phạm hành chính (VPHC) về ATTP thuộc ngân sách địa phương theo quy định của
Luật ngân sách Nhà nước để đầu tư trang thiết bị kỹ thuật và công tác kiểm tra,
15
Luật ATTP năm 2010 đã chỉ rõ việc phân công trách nhiệm quản lý nhà nước
giữa các Bộ, ngành về ATVSTP theo nhóm sản phẩm thay vì quản lý theo phân
khúc sản xuất, kinh doanh thực phẩm. Tại Điều 4, Chương 2 của Thông tư số
13/2014/TTLT/BYT-BNN-BCT ngày 09/4/2014 của Bộ Y tế - Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn – Bộ Công thương về hướng dẫn việc phân công, phối hợp
trong quản lý nhà nước về ATTP [7]. Thông tư này quy định nguyên tắc trong việc
phân công quản lý, đó là một sản phẩm, một cơ sở sản xuất, kinh doanh chỉ chịu sự
quản lý của một cơ quan quản lý Nhà nước.
Theo quy định hiện hành, Bộ Y tế quản lý nhà nước đối với những sản phẩm
thực phẩm và cơ sở sản xuất kinh doanh thực phẩm, trừ những loại dụng cụ, vật liệu
bao gói chuyên dụng gắn liền và chỉ được sử dụng cho các sản phẩm thực phẩm
thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Công
Thương.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý nhà nước giai đoạn xuyên
suốt từ sản xuất đến nơi tiêu thụ đối với thực phẩm tươi sống sản xuất trong nước và
thực phẩm tươi sống nhập khẩu. Các thực phẩm khác thì chỉ quản lý ở khâu sản
xuất thực phẩm ban đầu và sơ chế thực phẩm .
Bộ Công thương quản lý nhà nước đối với những sản phẩm thực phẩm và cơ
sở sản xuất kinh doanh thực phẩm được phân công quản lý. Bên cạnh đó, Bộ Công
thương sẽ phối hợp với Bộ Y tế và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để kiểm
tra, thanh tra thực phẩm lưu thông trên thị trường, thực phẩm giả, thực phẩm kém
chất lượng.
Tại Điều 4 Luật ATTP 2010, chính sách của Nhà nước về ATTP được quy
định: Sử dụng nguồn lực nhà nước và các nguồn lực khác đầu tư nghiên cứu khoa
học và ứng dụng công nghệ phục vụ việc phân tích nguy cơ đối với ATTP; hỗ trợ
đầu tư xây dựng mới, nâng cấp cơ sở sản xuất nguyên liệu thực phẩm an toàn, chợ
đầu mối nông sản thực phẩm, cơ sở giết mổ gia súc và một số phòng thí nghiệm đạt