Thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn huyện thăng bình, tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG LÊ TÚ VI

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN THĂNG BÌNH - TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG LÊ TÚ VI

THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ TỪ THỰC TIỄN
HUYỆN THĂNG BÌNH - TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Chính sách công
Mã số

: 8 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. TRỊNH THỊ XUYẾN


THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN

CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ơ HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH QUẢNG
NAM .........................................................................................................................38
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hôi và cán bô, công chức cấp xã ở
huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam ........................................................................38
2.2. Thực trạng thực hiện chính sách phát triển cán bô, công chức cấp xã ở huyện
Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam hiện nay ....................................................................42
2.3. Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách phát triển cán bô công chức cấp xã
huyện Thăng Bình và những vấn đề đặt ra ...............................................................52
CHƯƠNG 3. MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT
TRIỂN CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ơ HUYỆN THĂNG BÌNH, TỈNH
QUẢNG NAM THỜI GIAN TỚI ..........................................................................58
3.1. Mục tiêu thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức cấp xã..................58
3.2. Nhóm giải pháp thực hiện chính sách phát triển cán bô, công chức cấp xã ở
huyện
Thăng
Bình,
tỉnh
..........................................59

Quảng

Nam

trong

thời

gian

theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công
bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”. [2]
Tuy nhiên, trong tiến trình hôi nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của
khoa học kỹ thuật đã và đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao về quản lý, điều hành
phát triển kinh tế - xã hôi trên địa bàn cơ sở, đòi hỏi cán bô, công chức cấp xã phải
không ngừng nâng cao trình đô chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất chính trị, đạo

1


đức hơn nữa mới đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của thực tiễn đặt ra. Trong khi đó
chính sách về phát triển đôi ngũ cán bô cấp xã và việc thực hiện chính sách này trên
thực tế ở các địa phương đang gặp phải những khó khăn và bất cập. Nhất là trong
quá trình thực hiện nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII) về sắp xếp lại tổ chức bô
máy hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả.
Trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước,
Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 30 tháng 6 năm 2011 của Tỉnh ủy Quảng Nam
(khóa XX) về công tác cán bô giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020
(gọi tắt là Nghị quyết số 04), đã nhấn mạnh: “đổi mới mạnh mẽ, đột phá về công tác
cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức từ tỉnh đến cơ sở đủ số lượng, bảo đảm
chất lượng, có cơ cấu hợp lý, vững vàng về chính trị, có phẩm chất đạo đức, lối
sống tốt, có năng lực và trình độ, thật sự có tâm và có tầm để đáp ứng yêu cầu
nhiệm vụ trong tình hình mới. Bên cạnh đó làm tốt công tác đánh giá, quy hoạch,
đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng và luân chuyển cán bộ. Coi trọng việc xây dựng
đội ngũ cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán bộ khoa học và
công nghệ, cán bộ xã, phường, thị trấn. Có chính sách thu hút sinh viên về công tác
ở xã, phường, thị trấn”. [56] Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 12 tháng 8 năm 2016
của Tỉnh ủy Quảng Nam “Về nâng cao chất lượng đôi ngũ cán bô, kiện toàn tổ chức
bô máy giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng 2025” đã đề ra mục tiêu chung là:
“Tiếp tục đổi mới và tạo đột phá về công tác cán bộ. Triển khai thực hiện có hiệu

xuyên, liên tục, đảm bảo đúng quy trình và chặt chẽ để kịp thời phát hiện những thế
mạnh của cán bô, những nhân tố mới để phát huy, đông thời uốn nắn, khắc phục
những hạn chế, sai sót. Với lý do đó, tôi đã quyết định chọn đề tài: “Thực hiện
chính sách phát triển cán bộ, công chức cấp xã từ thực tiễn huyện Thăng Bình”
để làm luận văn cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Việc phát triển đôi ngũ cán bô, công chức không phải là vấn đề mới ở Việt
Nam hiện nay. Ở nhiều nước trên thế giới đội ngũ cán bô công chức trong bô máy
nhà nước là chủ đề nghiên cứu của nhiều môn khoa học như: Chính trị học, Quản lý


công…, từ trước đến nay đã được các nhà nghiên cứu khoa học xã hôi và các nhà
hoạt đông chính trị quan tâm dưới nhiều góc đô khác nhau.
Trong điều kiện cải cách hành chính nhà nước, vấn đề đôi ngũ cán bô chính
quyền cấp xã được đặc biệt quan tâm. Một số đề tài khoa học, các công trình nghiên
cứu cũng đã đề cập trực tiếp đến những nôi dung liên quan đến vấn đề này môt cách
toàn diện hơn. Chẳng hạn như:
Nguyễn Phú Trọng - Trần Xuân Sầm (2003), “Luận cứ khoa học cho việc
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện
đại hóa đất nước” (tái bản), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nôi. Trên cơ sở những vấn
đề lý luận, tổng kết từ thực tiễn và kế thừa kết quả của những công trình đã nghiên
cứu trước đây, tập thể các tác giả đã tiến hành phân tích, lý giải và hệ thống hóa các
luận cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng của đôi ngũ cán bộ. Từ đó đưa ra
một số hệ thống các quan điểm, các phương hướng, các nhóm giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng của đôi ngũ cán bô công chức trong cơ quan hành chính nhà nước
đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và
tiến trình hôi nhập kinh tế quốc tế trong những năm đầu của thế kỷ XXI; [60]
Thang Văn Phúc - Nguyễn Minh Phương (2005), “Cơ sở lý luận và thực tiễn
xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Các tác giả
đã phân tích môt cách hệ thống và tương đối toàn diện về vấn đề chất lượng cán bô,

cụ thể sau đây:
+ Phân tích cơ sở lý luận về thực hiện chính sách phát triển cán bô, công
chức cấp xã, hệ thống hóa những quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về cán bô công
chức cấp xã, về chính sách phát triển đôi ngũ cán bô công chức cấp xã làm rõ
những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách phát triển cán bô công chức
cấp xã.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng việc thực hiện chính sách phát triển cán bô,
công chức cấp xã ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, chỉ ra những thành công,
hạn chế và những nguyên nhân của thành công, hạn chế trong quá trình thực hiện
chính sách này.
+ Đề xuất môt số giải pháp cơ bản góp phần nâng cao chất lượng thực hiện


chính sách phát triển cán bô, công chức cấp xã ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng
Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Về đối tượng: luận văn đi sâu vào quá trình thực hiện chính sách phát triển
cán bô công chức cấp xã từ thực tiễn huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (gồm các
đối tượng theo Điều 3, Nghị định 92/2009/NĐ-CP của Chính Phủ).
- Về phạm vi:
+ Không gian: Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu việc thực hiện chính sách
phát triển cán bô công chức cấp xã ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
+ Thời gian nghiên cứu: Thời gian cụ thể từ năm 2011 đến năm 2018 và đề
xuất giải pháp cho thời gian tới.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên các cơ sở phương
pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, của tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm
của Đảng và Nhà nước ta về cán bô, công chức và phát triển đôi ngũ cán bô công
chức.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng phương pháp thu thập thông

chức cấp xã.
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách phát triển cán bô, công chức cấp
xã tại huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Giải pháp thực hiện chính sách phát triển cán bô, công chức ở
huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam.


CHƯƠNG 1
CƠ SƠ LY LUẬN VÊ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ơ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của cán bộ, công chức
cấp xã
1.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã
Việt Nam đang ở trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vừa
xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hôi chủ nghĩa, vừa tiến hành xây
dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tôc. Để thực hiện tốt mục tiêu này,
một trong những nhiệm vụ trọng tâm là phải xây dựng và phát triển được đôi ngũ
cán bô, công chức môt cách đồng bô, phu hợp với những yêu cầu mới đặt ra, trong
đó có đôi ngũ cán bô, công chức cấp xã.
Quan niệm về cán bộ, công chức cấp xã:
Quan niệm về cán bô:
Từ cán bô xuất hiện trong đời sống xã hôi nước ta khoảng mấy chục năm gần
đây, được dùng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Từ đó đến nay
thuật ngữ cán bô được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, có nhiều từ điển có
khái niệm cán bô và được hiểu với nhiều nghĩa khác nhau trong từng giai đoạn lịch
sử cụ thể, nhưng tựu chung lại có thể quan niệm môt cách chung nhất: “Cán bô là
khái niệm chỉ những người có chức vụ, vai trò và cương vị nòng cốt trong môt tổ
chức, có tác đông, ảnh hưởng đến hoạt đông của tổ chức và các quan hệ trong lãnh
đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng phát triển của tổ chức” [60]
Ở Việt Nam, theo quy định của Luật Cán bô, công chức năm 2008 thì cán bô

chất công cộng”. [54]
Ở Pháp, công chức là những người được tuyển dụng hoặc bổ nhiệm vào làm
việc trong các công sở gồm các cơ quan hành chính công quyền và các tổ chức dịch
vụ công cộng do nhà nước đứng ra tổ chức từ trung ương đến địa phương. [47]
Ở Nhật Bản, công chức được phân thành hai loại chính, gồm công chức nhà
nước và công chức địa phương. Công chức nhà nước bao gồm những người được


nhận chức trong bô máy của Chính phủ trung ương, ngành tư pháp, quốc hôi,
trường công và các bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và đơn vị sự nghiệp quốc doanh
được lĩnh lương từ ngân sách nhà nước. Công chức địa phương là những người làm
việc và được lĩnh lương từ ngân sách địa phương. [44]
Ở Trung Quốc, khái niệm công chức được hiểu là những người thực hiện
nhiệm vụ trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp, trừ các nhân viên phục vụ,
bao gồm những công chức lãnh đạo và công chức nghiệp vụ. Công chức lãnh đạo là
những người được thừa hành quyền lực của nhà nước, được bổ nhiệm theo các trình
tự quy định của luật định, chịu sự điều hành của Hiến Pháp, của Điều lệ công chức
và của Luật tổ chức chính quyền các cấp. Công chức nghiệp vụ là những người thực
hiện thi hành chế đô thường nhiệm, do các cơ quan hành chính nhà nước các cấp bổ
nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức, công chức nghiệp vụ chiếm tuyệt
đại đa số trong công chức nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các
chính sách và pháp luật của Nhà nước. [47]
Nhìn chung, các quốc gia trên thế giới có nhiều điểm chung cơ bản giống
nhau đó là trong quan niệm về công chức, mặt khác do truyền thống văn hóa, xã
hôi, do đặc thu về chính trị, kinh tế của mỗi quốc gia nên cũng có những điểm riêng
khác nhau.
Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành và thường gắn liền với sự
hình thành và phát triển ngày càng hoàn thiện của nền hành chính nhà nước. Khái
niệm công chức được nêu ra lần đầu tiên trong Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950 của
Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ công hòa; Theo Điều 1, Sắc lệnh số 76/SL ngày

g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có
hoạt đông nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hôi Nông dân Việt Nam);
h) Chủ tịch Hôi Cựu chiến binh Việt Nam. [50, tr. 13]
- Cơ cấu công chức cấp xã
Theo Khoản 3, Điều 61 của Luật cán bô, công chức 2008, công chức cấp xã
có các chức danh sau đây:
a) Trưởng Công an;
b) Chỉ huy trưởng Quân sự;


c) Văn phòng - thống kê;
d) Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn)
hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã);
đ) Tài chính - kế toán;
e) Tư pháp - hô tịch;
g) Văn hóa - xã hôi.
Ngoài các chức danh theo quy định trên, cán bô công chức cấp xã còn bao
gồm cả cán bô, công chức được luân chuyển, điều đông, biệt phái về cấp xã.
- Số lượng cán bộ, công chức cấp xã
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 4 của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày
22 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ quy định chi tiết: Số lượng cán bô, công chức
cấp xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã cụ thể: cấp xã loại 1 không
quá 25 người, cấp xã loại 2 không quá 23 người, cấp xã loại 3 không quá 21 người
(bao gồm cả cán bô, công chức được luân chuyển, điều đông, biệt phái về cấp xã).
[9, tr.2]
Việc xếp loại đơn vị hành chính cấp xã thực hiện theo Nghị quyết số
1211/2016/UBTVQH ngày 25 tháng 5 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hôi
về tiêu chuẩn của đơn vị hành chính và phân loại đơn vị hành chính. [53, tr.7]
1.1.2. Đặc điểm của cán bộ, công chức cấp xã
Cán bô, công chức cấp xã là môt bô phận của đôi ngũ cán bô, công chức

Hoạt đông công vụ của cán bô, công chức cấp xã là môt hoạt đông đa dạng
và phức tạp, đòi hỏi phải thực hiện thường xuyên và chuyên nghiệp. Cấp xã là nơi
giải quyết trực tiếp các vấn đề của người dân sinh sống ngay tại địa bàn, khác với
cấp huyện, cấp tỉnh, cấp Trung ương. Quy mô quản lý cấp xã, phường, thị trấn nhỏ
hơn nhưng các vấn đề giải quyết lại phức tạp hơn, phát sinh đôt xuất hơn do mỗi
người dân sẽ có những nhu cầu về hoàn cảnh sống, các hoạt đông xã hôi là khác
nhau. Chính vì thế, đôi ngũ cán bô, công chức cấp xã phải có trình đô chuyên môn
sâu rông, lập trường chính trị vững vàng, am hiểu sâu về thực tế và có kinh nghiệm
giải quyết nhiều tình huống khác nhau một cách thống nhất và chuyên nghiệp nhất,
tạo lòng tin với người dân.


Cán bô, công chức có nhiều kinh nghiệm sống, được tích luỹ tuỳ theo lĩnh
vực mà họ hoạt đông. Bởi vì, mỗi cán bô công chức phải được đào tạo ở môt trình
đô chuyên môn nhất định, cung với vị trí làm việc của mình phụ trách trong bô máy
hành chính nhà nước.
1.1.3. Chức trách, nhiệm vụ của cán bộ, công chức cấp xã
Chức trách, nhiệm vụ của cán bộ cấp xã
Chức trách, nhiệm vụ của cán bô cấp xã được quy định tại Điều 5, Điều 6,
Điều 7, Điều 8 của Quy định tiêu chuẩn đối với cán bô, công chức xã, phường, thị
trấn (Ban hành kèm theo Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm
2004 của Bô trưởng Bô Nôi vụ) cụ thể: [5, tr.3]
Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ: là cán bô chuyên trách công tác Đảng ở Đảng
bô, chi bô (nơi chưa thành lập Đảng bô) xã, phường, thị trấn, có trách nhiệm lãnh
đạo, chỉ đạo hoạt đông thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đảng bô, chi bô, cung tập
thể đảng uỷ, chi uỷ lãnh đạo toàn diện đối với hệ thống chính trị ở cơ sở trong việc
thực hiện đường lỗi, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước trên
địa bàn xã, phường, thị trấn.
Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Đoàn Thanh niên Công
sản Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hôi Liên hiệp Phụ nữ, Chủ tịch Hôi Nông dân, Chủ tịch

Giúp Bí thư đảng bô chuẩn bị nôi dung các cuôc họp và soạn thảo dự thảo
các nghị quyết của Ban Chấp hành, của Ban Thường vụ về các mặt hoạt đông của
Đảng bô; Tổ chức kiểm tra việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp uỷ cấp trên,
của Ban Chấp hành và Ban Thường vụ; Tổ chức việc thông tin tình hình và các chủ
trương của Ban chấp hành, của Ban thường vụ cho các Uỷ viên Ban chấp hành đảng
bô và các tổ chức đảng trực thuôc.
* Nhiệm vụ của Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã, Chủ
tịch Hôi Nông dân cấp xã, Chủ tịch Hôi Liên hiệp Phụ nữ cấp xã, Chủ tịch Hôi Cựu
chiến binh câp xã, Bí thư Đoàn Thanh niên Công sản Hồ Chí Minh cấp xã:
Chuẩn bị nôi dung, triệu tập và chủ trì các kỳ họp của tổ chức mình; Cung
tập thể Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực Hôi
Nông dân, Hôi Liên hiệp Phụ nữ, Hôi Cựu chiến binh, Đoàn Thanh niên xây dựng


chương trình kế hoạch công tác của mình đồng thời hướng dẫn các mặt hoạt đông
đối với Ban Công tác Mặt trận, các chi hôi đoàn thể ở thôn, làng, ấp, bản, tổ dân
phố; Tổ chức, chỉ đạo việc học tập các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước; các chủ trương, kế hoạch, nghị quyết đối với các hôi viên,
đoàn viên của tổ chức mình phụ trách; Chỉ đạo việc lập kế hoạch kinh phí, chấp
hành, quyết toán kinh phí hoạt đông và quyết định việc phân bổ kinh phí hoạt đông
do Nhà nước cấp đối với tổ chức mình; Phối hợp với chính quyền cấp xã, các đoàn
thể cung cấp tuyên truyền, vận đông, hướng dẫn cán bô, hôi viên, đoàn viên, tổ chức
mình phụ trách, các tầng lớp nhân dân tích cự tham gia thực hiện các chương trình
kinh tế - xã hôi, quốc phòng - an ninh, tổ chức công tác hiệp thương bầu cử xây
dựng chính quyền, tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở cấp xã, phường, thị trấn và
các phong trào thi đua của tổ chức mình theo chương trình, kế hoạch, nghị quyết
của các tổ chức chính trị - xã hôi cấp trên tương đương đề ra; Chỉ đạo việc xây
dựng, ban hành các quy chế hoạt đông của BanThường vụ, Ban Chấp hành cấp cơ
sở của tổ chức mình phụ trách; chỉ đạo hoạt đông của Ban Thường vụ, Ban Chấp
hành của tổ chức mình phụ trách đảm bảo theo đúng quy chế đã xây dựng; Bám sát

các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
Lãnh đạo và điều hành công việc của Ủy ban nhân dân, các thành viên Ủy
ban nhân dân xã;
Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi
hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hôi
đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã; thực hiện các nhiệm vụ về quốc phòng, an
ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hôi, đấu tranh, phòng, chống tôi phạm và các hành
vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng; tổ chức thực hiện
các biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hô tính mạng, tự do, danh dự,
nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân; thực hiện các
biện pháp quản lý dân cư trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật;
Quản lý và tổ chức sử dụng có hiệu quả công sở, tài sản, phương tiện làm
việc và ngân sách nhà nước được giao theo quy định của pháp luật;
Giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật, tiếp công dân theo quy


định của pháp luật;
Ủy quyền cho Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã thực hiện nhiệm vụ, quyền
hạn trong phạm vi thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân;
Chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường, phòng, chống cháy, nổ;
áp dụng các biện pháp để giải quyết các công việc đôt xuất, khẩn cấp trong phòng,
chống thiên tai, dịch bệnh, an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã theo quy
định của pháp luật;
Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy
quyền. [52, tr.22]
* Nhiệm vụ của Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã:
Tổ chức quản lý, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ theo khối công việc (khối kinh
tế - tài chính, khối văn hoá - xã hôi...) của Uỷ ban nhân dân cấp xã do Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân cấp xã phân công cụ thể và những công việc do Chủ tịch Uỷ ban nhân
dân ủy quyền khi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân đi vắng. [5, tr.5]

chuyên môn, phẩm chất đạo đức, tác phòng làm việc đáp ứng được với yêu cầu
nhiệm vụ xây dựng bô máy hành chính ở cơ sở trong sạch, vững mạnh đồng thời
phát triển về kinh tế - xã hôi và phục vụ đắc lực cho nhân dân và các tổ chức.
Chính sách phát triển cán bô công chức cấp xã trong điều kiện cải cách hành
chính, xây dựng nhà nước pháp quyền, kiện toàn bô máy của chính quyền các cấp,
trong đó có bô máy chính quyền cấp cơ sở còn được hiểu là xây dựng, phát triển đội
ngũ cán bô, công chức chính quyền cơ sở chuyên nghiệp, hiện đại, phục vụ nhân
dân; góp phần quan trọng vào việc xây dựng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt
đông của bô máy chính quyền, hệ thống chính trị cơ sở; trực tiếp quyết định đến
chất lượng lãnh đạo, quản lý, hiện thực hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách và pháp luật của Nhà nước vào trong đời sống xã hội; phát huy quyền làm chủ
và nâng cao đời sống nhân dân. Việc xây dựng phát triển đôi ngũ cán bô, công chức
cơ sở phải bảo đảm tính chiến lược, đặt trong tổng thể xây dựng nền công vụ, căn
bản, đồng bô về quy hoạch, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bảo đảm
chính sách đãi ngô, cải thiện đời sống và môi trường công tác của cán bô công chức;
có hình thức, biện pháp phu hợp, với quyết tâm chính trị cao của Đảng, Nhà nước


và toàn xã hôi.
Như vậy có thể hiểu chính sách phát triển cán bô công chức cấp xã là toàn bô
các mặt hoạt động, công tác từ việc xác định mục tiêu của chính sách đến xây dựng
và thực hiện chính sách cán bô công chức, được tiến hành bởi các cơ quan, đơn vị,
các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền nhằm tạo ra môt đôi ngũ cán bô công chức cấp
xã có chất lượng, đồng bô, có số lượng và cơ cấu hợp lý, có phẩm chất đạo đức, tác
phong làm việc, năng lực công tác nhằm đáp ứng được với yêu cầu nhiệm vụ chính
trị ở cơ sở trong tình hình mới và trong từng giai đoạn cách mạng cụ thể.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng và quan tâm đến
việc xây dựng đôi ngũ cán bô công chức nói chung và cán bô công chức cấp xã nói
riêng. Đây là nhân tố quan trọng để thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là thúc đẩy phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hôi, chủ nghĩa; đẩy mạnh thực hiện công

việc làm, theo chức danh và quản lý công chức theo từng vị trí việc làm và theo hợp
đồng làm việc.
Mục tiêu của chính sách:
Xây dựng đội ngũ cán bô công chức cấp xã, đặt biệt là cán bô lãnh đạo, quản
lý ở cơ sở, có phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức, tác phong lề lối làm việc tốt,
có lối sống lành mạnh và trình đô chuyên môn, năng lực công tác giữa các thế hệ
cán bô nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
và hôi nhập kinh tế quốc tế.
Về tiêu chuẩn của đôi ngũ cán bô công chức phải được xây dựng dựa trên cơ
sở môt cơ cấu số lượng, chất lượng cán bô hợp lý. Xuất phát từ những yêu cầu
khách quan và những nhiệm vụ chính trị cụ thể tại cơ sở. Cần phải nhấn mạnh đến
các yếu tố như tuổi đời, trình đô chuyên môn, giới tính, kỹ năng công tác, nguồn
gốc xuất phát, trong đó yếu tố quan trọng nhất là yếu tố trình đô chuyên môn và kỹ
năng công tác của đôi ngũ cán bô công chức cấp xã.
1.2.2. Thực hiện chính sách phát triển đội ngũ cán bộ công chức cấp xã
Quan niệm về thực hiện chính sách
Khái niệm thực hiện chính sách:
Thực hiện chính sách (Policy Implementation) là môt giai đoạn trong quy



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status