Hoạt động giám sát của HĐND từ thực tiễn huyện quế sơn, tỉnh quảng nam - Pdf 55

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN PHƯỚC CHÂU

HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ SƠN - TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

.

HÀ NỘI, Năm 2019


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN PHƯỚC CHÂU

HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT
CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ SƠN - TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

.......................................................................... 6
1.1. Quan niệm và vai trò về giám sát và hoạt động giám sát của Hội đồng
nhân dân huyện.................................................................................................. 6
1.2. Nội dung hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện .......................
18
1.3. Các yếu tố bảo đảm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện ......
24
Chương 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG
NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN TỪ NĂM 2011 – 2016 ......................... 28
2.1. Khái quát về tổ chức bộ máy Hội đồng nhân dân huyện Quế Sơn
................. 28
2.2. Kết quả hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện Quế Sơn ......
31
2.3. Đánh giá chung về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện
Quế
Sơn ................................................................................................................... 41
Chương 3. QUAN ĐIỂM, YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM HOẠT
ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN46
3.1. Quan điểm bảo đảm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện
Quế Sơn ........................................................................................................... 46
3.2. Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm hoạt động giám sát của Hội đồng nhân
dân huyện Quế Sơn ......................................................................................... 50
KẾT LUẬN .................................................................................................... 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt

Viết đầy đủ


Văn bản quy phạm pháp luật

VKSND

Viện kiểm sát nhân dân


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Tính đại diện thông qua nghề nghiệp, vị trí công tác ...................... 29
Bảng 2.2 Bảng đại diện theo cấp hành chính .................................................. 29
Bảng 2.3 Trình độ chuyên môn và lý luận chính trị ....................................... 29
Bảng 2.4 Tuổi trung bình của các độ tuổi ....................................................... 29
Bảng 2.5 Các tổ đại biểu và số đơn vị bầu cử ................................................. 31


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Qúa trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân ở Việt Nam, việc nâng cao và
tăng cường chất lương, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước ta hiện nay
và các cấp chính quyền địa phương trong đó có HĐND các cấp là yêu cầu cấp
bách và cần thiết.
Là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí,
nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng hoạt động của HĐND
các cấp có thực quyền là một yêu cầu quan trọng nhất hiện nay. Với hai chức
năng cơ bản: Chức năng quyết định và chức năng giám sát thì giám sát có một
vị trí, vai trò rất quan trọng bảo đảm HĐND thực sự là cơ quan đại diện cho ý
chí và nguyện vọng của nhân dân, thực hiện đúng nguyên tắc quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân. HĐND hoạt động có hiệu quả hay không phụ thuộc

“Hoạt động giám sát của HĐND từ thực tiễn huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng
Nam” làm Luận văn Thạc sỹ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đề tài
Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về hoạt động giám sát của HĐND nói
chung. Các đề tài dưới nhiều góc độ đã đề cập đến các vấn đề về lý luận và
thực tiễn trong hoạt động giám sát của HĐND như: chủ thể giám sát, đối
tượng giám sát, hình thức giám sát, nhưng chủ yếu liên qua đến hoạt động
giám sát của HĐND cấp tỉnh hoặc thường trực HĐND các cấp.
Đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về
hoạt động giám sát của HĐND trên địa bàn huyện Quế Sơn với tính chất là
một đề tài độc lập, đi sâu nghiên cứu thực tiễn, để đánh giá mặt được, mặt
chưa được, từ đó đưa ra những giải pháp có giá trị thực tiễn nhằm đổi mới
và hoạt
2


động có hiệu quả hoạt động giám sát của HDND trên địa bàn huyện Quế Sơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống và làm rõ cơ sở lý luận về hoạt động giám sát của
HĐND cấp huyện nói chung và thực tiễn hoạt động giám sát của HĐND
huyện Quế Sơn, luận văn đề xuất giải pháp tăng cường hoạt động giám sát
của HĐND huyện Quế Sơn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Muốn thực hiện tốt mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ của luận văn là:
- Luận văn đi vào phân tích cơ sở lý luận về vị trí chức năng của
HĐND; làm rõ khái niệm giám sát; phân tích và làm sáng tỏ đặc điểm, nội
dung và hình thức giám sát của HĐND cấp huyện cũng như các yếu tố ảnh
hưởng và các điều kiện bảo đảm hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện.
- Làm sáng tỏ thực trạng hoạt động giám sát của HĐND huyện Quế

huyện, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống vật chất, tinh
thần cho nhân dân, hạn chế tệ quan liêu, tham nhũng, làm lành mạnh các quan
hệ xã hội.
- Góp phần giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa cơ quan quyền lực
nhà nước với cơ quan hành chính trong việc phối hợp thực hiện quyền lực nhà
nước ở địa phương.
- Đặt ra những vấn đề mới, tiếp tục nghiên cứu góp phần hoàn thiện
phương thức tổ chức và hoạt động, bảo đảm thực quyền của HĐND.
- Luận văn có giá trị làm tài liệu tham khảo, vận dụng vào hoạt động
thực tiễn của HĐND các cấp, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ
năng, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ chuyên trách trong các cơ quan chuyên
môn của HĐND.

4


7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục
(bảng, biểu....), luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân
huyện
Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân
huyện Quế Sơn từ năm 2011 - 2016
Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm hoạt động giám sát của
Hội đồng nhân dân huyện Quế Sơn.

5


Chương 1


dùng rất phổ biến và được đề cập nhiều trong các văn kiện của Đảng, Nhà
nước và các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội cũng như phổ biến trong
đời sống của chúng ta.
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về giám sát nhưng có thể hiểu
chung nhất, giám sát là theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ
chức, giữa người này với cá nhân, tổ chức, người khác trong các lĩnh vực kinh
tế - xã hội, trong thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp
luật, của Nhà nước và các quyền lợi, nghĩa vụ của công dân, tổ chức, cá
nhân... Qua đó kiến nghị phát những kết quả đạt được, xử lý đối với tổ chức,
cá nhân có hành vi sai trái. Như vậy qua nội dung trên, khái niệm giám sát
gồm các nội dung sau:
- Giám sát là theo dõi, xem xét, kiểm tra và nhận định về một việc làm
nào đó đúng hay sai với những điều đã được quy định.
- Giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định.
- Giám sát được tiến hành thường xuyên và liên tục trên cơ sở những
quy định cụ thể.
- Giám sát là hoạt động thường xuyên và có mục đích của một chủ thể
nhất định.
Qua những nội dung phân tích như đã nêu trên, chúng ta có thể nhận
thấy: Giám sát là sự quan sát, theo dõi, kiểm tra hoạt động của các chủ thể có
quyền đối với chủ thể khác để biết được đối tượng bị giám sát có thực thi
đúng, đủ theo quy định hay không và quy định về hành vi đối tượng giám sát
được làm có phù hợp với điều kiện thực tế hay không .
Trong hoạt động của bộ máy nhà nước ta, để kiểm soát đối với quyền
lực nhà nước, có nhiều hình thức khác nhau, trong đó giám sát, kiểm tra,
thanh tra là những hình thức cơ bản, trong đó:


Giám sát dùng để chỉ hoạt động của cơ quan quyền lực nhà nước, toà

giám sát là hành vi độc lập, từ bên ngoài, còn kiểm tra là hoạt động thường
xuyên từ bên trong tổ chức hành pháp.
Giám sát khác với thanh tra
Những nội dung giống nhau giữa thanh tra và giám sát là đều có hoạt
động “xem xét, đánh giá, nhận xét” nhưng khác nhau ở chỗ giám sát là sự
“chủ động theo dõi” còn thanh tra thường chỉ xem xét khi có dấu hiệu, khi
xảy ra những vụ việc vi phạm.
Việc giải quyết những tồn tại sau giám sát chủ yếu thông qua hình thức
“kiến nghị” còn đối với thanh tra là áp dụng những biện pháp xử lý cụ thể
theo quy định của pháp luật.
1.1.2. Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện
1.1.2.1. Vị trí, vai trò và chức năng của Hội đồng nhân dân huyện trong
cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước
 Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân huyện
Theo quy định của Luật tổ chức Chính quyền địa phương, HĐND là cơ
quan quyền lực nhà nước ở địa phương, do nhân dân địa phương trực tiếp bầu
ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ nhân dân ở địa phương,
chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhầ nước cấp trên.
Việc quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương thuộc quyền và
trách nhiệm của HĐND và thường trực HĐND. Trong thời gian qua, Đảng và
Nhà nước ta đã quan tâm đến việc xây dựng, củng cố và phát huy vai trò của
HĐND các cấp, trong đó có HĐND cấp huyện. Trong thời gian qua, HĐND
cấp huyện đã làm được rất nhiều việc cho dân, thể hiện ở nhiều nội dung quan


trọng mà HĐND đã quyết định, qua đó thể hiện được vai trò là cơ quan đại
biểu đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân.
HĐND huyện là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện
cho nhân dân địa phương, HĐND cấp huyện có khả năng tạo mối quan hệ
đoàn kết thống nhất tập hợp được mọi quần chúng nhân dân, động viên được

quyền quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương, thực hiện việc
giám sát sự tuân thủ pháp luật của cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội và công dân ở địa phương nhằm phát huy tiềm lực kinh tế - xã hội
của địa phương.
 Chức năng của Hội đồng nhân dân huyện
Theo quy định của pháp luật hiện hành, HĐND các cấp đều có hai chức
năng cơ bản: chức năng quyết định và chức năng giám sát.
- Chức năng quyết định
Theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015:
"HĐND quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm
năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế, xã hội,
củng cố quốc phòng an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh
thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả
nước". Để có cơ sở pháp lý cho HĐND cấp huyện thực hiện tốt chức năng
này, tại Điều 26 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương đã xác định cụ thể
nội dung những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định của HĐND
bao gồm các lĩnh vực sau đây: Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp
và pháp luật và trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, xây dựng chính quyền;
kinh tế, tài nguyên, môi trường; giáo dục mầm non, tiểu học và trung học cơ
sở, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; y tế, lao động và thực hiện chính
sách xã hội; dân tộc, tôn giáo, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.[15,tr.38]


- Chức năng giám sát
Giám sát là một trong hai chức năng cơ bản của HĐND, có mối quan
hệ và tác động qua lại với chức năng quyết định của HĐND. Để thực hiện có
hiệu quả và đúng chức năng quyết định, HĐND phải có được đầy đủ các cơ
sở cũng như những thông tin về tình hình kinh tế xã - hội của địa phương, nếu
không nắm roc các thông tin này, HĐND không thể quyết định được những
chủ trương, biện pháp phù hợp và đáp ứng nhu cầu mà cuộc sống yêu cầu. Bởi

+ Hội đồng nhân dân giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa
phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND cùng cấp; giám sát hoạt động
của Thường trực HĐND, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát
nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và Ban của HĐND cấp mình;
giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp và nghị quyết của HĐND
cấp dưới trực tiếp;
+ Thường trực HĐND giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở
địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND cùng cấp; giám sát hoạt
động của Ủy ban nhân dân, các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân
dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và HĐND
cấp dưới; giám sát quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của
HĐND cấp dưới trực tiếp; giúp HĐND thực hiện quyền giám sát theo sự phân
công của HĐND;
+ Ban của HĐND giúp HĐND giám sát hoạt động của Tòa án nhân
dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp; giám sát
hoạt động của Ủy ban nhân dân, các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp


thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; giám sát văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh
vực Ban phụ trách;
+ Tổ đại biểu HĐND giám sát việc tuân theo Hiến pháp, luật, văn bản
quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên ở địa phương và nghị
quyết của HĐND cùng cấp hoặc về vấn đề do HĐND, TTHĐND phân công;
+ Đại biểu HĐND chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thành viên khác
của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân, Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp; trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp
luật; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân ở địa
phương.
Khi thấy vấn đề cần phải giám sát, HĐND, TTHĐND, Ban của HĐND

Sau khi hoàn thành công tác giám sát, các chủ thể sẽ báo cáo về những
nội dung giám sát của mình trước các cơ quan liên quan. Các chủ thể giám sát
sẽ chịu trách nhiệm về nội dung báo cáo, các nghị quyết, kết luận và kiến nghị
sau giám sát của mình theo quy định của pháp luật và gửi đến các cơ quan
liên quan để tổ chức thực hiện các công việc sau giám sát.
1.1.3. Vai trò của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân huyện
- Đảm bảo cho HĐND thật sự là cơ quan đại diện của nhân dân, tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Hội đồng nhân dân huyện là cơ quan đại diện của nhân dân địa phương.
HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương được thành lập bằng một
cuộc bầu cử do cử tri địa phương trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc phổ thông,
bình đẳng, bỏ phiếu kín. Hoạt động của HĐND chủ yếu tại các kỳ họp thường
kỳ. Các quyết định của Hội đồng được thông qua bằng việc biểu quyết trực
tiếp từng nội dung vấn đề cụ thể. Tính chất đại diện của HĐND được thể hiện


trong việc cơ cấu đại biểu trong HĐND theo ngành, lĩnh vực cụ thể. HĐND ở
từng địa phương có một số lượng đại biểu nhất định theo quy định của pháp
luật và được cơ cấu đại diện cho người dân tộc, tỷ lệ nữ, các tổ chức chính trị,
tổ chức chính trị - xã hội, lực lượng vũ trang nhân dân và các cơ quan nhà
nước khác tại địa phương đó. Như vậy có nghĩa là, HĐND đại diện cho toàn
thể nhân dân trên địa bàn; cơ cấu thành phần trong HĐND thể hiện khối đại
đoàn kết của toàn dân sống trên địa phương đó.
- Bảo đảm cho Hiến pháp, pháp luật được tuân thủ thống nhất, nghiêm
chỉnh trên phạm vi địa phương và bảo đảm việc thực hiện các nghị quyết của
Hội đồng nhân dân
Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 quy định: Hội đồng
nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội
đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân
cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status